A. LỜI MỞ ĐẦU:
Trong thương mại dịch vụ, các hoạt động tự do hóa thương mại dịch vụ thường được
tiến hành song song cùng các hoạt động thuận lợi hóa thương mại dịch vụ. Công nhận
lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên trong lĩnh vực dịch vụ là một hoạt động thuận lợi
hóa như thế. Nó góp phần tạo điều kiện cho các nhà cung cấp dịch vụ chuyên môn nước
ngoài tiếp cận và thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ tại thị trường của quốc gia khác.
Hiện nay đã có 7 Hiệp định chuyên ngành về công nhận lẫn nhau trong thương mại
dịch vụ ASEAN. Với bài tập lần này, nhóm lựa chọn đề tài “Bình luận về hoạt động
công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ của ASEAN thông qua Thỏa thuận
ASEAN về công nhận lẫn nhau đối với dịch vụ kiến trúc 2007 dưới các góc độ:
- Chủ thể, đối tượng công nhận
- Phương thức công nhận
- Mức độ công nhận
- Vai trò của công nhận”
B. NỘI DUNG:
I. Khái quát về tự do hóa dịch vụ của ASEAN và công nhận lẫn nhau trong
thương mại dịch vụ ASEAN:
1. Tự do hóa dịch vụ của ASEAN:
Thương mại dịch vụ là khái niệm chỉ các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch
vụ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Hiệp định về thương mại dịch vụ của WTO
(GATS) thì các hoạt động thương mại dịch vụ trong phạm vi quốc tế được thực hiện
theo 4 phương thức:
- Phương thức 1 (Mode 1): Cung cấp dịch vụ qua biên giới. Đây là phương thức mà
dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của quốc gia thành viên khác. Trong phương thức
này, chỉ có bản thân dịch vụ chuyển qua biên giới còn nhà cung cấp không có mặt tại
quốc gia tiếp nhận dịch vụ.
- Phương thức 2 (Mode 2): Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài. Theo phương thức này,
người tiêu dùng dịch vụ là công dân của quốc gia thành viên sử dụng dịch vụ tại lãnh
thổ quốc gia thành viên khác.
1
- Phương thức 3 (Mode 3): Hiện diện thương mại. Phương thức này liên quan trực tiếp
đã có 5 vòng đàm phán được tổ chức với kết quả là 8 gói cam kết đã được kí kết với nội
dung ngày càng mở rộng đến tất cả các ngành và các phương thức cung cấp dịch vụ.
Cho đến nay, ASEAN cũng mới chỉ thực hiện tự do hóa trong một số lĩnh vực dịch vụ,
tuy nhiên, mức độ cam kết mở của ASEAN cao hơn những nghĩa vụ được quy định tại
GATS.
2. Công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ ASEAN:
Tại Điều 5 của Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) vào ngày 15/12/1995 đã
quy định: “Mỗi quốc gia thành viên có thể công nhận trình độ giáo dục hoặc kinh
nghiệm nhận được, các yêu cầu đã được thỏa mãn, hoặc các giấy chứng nhận hoặc giấy
phép đã được cấp tại một quốc gia thành viên khác, để sử dụng cho mục đích cấp giấy
phép hoặc giấy chứng nhận nhà cung cấp dịch vụ… trên cơ sở hiệp định hoặc thỏa
thuận với quốc gia thành viên có liên quan, hoặc có thể đơn phương công nhận”.
Như vậy, Hiệp định này đã phần nào thừa nhận ý nghĩa của việc công nhận lẫn nhau
trong thương mại dịch vụ ASEAN. Qua đó, công nhận lẫn nhau giữa các quốc gia thành
viên trong lĩnh vực dịch vụ hóa là một trong các hoạt động thuận lợi hóa thương mại
dịch vụ, từ đó tạo điều kiện cho các nhà cung cấp dịch vụ chuyên môn nước ngoài tiếp
cận và thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ tại thị trường các quốc gia khác.
Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 7 năm 2001, các nhà lãnh đạo ASEAN đã giao
nhiệm vụ cho Ủy ban điều phối dịch vụ ASEAN ( CCS) khởi động vòng đàm phán Hiệp
định về công nhận lẫn nhau ( MRA). Ủy ban điều phối dịch vụ đã thành lập một nhóm
chuyên gia đặc biệt về MRA để bắt đầu đàm phán về các thỏa công nhận lẫn nhau trong
dịch vụ. Hiện nay đã có 7 thỏa thuận công nhận lẫn nhau được ký kết, bao gồm: Thỏa
thuận khung ASEAN về công nhận lẫn nhau trong dịch vụ kế toán 2009, Thỏa thuận
ASEAN về công nhận lẫn nhau đối với hành nghề y tế 2009, Thỏa thuận ASEAN về
công nhận lẫn nhau đối với dịch vụ xây dựng 2009, Thỏa thuận ASEAN về công nhận
3
lẫn nhau đối với dịch vụ y tá 2005, Thỏa thuận ASEAN về công nhận lẫn nhau đối với
dịch vụ kiến trúc 2007 và Thỏa thuận khung ASEAN về công nhận lẫn nhau đối với
chứng chỉ đo đạc năm 2007. Ngoài ra còn có các thỏa thuận đa phương, song phương
giữa các quốc gia hay sự đơn phương công nhận từ phía quốc gia tiếp nhận.
(a) Đã hành nghề liên tục không dưới 10 năm kể từ khi tốt nghiệp, trong đó phải có 5
năm kể từ ngày được cấp chứng chỉ/đăng ký hành nghề;
(b) Đã có ít nhất hai năm đảm nhận trách nhiệm chủ trì công việc kiến trúc quan trọng;
(c) Đáp ứng yêu cầu về phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD) ở mức độ thỏa đáng theo
quy định tại nước xin đăng ký;
(d) Đáp ứng và bắt buộc tuân thủ các quy định hiện hành về đạo đức hành nghề tại nước
xin đăng ký.
+) Một Kiến trúc sư có quốc tịch của một nước thành viên ASEAN và có đủ tiêu chuẩn
và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu đã quy định tại Quy chế đánh giá có thể đăng ký để
được ghi tên vào Đăng bạ Kiến trúc sư ASEAN (AAR) và nhận danh hiệu Kiến trúc sư
ASEAN (AA). Cơ quan thẩm quyền quản lý nghề nghiệp tại mỗi quốc gia thành viên
ASEAN sẽ ủy quyền cho Ủy ban Giám sát tiếp nhận hồ sơ của các Kiến trúc sư, thực
hiện quy trình đánh giá và đăng ký cho các Kiến trúc sư ASEAN và duy trì Đăng bạ
Kiến trúc sư ASEAN. Ở Việt Nam, Bộ Xây dựng là cơ quan có thẩm quyền quản lý
nghề nghiệp này.
+) Ngoài ra, nếu một Kiến trúc sư ASEAN có nguyện vọng cung cấp các dịch vụ kiến
trúc tại một quốc gia thành viên ASEAN khác phải đủ tư cách để đăng ký với Cơ quan
thẩm quyền quản lý nghề nghiệp (PRA) của nước sở tại (là nước thành viên ASEAN có
tham gia Thỏa thuận) để được ghi danh là Kiến trúc sư nước ngoài có đăng ký (RFA);
sau khi đăng kí RFA, họ sẽ được phép làm việc tại nước sở tại nhưng cần tuân thủ luật
pháp và quy định của nước sở tại về việc hành nghề trong lĩnh vực thuộc năng lực của
mình.
5
Ở Việt Nam, một Kiến trúc sư nước ngoài có đăng ký (RFA) cần tuân theo các quy
định do Cơ quan thẩm quyền quản lý nghề nghiệp (mà ở đây là Bộ Xây dựng) ban hành.
Cơ quan thẩm quyền quản lý nghề nghiệp của nước sở tại theo luật định có trách nhiệm
đăng ký hoặc cấp chứng chỉ cho người hành nghề, đồng thời phải đảm bảo mục đích bảo
vệ sức khỏe, môi trường an toàn và lợi ích cộng đồng trong phạm vi quyền hạn của
mình, trong một số trường hợp Cơ quan này có thể đặt ra một số đánh giá bổ sung để
cho phép hành nghề độc lập. Tuy nhiên, để được đăng kí RFA thì kiến trúc sư nước
lợi ích giữa các quốc gia và có sự nhất quán chung trong việc xác định các tiêu chuẩn,
điều kiện để công nhận lẫn nhau.
- Nhận xét:
Các nước ASEAN thực hiện việc công nhận lẫn nhau thông qua phương thức
xây dựng các thỏa thuận quốc tế đa phương là hoàn toàn hợp lí bởi hai lí do đã phân
tích ở trên: thứ nhất, ASEAN là tổ chức quốc tế khu vực nên việc tất cả các quốc gia
xây dựng thỏa thuận về việc công nhận lẫn nhau sẽ tạo cơ sở pháp lí vững vàng để việc
công nhận lẫn nhau được hiện thực hóa trên thực tế; thứ hai, việc xây dựng các thỏa
thuận đa phương sẽ đạt được sự nhất trí cao giữa các quốc gia khi thỏa thuận đưa ra là
kết quả của quá trình các quốc gia trao đổi, đưa ra các ý kiến để có thể cân bằng lợi ích
của tất cả quốc gia thành viên. Đây cũng chính là ưu điểm của phương thức công nhận
này so với những phương thức công nhận còn lại ( kí kết hiệp định song phương, đơn
phương công nhận, nguyên tắc “có đi có lại”). Phạm vi của công nhận qua việc thực
hiện các phương thức còn lại nêu trên hẹp hơn (hiệp định song phương chỉ có hiệu lực
đối với hai quốc gia kí kết hay đơn phương công nhận thì chỉ là một quốc gia đơn
phương thực hiện việc công nhận cho cá nhân, tổ chức quốc gia khác thực hiện việc
7
cung ứng dịch vụ) và cũng không có được sự thống nhất ý chí chung của các quốc gia
trong việc công nhận như phương thức xây dựng điều ước đa phương.
3. Mức độ công nhận:
- Đối với công nhận lẫn nhau ta có chia thành hai mức độ sau: mức độ công nhận đầy
đủ và mức độ công nhận một phần
+) Mức độ công nhận đầy đủ: đây là trường hợp mà chủ thể có nhu cầu được cung
cấp dịch vụ được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ luôn tại quốc gia mà mình muốn cung
cấp dịch vụ khi đã có giấy phép cung cấp dịch vụ đó tại quốc gia sở tại mà không bị đưa
ra nhưng yêu cầu, kiểm tra đánh giá nào cả.
+) Mức độ công nhận một phần: đây là trường hợp mà chủ thể có nhu cầu cung
cấp dịch vụ sẽ được cấp giấy phép tại quốc gia mình có nhu cầu cung cấp dịch vụ khi đã
qua kiểm tra, đánh giá tuy nhiên thủ tục kiểm tra đánh giá là thủ tục rút gọn trên cơ sở
những hiệp định mà các quốc gia đã thỏa thuận với nhau nhằm tạo điều kiện cho các chủ
dịch vụ không trải qua một quy trình đánh giá nào cả mà mặc nhiên được công nhận khả
năng cung ứng dịch vụ của các quốc gia khác sẽ dẫn đến tình trạng nhiều nhà cung ứng
dịch vụ tràn sang các nước phát triển, cung ứng dịch vụ không tốt, gây hỗn loạn thị
trường cũng như làm những nước còn lại trong khu vực thiếu nguồn cung ứng dịch vụ.
4. Vai trò của công nhận:
- Thứ nhất, công nhận lẫn nhau trong lĩnh vực dịch vụ làm nâng cao chất lượng dịch
vụ, người cung ứng dịch vụ kiến trúc trong nước. Sở dĩ việc công nhận lẫn nhau
trong lĩnh vực dịch vụ làm nâng cao chất lượng dịch vụ kiến trúc trong nước bởi khi
những nhà cung ứng dịch vụ có năng lực từ các nước khác được thâm nhập vào thị
trường qua thủ tục công nhận sẽ làm các nhà cung ứng dịch vụ trong nước nâng cao
chất lượng dịch vụ để có thể giữ được khách hàng, duy trì hoạt động của mình khi
xuất hiện các đối thủ cạnh tranh. Dưới một góc độ khác thì sự tham gia vào thị
9
trường của các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài với trình độ chuyên môn cao sẽ tạo
cơ hội cho nhà cung ứng dịch vụ trao đổi, học hỏi kinh nghiệm.
- Thứ hai, việc công nhận lẫn nhau trong dịch vụ kiến trúc sẽ làm tăng tính cạnh tranh
của thị trường dịch vụ kiến trúc. Khi có sự tham gia của các đối thử cạnh tranh như
đã phân tích ở trên thì rõ ràng tính cạnh tranh của thị trường sẽ tăng lên đòi hỏi các
nhà cung ứng dịch vụ nội địa cũng như các nhà cung ứng được tham gia thị trường
do được công nhận phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ và qua đó đã tạo
ra vai trò thứ ba của việc công nhận.
- Thứ ba, việc công nhận lẫn nhau sẽ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong dịch
vụ kiến trúc. Do nó tạo điều kiện để các quốc gia có thể tiếp nhận, sử dụng dịch vụ
tốt kiến trúc hơn từ nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác nhau, đa dạng hóa ngành dịch
vụ kiến trúc trong nước. Qua việc trao đổi kinh nghiệm cũng như qua quá trình cạnh
tranh thì chất lương nguồn cung ứng dịch vụ sẽ được nâng cao.
- Thứ tư, thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho dịch vụ kiện trúc, kiến trúc sư được
công nhận tiếp cận với thị trường. Các thỏa thuận công nhận lẫn nhau được kí kết
nhằm công nhận chứng chỉ của các nhà cung cấp các dịch vụ nghề nghiệp đến từ các
quốc gia thành viên ASEAN. Nó tạo điều kiện cho các nhà cung cấp dịch vụ chuyên
tương tự trong lĩnh vực đào tạo và hành nghề Kiến trúc sư.
- Thứ ba, điểm yếu hiện tại là kỹ sư và kiến trúc sư Việt Nam tuy có thể đáp ứng về
mặt chuyên môn nhưng còn hạn chế về ngoại ngữ, khả năng khai thác và cập nhật
thông tin, các kỹ năng quản lý dự án, tài chính, môi trường, nguồn nhân lực, kiến
thức về pháp luật thương mại, thông lệ quốc tế Trong khi đó, các doanh nghiệp
nước ngoài, nhất là các doanh nghiệp mạnh của các nước phát triển sẽ có những tính
toán kỹ càng trong việc chọn lựa phương thức đầu tư hoạt động dịch vụ lâu dài tại
Việt Nam và chắc chắn là họ sẽ cố gắng khai thác triệt để những nhân tố, những yếu
tố, điều kiện mang lại lợi ích cho họ nhất. Cùng với sự không phân biệt trong đối xử
quốc gia, với lợi thế về trình độ quản lý, năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp và hiểu
biết thị trường, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ chiếm ưu thế trong cạnh tranh, đặc
11
biệt với mục đích làm ăn lâu dài, khả năng nguồn lực cán bộ chuyên gia Việt Nam có
chuyên môn tốt sẽ bị các doanh nghiệp nước ngoài thu hút. Tuy nhiên, do bị ràng
buộc bởi các cam kết song phương và đa phương, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ
không còn sự bảo hộ của Nhà nước thông qua các chính sách hạn chế đối với các
doanh nghiệp nước ngoài. Việc nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghề nghiệp,
nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp tư vấn xây dựng để đáp ứng yêu cầu
phát triển trong hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là vô vùng cấp bách. Theo quy
luật của nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nào không cải tiến, không nâng cao
trình độ cán bộ, không tăng cường năng lực, không nắm bắt kịp thời các thông tin
mới, không áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, không bảo đảm chất lượng sản
phẩm, chỉ trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước thì chắc chắn, trước sau cũng sẽ bị
đào thải.
Giải pháp: để khắc phục những hạn chế nêu trên, Việt Nam cần sớm ban hành Luật
kiến trúc sư đồng thời nâng cao công tác quản lí ngành xây dựng nói chung, ngành
dịch vụ kiến trúc nói riêng và thúc đẩy hoạt động đào tạo ngoại ngữ, kiến thức pháp
lí cho đội ngũ kiến trúc sư trong nước để có thể thâm nhập vào thị trường dịch vụ các
nước khác trong khối ASEAN cũng như để có đủ sức cạnh tranh với những kiến trúc
ASEAN hành nghề trên lãnh thổ Việt Nam.