TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NHỮNG BIẾN ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI
GIAI ĐOẠN 2007 – 2008 VÀ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Huyền Thƣơng
Lớp : Anh 10
Khóa : 44C
Giáo viên hƣớng dẫn : TS. Trịnh Thị Thu Hƣơng
Hà Nội, 05/ 2009
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NDT
Nhân dân tệ
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTƯ
Ngân hàng Trung ương
OECD
Organisation for Economic Co-operation and Development
- Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
OPEC
Organization of Petroleum Exporting Countries - Tổ chức
các nước xuất khẩu dầu mỏ
UNCTAD
United Nations conference on Trade and Develọpment - Hội
nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển
USD
United States Dollar - đô la Mỹ
VNĐ
Việt Nam Đồng
WTO
World Trade Organisation - Tổ chức thương mại thế giới
XNK
Xuất Nhập Khẩu MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG BIẾN ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN
2007 - 2008 4
II. ẢNH HƢỞNG CỦA NHỮNG BIẾN ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI
ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2008. 39
2.1. Ảnh hƣởng của biến động giá cả hàng hóa quốc tế đến hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu tại Việt Nam 39
2.1.1 Ảnh hưởng của giá thép 39
2.1.2. Ảnh hưởng của giá gạo 44
2.1.3. Ảnh hưởng của giá dầu 52
2.2. Ảnh hƣởng của biến động thị trƣờng tài chính tiền tệ đến hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam 57
2.2.1. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tín dụng ở Mỹ và
Châu Âu 61
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG BIẾN
ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 2007 – 2008 ĐẾN HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 64
I.DỰ BÁO BIẾN ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2009 64
1.1.Tình hình giá cả thế giới 64
1.1.1.Giá thép 64
1.1.2.Giá gạo 64
1.1.2.Giá dầu 65
1.1.2.Giá vàng Error! Bookmark not defined.
1.2.Thị trƣờng tài chính tiền tệ 661.2.1. Cuộc khủng hoảng tài chính – tín dụng ở Mỹ và Châu Âu 66
1.2.2. Diễn biến một số đồng tiền 66
2. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG BIẾN ĐỘNG
KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 2007 – 2008 ĐẾN HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 67
2.1. Giải pháp vĩ mô 67
Giá dầu thế giới tháng 1/2007 – 4/2008
21
Biểu đồ 3
Giá dầu thế giới tính từ ngày 3/12/2007 đến ngày
15/12/2008 dựa trên giá dầu kỳ hạn đóng cửa tại thị
trường New York
22
Biểu đồ 4
Diễn biến của EUR so USD
29
Biểu đồ 5
Diễn biến tỷ giá USD/EUR năm 2008
30
Biểu đồ 6
Đồ thị diễn biến đồng EUR so với 1 JPY năm 2008
31
Biểu đồ 7
Tỷ giá đồng JPY so với 1 USD năm 2007
32
Biểu đồ 8
Diễn biến đồng JPY so với 1USD năm 2008
33
Biểu đồ 9
Diễn biến lượng nhập khẩu thép năm 2007 và 10
tháng đầu năm 2008
43
Biểu đồ 10
Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam đi các thị
trường giai đoạn 2007-2008 (%)
48
thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại quốc tế WTO, nền
kinh tế Việt Nam cũng trở thành một “mắt xích” trong nền kinh tế toàn cầu.
Chính vì vậy, một sự chuyển mình của nền kinh tế thế giới cũng có thể có
những ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế nước ta. Để phản ứng tốt với các biến
động kinh tế, cần nghiên cứu các sự kiện đó, phân tích, đánh giá các ảnh
hưởng một cách cụ thể, chi tiết, dự báo được các sự kiện tương lai để đưa ra
các giải pháp hữu ích. Xuất phát từ cách tiếp cận đó, người viết đã chọn đề tài
“Những biến động kinh tế thế giới giai đoạn 2007- 2008 và ảnh hưởng đến
hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam” làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp vì nhận thức được việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết và có tính
thực tiễn cao.
2
Khóa luận “Những biến động kinh tế thế giới giai đoạn 2007 – 2008
và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam”
tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Tổng quan kinh tế thế giới năm giai đoạn 2007 - 2008 và các biến động
kinh tế thế giới nổi bật trong giai đoạn này.
- Phân tích, đánh giá ảnh hưởng của từng biến động kinh tế thế giới đến
hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của nước ta giai đoạn 2007 –
2008.
Trên cơ sở những nghiên cứu, phân tích đó, người viết đưa ra các gợi ý
giải pháp của Nhà nước cũng như của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhằm
tận dụng những tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của các
biến động kinh tế trong thời gian tới.
Khóa luận chọn các biến động kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2008
làm đối tượng nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu:
Qua đây, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành sự nhiệt tình
hướng dẫn và đóng góp ý kiến của cô giáo - TS. Trịnh Thị Thu Hương để có
thể hoàn thiện khóa luận này. Đồng thời gửi lời cảm ơn tới các cán bộ công
nhân viên Thư viện Quốc gia Hà Nội và Thư viện trường Đại học Ngoại
Thương đã cung cấp rất nhiều số liệu và tài liệu quan trọng được sử dụng
trong đề tài .
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Huyền Thƣơng
4
CHƢƠNG 1
NHỮNG BIẾN ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 2007 - 2008
I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN
2007 - 2008
1. Tình hình kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2008
Trong bối cảnh chung của nền kinh tế toàn cầu khi bước sang thiên
niên kỉ mới, giai đoạn 2007 - 2008 thực sự là cột mốc quan trọng, đánh dấu
những biến động sâu sắc. Giai đoạn này đã ghi nhận những thành quả đạt
được rất đáng khích lệ. Song cũng đặt ra bài toán hóc búa cho các nhà hoạch
định chính sách kinh tế trong việc thực thi những biện pháp nhằm vượt qua dư
chấn của cơn bão khủng hoảng và giảm nhẹ đà suy thoái.
1.1. Tình hình chung
Tăng trƣởng kinh tế:
Bảng 1: Tốc độ tăng trƣởng kinh tế
(Đơn vị: %)
Năm
2006
2007
Economic Slump Challenges Policies”, p.6 [56]
5
Theo bảng số liệu trên, năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu
đã có dấu hiệu chậm lại nhưng vẫn tiếp tục duy trì ở mức cao, đạt 5% (năm
2006 là 5,1%). Đây là năm thứ năm liên tiếp kinh tế thế giới có mức tăng
trưởng khả quan, đánh dấu giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững nhất
kể từ đầu thập niên 70 [46].
Bước sang năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế mà tâm chấn của cơn
suy thoái là kinh tế Mỹ, đã lan rộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ đồng loạt
của nhiều định chế tài chính. Các nền kinh tế lớn đã phải đối mặt với hàng
loạt khó khăn và thách thức. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm còn 3,4%; so
với năm 2007, mức tăng trưởng đã giảm xuống con số kỉ lục: 1,6%.
Bảng số liệu đã phản ánh rõ nét sự sụt giảm trong mức tăng trưởng của
hầu hết các khu vực kinh tế trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các
nền kinh tế phát triển đạt 2,6% và đạt 1,0% năm 2008, đánh dấu giai đoạn
phát triển không mấy khả quan của các quốc gia trụ cột này. Khu vực Châu
Âu cũng đã trải qua một giai đoạn khó khăn và chỉ đạt mức tăng trưởng 1,0%
trong năm 2008 (năm 2007 là 2,6%).
Trong những „„mảng màu xám xịt‟‟ của bức tranh kinh tế thế giới giai
đoạn 2007 - 2008, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển ngày càng khẳng
định được vị thế và dần trở thành động lực chính của tăng trưởng kinh tế toàn
cầu. Tại khu vực Trung Đông, mức tăng trưởng đã tăng thêm 0,1% trong năm
2008, đạt 6,1% (năm 2007 là 6,0 %). Các quốc gia đang phát triển khác ở
Châu Á cũng đạt mức tăng trưởng khả quan: 10% trong năm 2007, giảm nhẹ
còn 7,8% năm 2008, góp phần giảm nhẹ ảnh hưởng của việc tăng trưởng yếu
ở Mỹ và Châu Âu.
Xuất khẩu
Các nền kinh tế phát triển
8,4
5,9
3,1
Các nền kinh tế đang nổi và đang phát triển
11,0
9,5
5,6
Nguồn: IMF (2009), “World Economic Outlook Update: Global
Economic Slump Challenges Policies”, p.6 [56]
Số liệu ở bảng 2 đã cho thấy tốc độ tăng trưởng thương mại quốc tế
giai đoạn 2007 - 2008 giảm đáng kể so với năm trước: năm 2007 tốc độ tăng
trưởng đạt 7,2% và năm 2008 chỉ đạt 4,1%, giảm hơn một nửa so với năm
2006 (9,3%). Mức tăng trưởng trong hoạt động nhập khẩu tại các nước phát
triển năm 2007 đạt 4,5%, giảm 3% so với năm 2006 (7,5%), sụt giảm kỉ lục
và chỉ đạt 1,5% năm 2008 do chi tiêu dùng giảm mạnh. Các quốc gia đang nổi
và đang phát triển vẫn đạt mức tăng trưởng hai con số: năm 2007 đạt 14,2%
và năm 2008 là 10,4%.
Do sự tăng mạnh của giá cả hầu hết các loại hàng hóa và sự khó khăn
của nền kinh tế, mức tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn này giảm mạnh so với
năm 2006. Tăng trưởng trong hoạt động xuất khẩu tại các quốc gia phát triển
từ mức 8,4% năm 2006 đã giảm còn 5,9% năm 2007, năm 2008 chỉ đạt con số
7
8
gia và những thách thức về hạ tầng cơ sở” của UNCTAD công bố tại Giơnevơ
ngày 24/9/2008, sau 4 năm tăng liên tiếp, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) toàn cầu năm 2007 tiếp tục tăng 30%, lên đến 1.833 tỷ USD,
nhiều hơn con số kỷ lục đã được lập năm 2000 (1400 tỷ USD) khoảng hơn
400 tỷ USD, bất chấp cuộc khủng hoảng tài chính và tín dụng bắt đầu xảy ra
nửa cuối năm [58].
Luồng vốn FDI tới các nước phát triển trong năm 2007 tăng 17% đạt
hơn 1000 tỷ USD, tăng gấp ba lần so với năm 2003, tuy nhiên vẫn thấp hơn
mức đỉnh năm 2000. Mỹ tiếp tục là quốc gia thu hút nhiều FDI nhất thế giới,
ước đạt khoảng 193 tỷ USD. 25 quốc gia thành viên EU thu hút 40% tổng
luồng vốn FDI toàn cầu trong năm 2007. Còn tại Nhật Bản, các luồng vốn
thuần mà nước này tiếp nhận trong năm 2007 tăng gần 29 tỷ USD. Trong số
các nền kinh tế đang phát triển và quá độ, 3 nước và vùng lãnh thổ nhận được
nhiều FDI nhất là Trung Quốc, Liên bang Nga và Hồng Kông. Luồng vốn
FDI đổ vào Trung Quốc, vốn là quốc gia tiếp nhận FDI nhiều nhất trong các
nước đang phát triển, đã giảm nhẹ từ 69 tỷ USD năm 2006 xuống 67 tỷ USD
năm 2007, song FDI vào Đặc khu hành chính Hồng Kông lại tăng từ 43 tỷ
USD lên 54 tỷ USD. Trong khi đó, FDI đổ vào Nga tăng 70% lên 50 tỷ USD,
nhờ ngành công nghiệp năng lượng đang phát triển mạnh [1].
Tuy nhiên, do sự giảm sút của nền kinh tế toàn cầu, hoạt động FDI bắt
đầu chững lại trong năm 2008. Trong nửa đầu năm 2008, giá trị các vụ M&A
thấp hơn nửa cuối năm ngoái 29%. UNCTAD ước tính, FDI toàn cầu trong
năm 2008 đạt khoảng 1.600 tỷ USD, giảm 10% so với năm 2007 [1].
Xu hướng đầu tư ra nước ngoài nhằm tận dụng nguồn tài nguyên tại các
nước tiếp nhận đầu tư ngày càng phổ biến ở các nền kinh tế đang phát triển và
đang chuyển đổi ngày càng trở nên phổ biến. Bên cạnh đó, mặc dù chịu tác
động của cuộc khủng hoảng tài chính, các thị trường đang nổi tiếp tục trở
thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong việc đa dạng hóa đầu tư vào
Lĩnh vực khoa học công nghệ:
Giai đoạn 2007 - 2008 đã chứng kiến nhiều phát minh sáng chế được
10
ứng dụng trong các lĩnh vực công nghệ cao, tin học, công nghệ sinh học, công
nghệ vật liệu mới và y học. Lĩnh vực khoa học công nghệ ngày càng được các
quốc gia chú trọng, đầu tư cho cho nghiên cứu và triển khai (R&D) tăng
mạnh. Xu thế đầu tư, phát triển mới các trung tâm R&D (trước đây chỉ tập
trung ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản, EU ) tại nhiều nước đang
phát triển và các thị trường đang nổi như Trung Quốc, Ấn Độ… của các công
ty đa quốc gia đang trở nên phổ biến. Các quốc gia đang phát triển đang có cơ
hội tiếp cận và ứng dụng các phát minh, sáng chế, công nghệ mới từ các quốc
gia phát triển thông qua sự chuyển giao công nghệ từ hoạt động FDI.
1.2. Những khó khăn, thách thức
Quý IV năm 2007 và đặc biệt là năm 2008, nền kinh tế thế giới đã phải
đối mặt với hàng loạt những khó khăn và thách thức. Những biến động kinh tế
đã tác động tiêu cực lên mọi mặt của nền kinh tế toàn cầu. Ảnh hưởng dễ
nhận thấy nhất là thương mại toàn cầu sụt giảm, thị trường bất động sản và thị
trường chứng khoán thế giới sụt giảm mạnh. Mặt khác, cuộc khủng hoảng
trên thị trường tài chính tín dụng cũng đã “tàn phá” cả ngành công nghiệp ô
tô, hàng không, du lịch,… đưa hàng loạt “đại gia” rơi vào tình trạng phá sản.
Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng cao. Hiện tượng giá cả các mặt hàng tăng
cao đột biến và tốc độ tăng trưởng cao, luồng vốn đổ vào lớn tại nhiều khu
vực… đã khiến lạm phát gia tăng tại nhiều khu vực trên thế giới. Trong khi đó
nhiều biện phát kiềm chế lạm phát ở các nước đang phát triển tỏ ra không
hiệu quả. Tình trạng mất cân đối toàn cầu tiếp tục gây ra nhiều mối lo ngại.
Ngày 30/7/2008 đánh dấu sự thất bại của Vòng đàm phán Doha sau gần
7 năm theo đuổi (khởi động từ tháng 11/2001). Hội nghị đã đạt được sự đồng
trạng rối loạn trong thị trường tín dụng đã dẫn tới chao đảo trên các thị trường
chứng khoán ở Mỹ, chỉ số Down Jones liên tục giảm điểm. Chính phủ Liên
bang đã phải chi hàng tỷ USD (700 tỷ USD tính đến tháng 12/2008) và hàng
loạt gói cứu trợ để giải cứu nền kinh tế “trong cơn hấp hối”. Đầu năm đến
tháng 9/2008 Fed đã 8 lần cắt giảm lãi suất, lãi suất cơ bản từ mức 5,25% chỉ
còn 0,25% nhằm kích thích đầu tư và tiêu dùng cá nhân. Chi tiêu dùng và hoạt
12
động xuất nhập khẩu đều giảm mạnh, quý IV xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
giảm 23,6%, do chi tiêu dùng giảm mạnh nên nhập khẩu cũng giảm tới
17,5%. Tổng số các vụ phá sản tăng 30% (năm tài khóa 2007 là 775.344 vụ)
lên mức 1,04 triệu vụ và số lượng doanh nghiệp phá sản tăng 49% trong năm
tài khóa 2008. Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp tính tới 6/12/2008 đã lên tới 6,7%,
mức cao nhất trong vòng 15 năm qua [27]. Lạm phát năm 2007 ở mức thấp:
2,8%, giảm so với mức 3,24% năm 2006 tuy nhiên đã tăng trở lại vào năm
2008: 3,8% khi nền kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảng [59].
Bảng 3: Tỷ lệ lạm phát ở Mỹ năm 2007 và 2008
Năm
T1
T2
T3
T4
T5
T6
T7
T8
T9
T10
3,8
Nguồn: www.usinflationcalculator.com [59]
2.2. Kinh tế Nhật Bản
Nhật Bản - nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đã tăng trưởng chậm lại
trong năm 2007 nhưng vẫn tiếp tục tạo nên pha tăng trưởng kinh tế dài nhất
của nước này kể từ sau thế chiến lần thứ II, với mức tăng trưởng 2,1% (năm
2006 là 2,4%). Do nền kinh tế chìm vào suy thoái nên năm 2008 Nhật Bản đạt
mức tăng trưởng âm: - 0,3%, một mức sụt giảm kỉ lục [56].
Theo số liệu sơ bộ do văn phòng nội các Nhật Bản công bố, nền kinh tế
lớn thứ hai thế giới trong quý IV/2007 đã đạt mức tăng trưởng 3,7%, sau khi
tăng 1,1% trong quý III, chủ yếu nhờ đầu tư doanh nghiệp tăng mạnh ở mức
2,9% và xuất khẩu ròng lớn do nhu cầu rất mạnh từ Châu Á và Châu Âu. Chi
tiêu tiêu dùng, chiếm khoảng 55% tổng sản phẩm trong nước của Nhật Bản,
tăng 0,2%. Trong cùng kỳ, xuất khẩu và nhập khẩu của Nhật Bản tăng lần
13
lượt 2,9% và 0,5% [47].
Ngày 17/11/ 2008 Nhật Bản chính thức thông báo suy thoái. Xuất khẩu
trong tháng 11/2008 đã giảm 26,7% so với cùng kỳ năm ngoái, do nhu cầu
của tiêu dùng thế giới giảm. Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc - đối tác
thương mại lớn nhất của Nhật Bản, giảm 25%, mạnh nhất trong vòng 13 năm
qua. Ngoài sự sụt giảm nhu cầu tiêu dùng, các nhà xuất khẩu của Nhật Bản
còn chịu áp lực từ sự lên giá mạnh của đồng JPY. Từ đầu năm tới nay, đồng
tiền này đã tăng giá 25% so với USD, do giới đầu tư Nhật Bản ồ ạt rút vốn về
nước vì e ngại khủng hoảng ở các thị trường bên ngoài. Hậu quả của việc khu
vực kinh doanh suy thoái là tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Bộ Nội vụ Nhật Bản
ngày 26/12 cho biết, tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 11/2008 là 3,9% (2,56 triệu
người), nhiều hơn 0,2% so với tháng 10/2008. Hàng loạt biện pháp kích thích
Các nền kinh tế đang nổi ở Châu Á vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao
trong năm 2007 và 2008. Nổi bật là ba quốc gia: Trung Quốc, Ấn Độ và Nga.
Năm 2007, nền kinh tế Trung Quốc tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao
nhất trong năm năm trở lại đây: 11,9%, Ấn Độ: 9,3 %, Nga tiếp tục tăng
trưởng cao với mức tăng trưởng 8,1%, tăng 1,7 % so với năm 2006 (6,4%)
[56]. Năm 2007 GDP Trung Quốc đạt 3.280 tỷ NDT (481 tỷ USD), xếp thứ 4
thế giới, tổng kim ngạch thương mại đạt 2,175 ngàn tỷ USD, tăng 25,7 % so
với năm 2006; thặng dư thương mại là 262,2 tỷ USD, tăng 47,7% so với năm
2006 (177,5 tỷ USD)[30]. Ấn Độ vẫn tiếp tục mức tăng trưởng kinh tế thần kì
với GDP đạt 1.171 tỷ USD. Nga có dự trữ ngoại hối đạt 441,3 tỷ USD (xếp
thứ 3 thế giới sau Trung Quốc và Nhật Bản). Trong 9 tháng đầu năm 2007,
kim ngạch thương mại Nga đạt 379,6 tỷ USD, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm
2006. Theo số liệu của Cục Thống kê Liên bang Nga, tính đến ngày
1/10/2007, FDI vào Nga đạt 197,8 tỷ USD, tăng 52,2% so với năm 2006 [30].
Năm 2008, sự phát triển của kinh tế Trung Quốc vẫn được đánh giá là
khả quan nhất với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9%, Ấn Độ là 7,3% và Nga
chỉ đạt: 6,2% [56]. Tuy nhiên, các nền kinh tế vẫn không thể miễn dịch khỏi
15
“hệ lụy” của cơn bão khủng hoảng toàn cầu, do động lực chính của tăng
trưởng kinh tế là đầu tư và xuất khẩu ròng giảm mạnh vào những tháng cuối
năm. Kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc tháng 11/2008 chỉ đạt 114,99 tỷ
USD, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu của Ấn Độ
tháng 11/2008 đạt 12,8 tỷ USD, giảm 12,3% so với mức 14,6 tỷ USD của
tháng 10/2008 và giảm 6,84% so với mức 13,74 tỷ USD của tháng 9/2008
[14]. Hiện tượng giá dầu sụt giảm mạnh cùng với đó là nhu cầu xây dựng đi
xuống vào quý IV/2008 đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hai mặt hàng xuất
khẩu chiến lược của Nga là dầu mỏ và kim loại, đồng rúp liên tục trượt giá đã
mạnh. Theo số liệu của MEPS, cơ quan chuyên dự báo về thị trường thép của
Anh, giá thép thế giới tại Sở giao dịch Kim loại Luân Đôn (LME) cuối tháng
6 năm nay ở mức 1.200 USD/tấn, tăng so với 691 USD/tấn cách đó đúng 1
năm. Giá phôi thép thời điểm này cũng đã tăng hơn 40% và liên tục trong
quý III, giữ ở mức trung bình trên 1.000 USD/tấn [32].
Nguyên nhân là do giá nguyên liệu thô như quặng sắt, dầu mỏ, than
đá… tăng cao, đẩy chi phí sản xuất lên. Bên cạnh đó, nguồn cung hạn chế do
các nhà sản xuất sử dụng chiến thuật giữ lợi nhuận cao bằng cách duy trì
nguồn cung thấp trong khi triển vọng nhu cầu giảm. Ngoài ra, hoạt động tái
thiết lại các cơ sở hạ tầng bị tàn phá mạnh mẽ sau vụ động đất tại tỉnh Tứ
Xuyên của Trung Quốc - nước tiêu thụ nhiều thép nhất thế giới – đã ngốn một
khối lượng thép lớn cùng với sự suy yếu của đồng USD cũng là những lý do
đẩy giá thép tăng cao trên thị trường.
Cuối quý III và Quý IV/2008: Giá thép trên thị trường thế giới giảm
mạnh. Giá thép xây dựng, loại thép được giao dịch chủ yếu trong hợp đồng
dài hạn, giảm mạnh. Dẫn đầu về sự sụt giảm này là thị trường Châu Á với
mức sụt giảm 20% tại Trung Quốc và 12,5% tại Nhật Bản. Giá thép phế liệu,
loại thép được dùng làm nguyên liệu thô cũng giảm mạnh, sau khi tăng 80%
trong năm 2007. Tại Trung Quốc, nước tiêu thụ thép lớn nhất thế giới, trong
tháng 9/2008 giá bình quân các loại sắt, thép là: 5.670 NDT/tấn (khoảng 835
17
USD/tấn), giảm 5,9% so với tháng 8/2008 [32].
Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do dự trữ thép ở các quốc gia đạt
mức cao khiến nhu cầu giảm do giá liên tục tăng ở các tháng trước và kinh tế
toàn cầu đi xuống khiến cho các lĩnh vực tiêu thụ nhiều thép như đầu tư, xây
dựng, bất động sản và công nghiệp ô tô đều sụt giảm mạnh. Sự sụt giảm của
ngành ôtô khi hoạt động kinh doanh của hầu hết các hãng và tập đoàn sản
Đơn vị: USD/cwt
Giá gạo thô kỳ hạn tại Chicago, Mỹ năm 2008
Nguồn: Agroviet
0
5
10
15
20
25
1/15/2008
2/15/2008
3/15/2008
4/15/2008
5/15/2008
6/15/2008
7/15/2008
8/15/2008
9/15/2008
10/15/2008
11/15/2008
12/15/2008
Ngày
USD/cwt
Nguồn: Báo cáo lúa gạo năm 2008, Trang tin xúc tiến thƣơng mại - Bộ
Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhìn vào biểu đồ trên ta có thể thấy giá gạo thế giới liên tục biến động
và tăng cao nhất vào giữa tháng 4/2008 và đầu tháng 5/2008. Trong các tháng
đầu năm 2008, giá gạo kỳ hạn trên thị trường Chicago liên tiếp thiết lập các
thêm 10 USD/tấn xuống còn 520 USD/tấn vào ngày 17/12/2008. Giá gạo đã
giảm đáng kể từ tháng 7/2008, nhưng vẫn cao so với mức trước khi diễn ra
khủng hoảng, chỉ số giá gạo của FAO trong tháng 12/2008 cao hơn 28% so
với năm 2005, và cao hơn 61% so với năm 2000 [36]. Mức giá gạo trong các
ngày giữa tháng 11/2008 và các ngày đầu tháng 12/2008 chưa đến
15USD/cwt. Mức giá vào tháng 12/2008 khôi phục nhẹ do nguồn cung không
còn dồi dào như vào vụ hè thu (tháng 6/2008) và nhu cầu về lương thực tăng.
Cũng theo Tổ chức nông lương Liên Hợp Quốc FAO, có nhiều yếu tố
“nâng đỡ” và đẩy giá gạo thế giới tăng cao trong giai đoạn 2007 - 2008, bao
gồm thời tiết, cán cân cung cầu, giá dầu và nhu cầu sử dụng năng lượng sinh