Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh của việt nam - Pdf 13

ViÖn NC Th−¬ng m¹i

C¸c gi¶i ph¸p tiÕp tôc hoµn thiÖn
thÓ chÕ m«i tr−êng kinh doanh cña ViÖt Nam NguyÔn ThÞ NhiÔu 8535 HANOI - 2010

Hình 2.2. Đánh giá về môi trường kinh doanh 58
Hình 2.3. Đánh giá các yếu tố về môi trường kinh doanh của Việt
Nam
59
Hình 2.4. Những cải thiện gần đây với môi trường kinh doanh của
Việt Nam
60
Hình 2.5. Lý do mở rộng kinh doanh của doanh nghiệp 61
Hình 2.6. Những rào cản đối với hoạt động kinh doanh của DN tại
Việt Nam
67 MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG BIỂU MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ MÔI TRƯỜNG KINH
DOANH CỦA VIỆT NAM

ánh giá sơ bộ về thực trạng cải cách thể chế MTKD của
Việt Nam thời gian qua
46
2.2. Đánh giá của một số tổ chức quốc tế và trong nước về thực trạng
thể chế môi trường kinh doanh của Việt Nam hiện nay
50
2.2.1. Đánh giá của một số tổ chức quốc tế về môi trường kinh doanh của
Việt Nam hiện nay
50
2.2.2. Đánh giá của Cộng đồ
ng doanh nghiệp về môi trường kinh doanh của
Việt Nam hiện nay
58 2.3. Đánh giá chung về thực trạng thể chế môi trường kinh doanh
theo những yêu cầu xây dựng KTTT và hội nhập kinh tế quốc tế
65
2.3.1. Những yếu tố đã đáp ứng trong thể chế môi trường kinh doanh 65
2.3.2. Những yếu tố chưa đáp ứng được thể chế MTKD 66
2.3.3. Nguyên nhân và những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện thể chế môi
trường kinh doanh
67
CHƯƠNG 3
: CÁC GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ MÔI
TRƯỜNG KINH DOANH CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ TỚI NĂM 2020
70
3.1. Dự báo các nhân tố ảnh hưởng tới việc hoàn thiện thể chế môi
trường kinh doanh thời kỳ tới năm 2020
70

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA
VIỆT NAM 10
1.1.Khái niệm và nội hàm về thể chế môi trường kinh doanh 10
1.1.1. Một số khái niệm 10
1.1.2. Các yếu tố quyết định đối với hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh 13
1.2. Phương pháp luận đánh giá thể chế môi trườ
ng kinh doanh 15
1.2.1. Ý nghĩa, tầm quan trọng của thể chế MTKD 15
1.2.2. Phương pháp đánh giá sự hoàn thiện của thể chế MTKD 15
1.3. Các yêu cầu hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh của Việt Nam 25
1.3.1. Yêu cầu của xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam 25
1.3.2. Yêu cầu thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế c
ủa Việt Nam về cải thiện
môi trường kinh doanh 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỂ CHẾ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA VIỆT
NAM HIỆN NAY 36
2.1. Khái quát cải cách thể chế MTKD của Việt Nam thời gian qua 36
2.1.1. Cải cách thể chế môi MTKD theo yêu cầu của KTTT 36
2.1.2. Thực trạng cải cách thể chế MTKD của Việt Nam theo cam kết hội nhập kinh tế
quốc tế (WTO và các hiệp định khác) 46
2.1.3. Tổng hợp đánh giá sơ bộ về thực trạng cải cách thể chế MTKD của Việt Nam thời
gian qua 49
2.2. Đánh giá của một số tổ chức quốc tế và trong nước về thực trạng thể chế môi
trường kinh doanh của Việt Nam hiện nay 53
2.2.1. Đánh giá của một số tổ chức quốc tế về môi trường kinh doanh của Việt Nam hiện
nay 53
2.2.2. Đánh giá của Cộng đồng doanh nghiệp về môi trường kinh doanh của Việt Nam
hiện nay 60
2.3. Đánh giá chung về thực trạng thể chế MTKD theo những yêu cầu của xây dựng

ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 3
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ

Bảng 1.1. Thang bậc địa lý ở Việt Nam 12
Bảng 1.2. Phạm vi một số Hiệp định Thương mại Việt nam tham gia 34
Bảng 2.1. Ma trận tổng hợp quá trình các cải cách thể chế MTKD của Việt Nam thời gian từ
2001 đến nay 49
Bảng 2.2. Chỉ số ETI của Việt Nam và một số nước lựa chọn 54
theo đánh giá của HU và WEF 54


4
MỞ ĐẦU
i. Sự cần thiết của đề tài:
Hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh là yêu cầu tự thân của nền kinh
tế Việt Nam trong bối cảnh chúng ta lựa chọn con đường phát triển là xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tích cực, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế.
Cải cách kinh tế theo hướng xây dựng kinh tế thị trường, mở cửa hội
nhập kinh tế quốc tế từ hơn hai mươi năm qua đã đem đến một môi trường
kinh doanh ngày càng thuận lợi cho phát triển. Minh chứng cho điều này là
Việt Nam đã gia nhập WTO và đang là một địa chỉ đầu tư, kinh doanh hấp dẫn.
Phản ứng từ cộng đồng doanh nghiệp là tích cực. Hãng Bloomberg xếp hạng
Việt Nam đứng vị trí thứ 12 trong số 25 nền kinh tế hấ
p dẫn nhất đối với nhà
đầu tư nước ngoài năm 2010. Diễn đàn kinh tế thế giới - WEF xếp hạng năng
lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam tăng 16 bậc lên hạng 59/139 nền kinh tế
năm 2010.
Những nỗ lực của Chính phủ trong việc thể chế hoá hệ thống luật pháp
cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cải cách hành chính, tăng cường phân
cấp và thườ
ng xuyên đối thoại nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp chính
là những điểm tích cực khiến môi trường kinh doanh của Việt Nam có những
tiến bộ lớn thời gian vừa qua. Tuy nhiên, môi trường thuận lợi và hỗ trợ cho
kinh doanh ở Việt Nam vẫn chỉ đạt mức trung bình yếu trong so sánh với các
nước khác. Điều này có nghĩa là khả năng để chúng ta tận dụng cơ hội từ hội
nhập kinh tế
quốc tế và khơi dậy tiềm năng của đất nước còn hạn chế trong khi
sức ép cạnh tranh và những khó khăn thách thức đối với sự phát triển kinh tế,
đối với sự nghiệp CNH, HĐH lại gia tăng. Vì vậy, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải

về nội dung các
điều khoản trong thể chế dẫn đến vận dụng khác nhau giữa các
ngành, các địa phương.
Thứ tư, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam rất cần thu hút được
nhiều doanh nhân, doanh nghiệp nước ngoài vào kinh doanh ở thị trường trong
nước để đem đến những bổ sung về vốn, về kinh nghiệm quản lý và chuyển giao
công nghệ. Để thực hiện được
điều này, việc hoàn thiện thể chế môi trường kinh
doanh theo những chuẩn mực của kinh tế thị trường là yếu tố có tầm quan trọng
hàng đầu. Thể chế MTKD phải trở thành chuẩn mực hoạt động, trở thành cơ sở
pháp lý bảo vệ lợi ích và hoạt động kinh doanh hợp pháp của các loại hình
doanh nghiệp trong thị trường, bảo đảm cho nguyên tắc bình đẳng kinh doanh,
không phân biệt đối xử gi
ữa doanh nghiệp nước ngoài với các doanh nghiệp
trong nước, giữa doanh nghiệp Nhà nước với doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Từ những khiếm khuyết đó đòi hỏi phải nhanh chóng hoàn thiện thể chế
môi trường kinh doanh trong thể chế kinh tế thị trường nói chung. Nhận thức rõ
tầm quan trọng của việc hoàn thiện thể chế, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa
X (12/2007) của Đảng đã ra nghị quyết v
ề xây dựng thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta.
Thực hiện công văn số 24/CV-BCS ngày 23 tháng 3 năm 2009 của Ban
cán sự Đảng bộ Bộ Công Thương về việc xây dựng một số đề án để chủ động
kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chính phủ; và
Quyết định số 02/QĐ-BCSĐ ngày 05 tháng 05 nă
m 2009 của Ban Cán sự Đảng
bộ Bộ Công Thương về giao nhiêm vụ nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng
một số Đề án trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thủ tướng
Chính phủ trong năm 2009 và năm 2010, Viện Nghiên cứu thương mại triển
khai đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể

George Smolik, Athanasios, Mihalakas, Lawrence Norton.
- Nghiên cứu của WEF, các năm 2006 - 2010, "Báo cáo cạnh tranh toàn
cầu”, đánh giá và phân tích so sánh về vị thế cạnh tranh của các nền kinh tế
hàng năm theo cách cho điểm và xếp hạng về mức độ cạnh tranh chung và thuận
lợi cho kinh doanh của các quốc gia.
- Nghiên cứu của WEF, các năm 2006 - 2010, “Báo cáo v
ề Môi trường
thương mại” của các quốc gia, các khu vực và nền kinh tế toàn cầu, qua đó xếp hạng
và chấm điểm về chỉ số thuận lợi thương mại của các nền kinh tế trên thế giới.
- Ngân hàng thế giới, các năm 2006 - 2010, “Báo cáo phát triển Việt
Nam”, phân tích tác động của các cải cách thể chế tới môi trường kinh doanh
của Việt Nam và sự phát triển của các loại hình thị
trường: ngân hàng, tài chính,
thị trường lao động, thị trường đất đai và các dịch vụ hạ tầng trong bối cảnh hội
nhập, từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện môi trường kinh
doanh ở Việt Nam.
- Ngân hàng thế giới - WB/IFC, các năm 2006-2010, “Báo cáo môi
trường kinh doanh”, đánh giá và xếp loại mức độ thuận lợi cho kinh doanh của
các nền kinh tế được lựa chọn trên thế giới theo 10 nhóm tiêu chí.
b/ Tình hình nghiên cứ
u trong nước: Kể từ khi Việt Nam bắt đầu công
cuộc đổi mới (1986), cải cách thể chế môi trường kinh doanh theo cơ chế kinh tế
thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đã được rất nhiều cơ quan và các học giả
trong nước quan tâm nghiên cứu. Sau đây là một số nghiên cứu điển hình:
- Nguyễn Văn Nam, 2003, Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở Vi
ệt Nam trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội, đã phân tích mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế
- Đinh Văn Ân, 2007, Thực trạng xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu các
yếu tố cấu thành thể chế kinh tế thị tr
ường, tác giả đã khái quát những thành
công và hạn chế của quá trình hình thành và hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong những năm gần đây trên các
phương diện chủ yếu: hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế; đổi mới, sắp xếp lại
các DNNN; đổi mới thể chế nhằm đẩy mạnh phát triển các loại hình doanh
nghiệp thuộc m
ọi thành phần; cải cách hành chính; xây dựng và phát triển các
loại thị trường yếu tố sản xuất.
- Nguyễn Xuân Trình, Lê Xuân Sang, 2007, Điều chỉnh chính sách tài
khoá và trợ cấp sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới: Cơ sở lý luận,
kinh nghiệm quốc tế và định hướng cho Việt Nam, NXB Tài chính, Hà Nội, đã
phân tích những tác động của việc Việt Nam thực hiện các cam kết gia nhập
WTO đến các vấn
đề tài khoá như chính sách thuế, ngân sách, hỗ trợ, trợ cấp.
- Lê Danh Vĩnh, 2008, Hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh thực
thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế đã hệ thống lý luận và phân tích thực
trạng, cập nhật số liệu tình hình về thể chế MTKD của Việt Nam đến năm 2008 8
đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp chung và cụ thể nhàm hoàn thiện thể chế
MTKD của Việt Nam những năm tới. Đây là đề tài có giá trị kế thừa quan trọng
cho việc triển khai thực hiện đề tài này. Tuy nhiên, có sự khác biệt và những
điểm mới khiến cho việc thực hiện đề tài trở nên cấp thiết và đã được giao thực
hiện tại Quyết định s
ố 02/QĐ-BCSĐ: Một là xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của
thực tế là không chỉ có Việt Nam nỗ lực hoàn thiện thể chế MTKD mà các nước

Hệ thống hóa lý luận về
thể chế MTKD, cập nhật hóa các đánh giá về thể
chế MTKD theo các tổ chức quốc tế và trong nước, trên cơ sở đó xác định
những vấn đề lớn đặt ra, cụ thể hóa các giải pháp và kiến nghị đề xuất nhằm
hoàn thiện thể chế MTKD của Việt Nam.
Các nhiệm vụ cụ thể:
(1). Hệ thống hóa lý luận về thể chế MTKD của Việt Nam.
(2). Cập nhật hóa đánh giá về thể chế môi trường kinh doanh của Việt
Nam theo các tiêu chí của các tổ chức quốc tế và trong nước. 9
(3). Nghiên cứu, cụ thể hóa các giải pháp chung và giải pháp cụ thể nhằm
hoàn thiện thể chế MTKD của Việt Nam trong giai đoạn tới năm 2015, định
hướng đến 2020.
iv. Đối tượng và phạm vi của đề tài:
* Đối tượng đề tài: Thể chế môi trường kinh doanh của Việt Nam.
* Phạm vi đề tài:
Về nội dung: Đề tài sẽ đi sâu hệ thống hóa lý luận, cập nhật hóa th
ực tiễn
và cụ thể hóa các giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế MTKD của Việt Nam; trong
đó tập trung chủ yếu vào việc cụ thể hóa các giải pháp chung nhằm hoàn thiện thể
chế của từng yếu tố MTKD, đặc biệt là yếu tố môi trường pháp lý, điều kiện cơ sở
hạ tầng và nguồn nhân lực; Các giải pháp cụ thể sẽ được đề xuất để kh
ắc phục
những vấn đề thời sự của thể chế MTKD hiện nay.
Phạm vi không gian: tập trung phân tích thể chế môi trường kinh doanh
của Việt Nam và của các tỉnh/thành phố có kết hợp so sánh với một số quốc gia
lựa chọn.
Phạm vi thời gian: Đánh giá hiện trạng từ năm 2001 đến nay và giải pháp

khổ trật tự cho các quan hệ của con người, định vị cơ chế thực thi và giới hạn
của các quan hệ giữa các bên tham gia tương tác; thể chế là ý chí chung của
cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, những quy tắc, những ràng buộc và
các chuẩn mực, giá trị chung được mọi người chia sẻ.
Thể chế là những nguyên tắc xác lập mối quan hệ giữa xã hội và các thành
viên trong xã hội và thể chế ngày càng được nhìn nhận như là yếu tố chính quyết
định sự phát triển lâu dài của một quốc gia
1
.
Môi trường thể chế được định nghĩa là khung khổ hành chính và pháp lý
điều chỉnh hành vi và các mối quan hệ giữa Chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân
nhằm tạo ra thu nhập và của cải của một nền kinh tế (WEF-The Global
Competitiveness Report 2009/2010).
Thể chế kinh tế là một hệ thống bao gồm các quy định về kinh tế của nhà
nước và các quy tắc xã hội được Nhà nước công nhận; hệ thống các chủ thể thực
hiện các ho
ạt động kinh tế; và các cơ chế, phương pháp, thủ tục thực hiện các
quy định và vận hành bộ máy đó.
Thể chế kinh tế liên quan tới mọi công đoạn của hoạt động kinh tế, từ việc
phân bổ nguồn lực của nền kinh tế cho tới quá trình phân bổ đầu ra của các hoạt
động kinh tế. Thể chế kinh tế là hệ thống các qui phạm pháp luật nhằm đi
ều
chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh
tế. Thể chế kinh tế bao gồm các yếu tố chủ yếu là các đạo luật, quy chế, quy tắc,
chuẩn mực về kinh tế gắn với các chế tài xử lý vi phạm, các tổ chức kinh tế, các
cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, truyền thống văn hoá và văn minh kinh
doanh, cơ chế vận hành kinh tế. Trong Báo cáo Phát triển của Ngân hàng Th
ế
giới (2002), thể chế kinh tế có thể được hình thành bởi Nhà nước, các tổ chức
kinh tế (cộng đồng hay tư nhân) và thậm chí còn bởi các tổ chức quốc tế (đối với

hội cũng như để đối mặt với những thách thức từ môi trường bên ngoài.
Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu hiện tại định nghĩa môi trường kinh
doanh chỉ bao gồm những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp. Robin Wood (2000)
cho rằng, môi trường kinh doanh là một tập hợ
p các yếu tố chính trị, kinh tế, xã
hội, công nghệ và được gọi là phân tích PEST (Political, Economic, Socio-
cultural, Technology) hoặc STEP (Social, Technological, Political, Economic).
Những yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát và có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt
động của doanh nghiệp. Mở rộng thêm khái niệm của Robin Wood (2000), một
số tác giả khác phân chia thành tố môi trường theo các yếu tố xã hội, công nghệ,
kinh tế, môi trường và chính trị (STEEP: Social, Technological, Economic,
Environmental, Political) hoặc văn hóa-xã hội, chính trị-luật pháp, kinh tế,
điều
kiện tự nhiên và công nghệ (SPENT: Sociocultural, Political-legal, Economic,
Natural, Technological) … Thậm chí, một số nghiên cứu tại Việt Nam còn thu
hẹp khái niệm môi trường kinh doanh hơn nữa khi cho rằng môi trường kinh
doanh chủ yếu là các chính sách và quy định mà chính phủ áp dụng để điều tiết
các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, kể cả những hoạt động sắp xếp về
mặt tổ chức xung quanh doanh nghiệp (VCCI, 2008: 33). Porter (2008) cũng cho
rằng môi trường kinh doanh cu
ả một quốc gia là kết quả tích luỹ của các chính
sách nhà nước ở tất cả các thang bậc địa lý khác nhau. Đối với Việt Nam, các
thang bậc được tác giả đề cập đến được thể hiện trong Bảng 1.1 12
Bảng 1.1. Thang bậc địa lý ở Việt Nam
Thang bậc địa lý Thang bậc địa lý ở Việt Nam
Nền kinh tế thế giới WTO
Những khu vực kinh tế rộng hơn Châu Á

kinh doanh.
(5) Khả năng đáp ứ
ng hoạt động kinh doanh của kết cấu hạ tầng kinh
tế, xã hội.
(6) Khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực cho hoạt động quản lý và
kinh doanh.
Như vậy, môi trường kinh doanh hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các yếu
tố và điều kiện tạo nên thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, phải tạo lập một
môi trường kinh doanh thuận lợi, thông thoáng, minh bạch và bình đẳng
để cho 13
doanh nghiệp với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, được đối
xử bình đẳng phát huy hết khả năng của mình. Trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế thì môi trường kinh doanh trong nước cũng phải tương thích với môi
trường kinh doanh quốc tế. Xây dựng môi trường kinh doanh hiểu theo nghĩa
rộng cũng là xây dựng toàn bộ hệ thống thị trường, t
ừ khuôn khổ chung cho đến
thị trường của từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động, từng yếu tố, từng khâu trong
quá trình tái sản xuất xã hội.
1.1.1.3.Thể chế môi trường kinh doanh

Từ những khái niệm về thể chế và về môi trường kinh doanh nêu trên, nhóm
tác giả đề tài xin đưa ra quan niệm về thể chế môi trường kinh doanh như sau:
Thể chế môi trường kinh doanh là một hệ thống hoàn chỉnh các luật và
quy định về kinh doanh của Nhà nước và các quy tắc xã hội về kinh doanh được
Nhà nước công nhận, các cơ chế, phương pháp, thủ tục thực hiện các quy định
và vận hành hệ thống kinh doanh, các tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm soát việc
tuân thủ pháp luật và các quy định của nhà nước cũng như các quy tắc xã hội về

14
(3) Giám sát, kiểm tra việc thực thi thể chế: tổ chức bộ máy theo dõi,
giám sát việc thi hành thể chế, xử lý việc vi phạm và tranh chấp trong thực hiện
thể chế MTKD.
Hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh cũng có thể được tiến hành dựa
trên các yếu tố của chu kỳ sống của doanh nghiệp trên thị trường, theo đó:
(1) Hoàn thiện thể chế gia nhập thị trường của doanh nghiệp: bao gồm
vi
ệc hoàn thiện hệ thống pháp luật và quy định cũng như các thủ tục, chính sách
về thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh.
(2) Hoàn thiện thể chế về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên thị
trường: hệ thống luật pháp và quy định điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp
như Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, luật đất đai, xây dựng, luật thuế.
(3) Hoàn thiện th
ể chế rút lui khỏi thị trường, kết thúc vòng đời kinh
doanh của doanh nghiệp trên thị trường, trong đó đáng kể nhất là việc xây dựng
và thực thi Luật phá sản.
Suy đến cùng thì con người chính là yếu tố quyết định tới thể chế môi
trường kinh doanh. Con người với năng lực và trình độ nhất định và trong điều
kiện cụ thể nhất định sẽ đưa ra các thể chế có ch
ất lượng và hiệu quả, hiệu lực
thực thi khác nhau.
Trong điều kiện Việt Nam đang chuyển mạnh sang xây dựng cơ chế kinh
tế thị trường và hội nhập đầy đủ và sâu sắc hơn với nền kinh tế thế giới và khu
vực, vấn đề hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh sẽ được quyết định bởi
các yếu tố sau:
Thứ nhất, hoàn thi
ện khung khổ pháp luật.
Thứ hai, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm sự can thiệp của
chính phủ vào hoạt động của thị trường, đảm bảo tự do hóa rộng rãi và nâng cao

động của thị trường cũng vô cùng quan trọng: tình trạng quan liêu, can thiệp quá
mức, tham nhũng, tình trạng thiếu trung thực trong thực hiện các hợp đồng mua
sắm công, tình trạng thiếu minh bạch, công khai và sự phụ thuộc lớn của hệ
thống tư pháp có thể khiến chi phí kinh doanh trở nên đắt đỏ và cản trở phát
triển kinh tế. Minh bạch quản lý tài chính công là vô cùng quan trọng đối v
ới
môi trường kinh doanh quốc gia, đặc biệt là chất lượng quản lý tài chính công
nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô.
Mặc dù bức tranh kinh tế tập trung phản ánh lĩnh vực thể chế môi trường
kinh doanh, thể chế công ty cũng có vai trò rất quan trọng trong phát triển sản
xuất kinh doanh, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu vừa qua với sự sụp đổ
của hàng loạt công ty không thể không kể tới
nguyên nhân buông lỏng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nước để
cho thị trường tự do tung tác, cũng như sự thiếu minh bạch, trung thực trong
quản lý, điều hành công ty, việc không đảm bảo các chuẩn mực kế toán và sự
gian lận của các công ty làm mất lòng tin của người tiêu dùng và nhà đầu tư.
Sự minh bạch của thể chế công ty là không th
ể thiếu trong kinh doanh và
chúng có thể được đảm bảo thông qua một hệ thống chuẩn mực kế toán và
kiểm toán trung thực và người tiêu dùng cũng như nhà đầu tư có thể dễ dàng
tiếp cận thông tin.
Sự minh bạch của thể chế MTKD và thể chế công ty được đảm bảo thông
qua việc nâng cao trách nhiệm giải trình (accountability) của các bên hữu quan.
Vì vậy, việc nâng cao trách nhiệm giải trình theo cả hai chiều từ trên xuống và
từ d
ưới lên có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoàn thiện thể chế MTKD.
1.2.2. Phương pháp đánh giá sự hoàn thiện của thể chế MTKD
Như đã nêu ở trên, sự hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh có tác
động rất lớn tới sức cạnh tranh và sự phát triển của nền kinh tế. Trong khi đó,

phản ánh trong các khái niệm về các chỉ số môi trường kinh doanh như Chỉ số
Thuận lợ
i thương mại của Diễn đàn kinh tế thế giới - WEF, Chỉ số Môi trường
kinh doanh của Ngân hàng Thế giới WB/IFC, Chỉ số Tự do kinh tế của The
Heritage Foundation &Wall Street Journal hay Chỉ số về Năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh/thành của Đề án năng lực cạnh tranh của Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam - VCCI… Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số phương
pháp đánh giá về sự hoàn thiện th
ể chế môi trường kinh doanh của các tổ chức
trong nước và quốc tế.
1.2.2.1. Một số phương pháp đánh giá của các tổ chức quốc tế

a) Chỉ số thuận lợi thương mại (ETI) của Diễn đàn kinh tế thế giới và Đại
học Harvard:
Theo nhóm tác giả của Đại học Harvard và Diễn đàn Kinh tế Thế giới
(WEF), Chỉ số Thuận lợi thương mại - ETI là một chỉ số tổng hợp đo lường các
yếu tố, chính sách và dịch vụ tạo thuận lợi cho dòng hàng hoá tự do lưu chuyển
qua biên giới
đến nơi tiếp nhận. ETI được cấu thành từ 4 chỉ số phụ sau đây:
“Tiếp cận thị trường”: đo lường độ mở của khung khổ văn hoá và chính
sách của một nước đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước khác.
Đối với hàng hoá của nước khác đã được phép thâm nhập thị trường thì
chỉ số phụ "Quản lý hành chính tại biên giới" sẽ đ
o lường mức độ tạo thuận lợi
của thủ tục hành chính tại biên giới đối với hàng hoá đó. 17
Sau khi hoàn thành thủ tục thông quan, chỉ số phụ "Hạ tầng truyền thông
và vận tải" sẽ cho phép xem xét, đánh giá mức độ tạo thuận lợi của cơ sở hạ tầng

xuất, nhập khẩu cũng như cảm nhận chung về
tham nhũng của một quốc gia.
(6) Tính sẵn có và chất lượng của hạ tầng vận tải: Là tiêu chí đo lường
điều kiện cơ sở hạ tầng của một nước ví dụ như mật độ sân bay, tỷ lệ đường bộ,
nhất là các tuyến đường xung yếu cũng như khả năng liên kết vận chuyển,
chuyển tải, giao nhận của một qu
ốc gia.
(7) Tính sẵn có và chất lượng của dịch vụ vận tải: Là tiêu chí đo lường
khả năng cung cấp của dịch vụ giao hàng, bao gồm cả số lượng dịch vụ cung cấp
bởi các công ty vận tải, năng lực đội xe và tuyến đường vận chuyển quốc tế, lịch
trình và thời gian đảm bảo hàng đến nơi tiếp nhận, bưu chính hiệu quả và năng
lực tổng thể của ngành logistics địa phương (các nhà môi giới hải quan). 18
(8) Tính sẵn có và sử dụng công nghệ thông tin (ICTs): Do tầm quan trọng
ngày càng tăng của công nghệ thông tin và truyền thông đối với việc quản lý và
thực hiện giao nhận, tiêu chí này được dùng để đánh giá tỷ lệ phổ biến của các
công cụ mới này như điện thoại di động, internet băng thông rộng tại một nước.
(9) Môi trường quy định: Về môi trường chính sách đối với hoạt động kinh
doanh thương mạ
i và logistics, tiêu chí môi trường quy định xác định mức độ mà
chính phủ một nước, thông qua các chính sách của mình, tác động đến dòng lưu
chuyển hàng hoá qua biên giới, kể cả mức độ dễ dàng trong việc thuê lao động
nước ngoài của một nước (điều này rất quan trọng đối với các công ty xuất nhập
khẩu) và độ mở của các Hiệp định dịch vụ hàng không song biên mà nước đó
tham gia (cho biết khả năng cạnh tranh trong l
ĩnh vực vận tải hàng không) cũng
như môi trường chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài.
(10) An ninh vật lý: Môi trường an ninh của một nước có tầm quan trọng

trước khi xây dựng) và kết nối điện nước. 19
(3) Tuyển dụng và sa thải lao động: Những khó khăn khi thuê mướn và sa
thải công nhân, tập trung ở 6 yếu tố: độ khó khi thuê người, tính khắt khe của
giờ làm việc, độ khó khi sa thải lao động, độ khắt khe trong chế độ thuê lao
động, chi phí tuyển dụng (tỷ lệ so với tiền lương) và chi phí sa thải (số tuần
lương phải bồi hoàn). Để đo chỉ số này, Báo cáo Môi trường kinh doanh tập
trung chủ yếu vào các quy đị
nh đối với hợp đồng có thời hạn, độ linh hoạt của
thời gian làm việc và thủ tục sa thải lao động dôi dư.
(4) Đăng ký tài sản: Độ dễ dàng mà doanh nghiệp có thể đổi mới quyền của
mình đối với tài sản được đo lường theo các chỉ số: thủ tục (số lượng); thời gian
(ngày); chi phí (% giá trị tài sản). Ngoài ra, chỉ số này cũng phản ánh các yếu tố
nh
ư: giao dịch không chính thức, quy trình hợp thức hoá sở hữu đất đai và tài sản.
(5) Tiếp cận tín dụng: Tiêu chí này xem xét các mức độ quyền lợi theo
luật định của người vay và người cho vay (theo điểm từ 0 - 10), mức độ đầy đủ
của thông tin tín dụng (0 - 6), độ phủ của đăng ký công cộng - tính theo tỷ lệ %
số người lớn; độ phủ của đăng ký tư nhân - tính theo tỷ lệ % s
ố người lớn. Trong
đó chỉ số cao hơn thể hiện luật được xây dựng tốt hơn theo hướng mở rộng quy
mô, khả năng tiếp cận và chất lượng của thông tin từ các tổ chức đăng ký thông tin
tín dụng công cộng hoặc tư nhân.
(6) Bảo vệ nhà đầu tư: Những chỉ số dưới đây mô tả 3 khía cạnh của việc
bảo vệ các cổ
đông thiểu số: tính minh bạch của các giao dịch (Chỉ số mức độ
công khai, từ 0 đến 10), trách nhiệm cá nhân (Chỉ số mức độ trách nhiệm của
giám đốc, 0 - 10) và khả năng của các cổ đông có thể kiện giám đốc và các cán bộ

m vi nhất định, không
tính đến các yếu tố khác như vị trí địa lý gần với các thị trường lớn, chất lượng
dịch vụ hạ tầng, mức độ bảo toàn tài sản khỏi nạn trộm cướp, tính minh bạch
trong mua sắm của Chính phủ, điều kiện kinh tế vĩ mô hay mức độ vững vàng
của các thể chế. Các phương pháp, không gian và thời gian tiếp cận cũng khác
nhau cho nên sẽ
đưa đến những hạn chế nhất định. Điều này tất yếu sẽ gặp phải
những phản ứng từ các chuyên gia kinh tế của các nước, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, theo đại diện của WB, xếp hạng cao về mức độ thuận lợi cũng
có nghĩa là Chính phủ đã xây dựng được môi trường thể chế thuận lợi đối với
hoạt động kinh doanh.
c) Chỉ số tự do kinh tế - IEF của Tạp chí Phố Wall (Mỹ) và Quỹ Heritage:
Chỉ số tự do kinh tế (Index of Economic Freedom - IEF) do Tạp chí Phố
Wall (Mỹ) và Quỹ Heritage tính toán, xếp hạng cho 161 quốc gia dựa trên 50 biến
số kinh tế độc lập cũng thường được tham khảo để đánh giá môi trường kinh
doanh của các quốc gia. Báo cáo này đánh giá mức độ tự do kinh tế của các nước
dựa trên 10 tiêu chí gồm:
(1) Tự do kinh doanh.
(2) Tự
do thương mại.
(3) Tài khóa.
(4) Tự do về tiền tệ.
(5) Mức độ can thiệp của Chính phủ.
(6) Tự do về đầu tư.
(7) Tự do tài chính.
(8) Quyền sở hữu.
(9) Tự do lao động.
(10) Mức độ tham nhũng.
Thang điểm của từng tiêu chí là 100%, thang điểm cao thể hiện mức độ tự
do và sự hoàn thiện cao hơn của tiêu chí.

tất cả các loại giấy phép cần thiết để tiến hành hoạt động kinh doanh; (iii) số
giấy phép, giấy đăng ký và quyết định cần thiết để chính thức ho
ạt động; và (iv)
mức độ khó khăn theo đánh giá của doanh nghiệp để có được tất cả các giấy
đăng ký, giấy phép và quyết định chấp nhận.
(2) Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất: Đo lường về hai
khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: việc tiếp cận đất đai
có dễ dàng không và doanh nghi
ệp có thấy yên tâm và được đảm bảo về sự ổn
định khi có được mặt bằng kinh doanh hay không.
(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: Đo lường khả năng tiếp cận các
kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các văn bản
này, các chính sách và qui định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghi
ệp
và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp.
(4) Chi phí thời gian để thực hiện các qui định của Nhà nước: Đo lường
thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như
mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để
các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiể
m tra.
(5) Chi phí không chính thức: Đo lường các khoản chi phí không chính thức
mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này
gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi
phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các
cán bộ Nhà nước có sử dụng các qui định của địa phương để trục lợi hay không.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status