Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Thủ đô’’ - Pdf 13

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
PHẦN MỞ ĐẦU
Thế giới ngày nay đang đứng trước xu hướng mang tính quy luật là các
nền kinh tế của các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau, hợp tác chặt chẽ
ở phạm vi khu vực cũng như toàn cầu, biểu hiện rõ nét của xu thế này chính là
việc ra đời của các liên kết khu vực và quốc tế như ASEAN, EU,WTO...mục
tiêu là thúc đẩy tự do hoá thương mại quốc tế, giảm dần và tiến tới xoá bỏ
các hàng rào bảo hộ do các quốc gia áp đặt nhằm cản trở tự do hoá thương
mại. Có thể nói điều đó đem lại cho Việt Nam ta những cơ hội và cũng đặt ra
nhiều thách thức.
Với việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức
thương mại thế giới WTO, các ngân hàng nước ngoài sẽ mở rộng mạng lưới
hoạt động tại Việt Nam và cũng được thực hiện đầy đủ các hoạt động ngân
hàng. Với các thế mạnh về vốn, kinh nghiệm, kỹ thuật các ngân hàng nước
ngoài sẽ là những đối thủ cạnh tranh lớn của các Ngân hàng thương mại Việt
Nam trong đó có Ngân hàng NN&PTNT Thủ đô. Do vậy, để tồn tại, đứng
vững và phát triển Ngân hàng phải tìm được các giải pháp tốt nhất để tăng
cường năng lực cạnh tranh của đơn vị mình trên cả thị truờng trong và ngoài
nước.
Trước tình hình đó, Ngân hàng NN&PTNT Thủ đô đặt ra mục tiêu là
phải đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị truờng.
Trong quá trình thực tập tại Ngân hàng, được tiếp xúc trực tiếp và làm việc
với các anh chị cán bộ Ngân hàng, nhất là trong thời gian làm việc tại Phòng
kinh doanh, được nắm rõ hơn về tình hình hoạt động và nhận thức được rõ
hơn các khó khăn, hạn chế trong quá trình đầu tư nâng cao năng lực cạnh
tranh của đơn vị. Nhằm vận dụng những kiến thức đã tìm hiểu được và góp
một vài ý kiến trong quá trình đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân
hàng, em đã lựa chọn đề tài: ‘’ Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại
Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Thủ đô’’.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

xuất ra, ...tăng thêm sức lao động bao gồm cả số lượng và trình độ chuyên
môn nghiệp vụ và sức khoẻ. Đó là đầu tư.
1.2 Khái niệm về đầu tư phát triển:
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chỉ dùng vốn
trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra
những tài sản vật chất( nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ ( tri thức, kĩ
năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát
triển.
Một ví dụ về đầu tư phát triển là công ty xe bus Hà Nội vừa đầu tư mua
sắm thêm một số lượng khá lớn ô tô bus để mở rộng hoạt động phục vụ giao
thông công cộng của công ty. Tài sản cố định của công ty được tăng thêm
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đồng thời cơ sở vật chất kinh tế phục vụ giao thông công cộng của thành phố
Hà Nội cũng được tăng thêm.
2. Đặc điểm của đầu tư phát triển
2.1 Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
2.1.1 Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư
phát triển thường rất lớn. Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá
trình thực hiện đầu tư. Qui mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo
vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch
đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu
tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm. Lao động cần sử dụng cho các dự
án rất lớn, đặc biệt đối với các dự án trọng điểm quốc gia.
2.1.2 Thời kỳ đầu tư kéo dài. Thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực
hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình
đầu tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm. Do vốn lớn lại
nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả
vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập
trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ

2. Khái niệm về ngân hàng thương mại
Theo Luật Các tổ chức tín dụng của các nước CHXHCN Việt Nam: ‘’
Ngân hàng thương mại là trung gian kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu
và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Căn cứ trên phương diện những loại hình dịch vụ mà Ngân hàng cung
cấp thì ‘’Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính thực hiện chức năng
kinh doanh tiền tệ với nội dung cơ bản là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi đó để
cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán’’.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản
nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương
mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm
vào nơi khan thiếu. Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích
kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn
thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi
nhuận của ngân hàng thương mại.. Hoạt động của ngân hàng thương mại phục
vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh
nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội.
3. Các hoạt động của Ngân hàng thương mại.
3.1 Hoạt động huy động vốn
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn
tiền của ngân hàng. Ngân hàng mở các tài khoản tiền gửi để huy động được
tiền của các tổ chức, các doanh nghiệp và dân cư. Ngân hàng có rất nhiều các
hình thức huy động khác nhau để có thể tăng lượng tiền gửi của ngân hàng
mình như: tiền gửi có kì hạn của các tổ chức xã hội, tiền gủi tiết kiệm của dân
cư, nguồn tiền gửi thanh toán. Ngoài ra, ngân hàng có thể phát hành trái phiếu
hoặc đi vay từ NHNN, các tổ chức tín dụng để đảm bảo khả năng thanh
khoản, đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng khi cần thiết. Hoạt động

với mức lãi suất rất thấp. Bảo lãnh cũng góp phần mở rộng các dịch vụ khác
như kinh doanh ngoại tệ, tư vấn, thanh toán…
3.5 Thuê mua
Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa
chọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong
đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Hợp đồng cho thuê thường
phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho
thuê (thời hạn khoáng 80-90% đời sống kinh tế của tài sản). Do vậy, cho thuê
của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3.6 Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều
chuyên gia về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp nhờ
ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ ủy thác
phát triển sang cả ủy thác vay hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư… . Nhiều
khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính. Ngân
hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán,
sáp nhập doanh nghiệp.
3.7 Tài trợ các hoạt động của Chính phủ
Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ,
chính phủ buộc NHTM mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định
trên tổng lượng tiền mà ngân hàng huy động được.
- Bảo quản tài sản hộ
- Bảo lãnh
- Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
- Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn như uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho
vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư...
- Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm

cạnh trạnh.
Các loại hình cạnh tranh
Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiều
loại.
* Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường
Cạnh tranh được chia thành 3 loại.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng
hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn bán hàng hoá của mình
với gái cao nhát, còn người mua muốn muc với giá thấp nhất. Giá cả cuối
cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữ hai bên.
- Cạnh tranh giứa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh
phụ thuộc vào quan hệ cùng cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì
cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lê, người
mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá hoá mà họ cần.
- Cạnh tranh giữa những nguời bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh
nhằm giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có
lợi cho người mua. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối
sức, không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần
của mình cho các đối thủ mạnh hơn.
* Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế
Cạnh tranh được phân thành hai loại.
- Cạnh tranh trong nội bộ nghành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch
vụ. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển.
- Cạnh tranh giữa các nghành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong các nghành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất.
Trong quá trình này có sự phận bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giưã các
nghành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Vai trò của cạnh tranh
Đối với các doanh nghiệp: Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là
một trong những động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sản xuất phát triển. Nó
buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề,
cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học kỹ thuật, hoàn thiện tổ chức quản lý để
nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế. Đó chính là cạnh tranh lành
mạnh. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ,
kém phát triển.
Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt
cho người tiêu dùng. Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có
chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học,
công nghệ trong đó cao hơn...để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng. Do
đó, cạnh tranh giúp họ thoả mãn nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ, chất lượng
sản phẩm ngày càng cao cùng với mức giá cả ngày càng phù hợp với khả
năng của họ.
Đối với nền kinh tế quốc dân: Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong
nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động
lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế. Cạnh
tranh tạo điều kiện để xoá bỏ độc quyền bất hợp lý, xoá bỏ bất bình đẳng
trong kinh doanh, phát huy tính năng động, sự sáng tạo trong các doanh
nghiệp, nâng cao chất lượng đời sống xã hội, phát triển nền văn minh nhân
loại.
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không
mong muốn về mặt xã hội. Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện
sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi
cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất
chấp pháp luật. Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều
chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước.Trong xã hội, mỗi
12

và là một doanh nghiệp đặc biệt, vì thế NHTM cũng tồn tại vì mục đích cuối
cùng là lợi nhuận. Vì thế, các NHTM cũng tìm đủ mọi biện pháp để cung cấp
sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao với nhiều lợi ích cho khách hàng, với
mức giá và chi phí cạnh tranh nhất, bên cạnh sự đảm bảo về tính chính xác,
độ tin cậy và sự tiện lợi nhất nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị phần để
đạt được lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng. Do vậy, cạnh tranh trong NHTM
là cũng là sự tranh đua, giành dựt khách hàng dựa trên tất cả những khả năng
mà ngân hàng có được để đáp ứng nhu cầu của khách hàng về việc cung cấp
những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, có sự đặc trưng riêng của mình so
với các NHTM khác trên thị trường, tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợi
nhuận ngân hàng, tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế trên thương trường.
Với những đặc điểm chuyên biệt của mình, sự cạnh tranh trong lĩnh
vực ngân hàng cũng có những đặc thù nhất định:
- Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng có liên quan trực tiếp đến tất cả
các ngành, các mặt của đời sống kinh tế -xã hội. Do đó:
NHTM cần có hệ thống sản phẩm đa dạng, mạng lưới chi nhánh rộng
và liên thông với nhau để phục vụ mọi đối tượng khách hàng và ở bất kỳ vị trí
địa lý nào.
NHTM phải xây dựng được uy tín, tạo được sự tin tưởng đối với khách
hàng vì bất kỳ một sự khó khăn nào của NHTM cũng có thể dẫn đến sự suy
sụp của nhiều chủ thể có liên quan.
- Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ có
liên quan đến tiền tệ. Đây là một lĩnh vực nhạy cảm nên:
Năng lực của đội ngũ nhân viên ngân hàng là yếu tố quan trọng nhất
thể hiện chất lượng của sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Yêu cầu đối với đội ngũ
nhân viên ngân hàng là phải tạo được sự tin tưởng với khách hàng bằng kiến
thức, phong cách chuyên nghiệp, sự am hiểu nghiệp vụ, khả năng tư vấn và
đôi khi cả yếu tố hình thể.
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

khác nhau. Một công cụ quan trọng hay được vận dụng hiện nay là nâng cao
chất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp. Nhưng đối với một số ngành, thì “chất
lượng” lại có tính chất định tính hơn là định lượng và nó được xác định chủ
yếu thông qua sự kiểm định đánh giá của chính khách hàng sử dụng sản phẩm
dịch vụ đó. Vì thế, việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàm ý phải từng bước
thoả mãn cao nhất những yêu cầu, đòi hỏi từ phía khách hàng.
Đối với các NHTM để cạnh tranh bằng chất lượng phải xây dựng thật
tốt chiến lược bằng công nghệ và chiến lược nguồn nhân lực bên cạnh với
việc kết hợp chiến lược thị trường, chiến lược kinh doanh phù hợp. Chỉ có
như vậy, các sản phẩm dịch vụ mà NHTM cung ứng mới đáp ứng đúng và
đầy đủ, kịp thời nhu cầu từ phía khách hàng.
3.2 Cạnh tranh bằng giá cả
Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm, giá cả có vai trò quan trọng đối
với quyết định của khách hàng. Đối với các NHTM, giá cả chính là lãi suất và
mức phí áp dụng cho các DV cung ứng cho các KH của mình. Trong việc xác
định mức lãi suất và phí, các NHTM luôn phải đối mặt với những mâu thuẫn:
Nếu như NHTM quan tâm tới khả năng cạnh tranh để mở rộng thị phần, thì
cần phải đưa ra các mức lãi suất và phí ưu đãi cho các KH của mình, tuy
nhiên, điều này sẽ làm giảm thu nhập của NHTM, thậm chí có thể khiến NH
bị lỗ. Nhưng nếu NHTM chỉ chú trọng đến thu nhập thì phải đưa ra mức lãi
suất và phí sao cho đáp ứng được mục tiêu tăng thu nhập, tuy nhiên, điều này
có thể dẫn đến NH sẽ bị mất dẫn KH, giảm thị phần trong KD, bởi suy cho
cùng thì KH luôn quan tâm tới mục tiêu tối thượng trong KD trên thương
trường làm tối đa hoá lợi nhuận, mà để đạt được điều đó thì cần tiết giảm các
chi phí đầu vào. Điều này có nghĩa là cạnh tranh bằng giá cả đang trở thành
một biện pháp nghèo nàn nhất, vì nó làm giảm bớt lợi nhuận tiêu thu được của
các NHTM. Xuất phát từ mâu thuẫn trên, việc định giá theo đúng ngang giá
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trị thị trường sẽ cho phép các NHTM giữ được khách hàng, duy trì và phát

thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, từ năm 1980 trở lại đây, các kênh phân phối hiện
đại với ưu thế về nhiều mặt đang dần trở thành xu hướng chung. Bao gồm:
(1) Các chi nhánh tự động hoá hoàn toàn. Đặc điểm của kênh phân phối
này là hoàn toàn do máy móc thực hiện, dưới sự điều khiển của các thiết bị
điện tử. Nó có những ưu thế to lớn về chi phí giao dịch và tốc độ thực hiện
nghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của KH.
(2) Chi nhánh ít nhân viên. Chi nhánh ít nhân viên có vị trí quan trọng
trong hệ thống NH, nhất là các chi nhánh lưu động. Ưu điểm của chúng là chi
phí thấp, hoạt động linh hoạt.
(3) NH điện tử (E Banking). Phương thức phân phối này thông qua
đường điện thoại hoặc máy vi tính. Nó cung cấp cho KH rất nhiều tiện ích,
tiết kiệm chi phí và thời gian, hoạt động được ở mọi lúc, mọi nơi. Các giao
dịch được thực hiện thông qua các phương tiện giao dịch điện tử bao gồm: (i)
Máy TT tại điểm bán hàng (EFTPOS), cho phép KH thực hiện TT bằng thẻ
một cách nhanh gọn ngay tại nơi mua hàng; (ii) Máy rút tiền tự động (ATM),
hoạt động 24/24 giờ, cung cấp cho KH các DV như rút tiền mặt, chuyển
khoản, vấn tin số dư và nhiều DV khác; (iii) NH qua điện thoại (Tel
Banking), thông qua các nhân viên trực máy hoặc hộp thư thoại, KH có thể
thực hiện giao dịch dễ dàng với NH.
(4) NH qua mạng. Được chia làm 2 loại: (i) NH qua mạng nội bộ
(mạng LAN). Hệ thống này hoạt động dựa trên cơ sở KH có tài khoản tại NH,
có máy tính cá nhân nối mạng với NH và đăng ký thuê bao với NH để được
cấp mã số truy nhập và mật khẩu. KH có thể dùng máy tính của mình truy
nhập vào máy chủ của NH để thực hiện các giao dịch, tìm kiếm thông tin; (ii)
NH qua mạng internet. Đây là loại hình NH ở cấp cao hơn. KH chỉ cần có
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
máy tính cá nhân nối mạng internet là có thể giao dịch được với NH mà
không cần phải đến NH. Ngoài chức năng kiểm tra tài khoản, KH có thể sử
dụng hàng loạt DV trực tuyến khác như vay, mua hợp đồng bảo hiểm, đầu tư

được một lãi suất cao hơn; trong khi đó, những người mua SP (vay vốn) lại
muốn mình chỉ phải trả một chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế. Như vậy, NH sẽ
phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi nhuận có hiệu quả và
giữ chân được KH cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể. Điều
này đặt ra cho NH nhiều khó khăn trong định hướng cũng như phương thức
hoạt động trong tương lai.
4.1.4 Sự xuất hiện các DV mới. Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính
trung gian đe dọa lợi thế của các NHTM khi cung cấp các DV tài chính mới
cũng như các DV truyền thống vốn vẫn do các NHTM đảm nhiệm. Các trung
gian này cung cấp cho KH những SP mang tính khác biệt và tạo cho người
mua SP có cơ hội chọn lựa đa dạng hơn, thị trường NH mở rộng hơn. Điều
này tất yếu sẽ tác động làm giảm đi tốc độ phát triển của các NHTM, thị phần
suy giảm. Ngày nay, người ta cho rằng, khi các NHTM mạnh lên nhờ sự rèn
luyện trong cạnh tranh thì hệ thống NHTM sẽ mạnh hơn và có sức đàn hồi tốt
hơn sau các cú sốc của nền kinh tế.
4.2 Nhóm nhân tố chủ quan. Bên cạnh các nhân tố khách quan tác
động đến năng lực cạnh tranh của các NHTM, trên thực tế, nhóm các nhân tố
thuộc về nội tại của hệ thống NHTM cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng lực
cạnh tranh của các NH này. Chúng bao gồm: (i) Năng lực điều hành của ban
lãnh đạo NH; (ii) Quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM; (iii) Công
nghệ cung ứng DV NH; (iv) Chất lượng nhân viên NH; (v) Cấu trúc tổ chức;
(vi) Danh tiếng và uy tín của NHTM.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bên cạnh đó, đặc điểm của SP và đặc điểm của KH cũng là nhân tố
thuộc về NHTM chi phối đến khả năng cạnh tranh trong hoạt động KD của
NHTM Cụ thể:
Về đặc điểm của SP. Như trên đã chỉ ra, cạnh tranh trong hoạt động KD
của NHTM bị chi phối bởi các đặc điểm hoạt động KD của nó. SP chính sử
dụng trong hoạt động KD của NHTM là tiền, đó là loại SP có tính xã hội và

2. Nội dung đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh:
Thứ nhất, đầu tư vào lĩnh vực khoa học công nghệ. Các NHTM đẩy
mạnh ứng dụng những thành tựu công nghệ hiện đại, nhất là công nghệ thông
tin, bởi vì chỉ trên cơ sở kỹ thuật công nghệ hiện đại thì các NHTM mới có
điều kiện triển khai các loại hình DV mới, mở rộng đối tượng và phạm vi KH.
Công nghệ thông tin cho phép các NHTM nắm bắt cập nhật và đầy đủ các
thông tin từ phía KH, cho phép giảm thiểu rủi ro từ lựa chọn đối nghịch và rủi
ro đạo đức. Công nghệ hiện đại cũng cho phép các NHTM giảm chi phí, giảm
thời gian trong giao dịch, tăng độ an toàn cho KH - đây vốn là những yêu cầu
bắt buộc trong KD của các NHTM
Các Website của ngành NH được ví như trung tâm thông tin, các chi
nhánh phân phối ở mọi lúc, mọi nơi, KH có thể truy cập để tìm hiểu, lấy
thông tin về các DV cung cấp, phía NH cũng có thể tiếp cận với KH nhanh
chóng và có hiệu quả.
Thứ hai, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong hệ thống
hoạt động NH, rủi ro luôn tiềm ẩn do tất cả các khâu, các công đoạn trong KD
của NHTM đều gắn liền với sự vận động của vốn tiền tệ. Để giảm thiểu rủi ro
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thì một trong những yêu cầu bắt buộc là nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ cho tất cả các cán bộ, nhân viên trong các NHTM, không chỉ là trình độ
chuyên môn nghiệp vụ tài chính - NH, mà còn đòi hỏi nâng cao trình độ kinh
tế tổng hợp, bởi vì, có như vậy thì các NHTM mới tư vấn cho KH của mình
các định hướng đầu tư vốn hiệu quả, đồng thời qua đó mới thẩm định chính
xác các dự án đầu tư tín dụng.
Thứ ba, đầu tư nâng cao năng lực tài chính, trong đó quan trọng nhất là
vốn điều lệ. Vốn điều lệ của NHTM được xem là chiếc “đệm” để đối phó có
hiệu quả với các cú sốc từ bên ngoài, bảo đảm một sự an toàn trong KDNH.
Nếu vốn điều lệ quá thấp sẽ khiến các NHTM hoạt động luôn bị bất cập, bởi
vì sẽ bị hạn chế trong mở rộng thị phần cho vay và huy động vốn, sẽ bị hạn

Tốc độ tăng trưởng vốn bình quân phải trên 10%/năm, các NHTM đều
phải có tỷ lệ vốn tối thiểu tương ứng với tài sản sinh lời. Để đánh giá chỉ tiêu
này, thường người ta đánh giá thông qua quy mô vốn chủ sở hữu và quy mô
tài sản có của NH.
3.1.1 Khả năng sinh lời
Đánh giá chỉ tiêu này theo 02 tỷ số cơ bản:
- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA – Return on assets)
ROA = Lợi nhuận ròng/tổng tài sản bình quân * 100
Với chỉ tiêu này cho biết 01 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận, tài sản có sinh lời càng lớn thì tỷ số này càng lớn.
- Tỷ suất sinh lời trên vốn tự có (ROE – Return on Equity)
ROE = Lợi nhuận ròng/vốn tự có *100
Với chỉ số này cho biết 01 đồng vốn sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận và phản ánh hiệu quả hoạt động của NH. Hệ số càng lớn, khả năng sinh
lời càng lớn.
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3.1.2 Chất lượng tín dụng
Áp dụng tỷ lệ chung theo quyết định 112/2006/QĐ –ttg (của Thủ tướng
chính phủ về chỉ tiêu hoạt động NH giai đoạn 2006 – 2010), nợ xấu của NH là
dưới 5% trên tổng dư nợ.
3.1.3 Chỉ tiêu quản trị rủi ro
Bao gồm một số chỉ tiêu như:
- Rủi ro lãi suất = Tài sản nhạy cảm LS/nguồn vốn nhạy cảm lãi suất.
- Rủi ro vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu/ tài sản rủi ro.
- Rủi ro thanh khoản = (Tài sản thanh khoản – vốn vay)/tổng vốn huy
động.
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ vốn huy động gấp mấy lần vốn chủ sở hữu
(thường là biến động từ 15 đến 20 lần).
3.2. Năng lực hoạt động kinh doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status