Sự phát triển của mô hình tập đoàn ở Việt Nam Thực trạng và hướng phát triển - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
================
kho¸ luËn tèt nghiÖp

§Ò tµi:SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN Ở VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn thÞ thanh thóy
Líp : Anh 1 - qtkd a
Kho¸ : k44
Gi¸o viªn h-íng dÉn : ths. NG« quý nh©m


hình tập đoàn kinh tế nói chung, đồng thời đi sâu vào nghiên cứu thực trạng, xu
Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển

hướng phát triển và ưu, nhược điểm của hai mô hình tập đoàn Nhà nước và tư nhân
tại Việt Nam từ đó đưa ra định hướng và giải pháp phát triển cho mô hình tập đoàn
của nước ta trong giai đoạn sắp tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là những nội dung chủ yếu liên quan đến
sự hình thành và phát triển mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam bao gồm con
đường hình thành, mô hình, đặc điểm, cơ cấu tổ chức, xu thế phát triển…
Phạm vi nghiên cứu của Khóa luận được giới hạn trong 8 tập đoàn Nhà nước thí
điểm hiện nay và một số tập đoàn tư nhân đang hình thành theo phương thức tập
đoàn kinh tế như FPT hay Hòa Phát.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, Khóa luận đã sử dụng những phương pháp sau:
 Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết: Hệ thống hóa những vấn đề
chung về tập đoàn kinh tế, những căn cứ lý thuyết, những báo cáo nghiên cứu tổng
quát và thực tiễn hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế.
 Phương pháp phân tích số liệu định lượng: Trên cơ sở khảo sát, điều tra và
thu thập số liệu, khóa luận sử dụng phương pháp phân tích định lượng theo nhóm
vấn đề nghiên cứu nhằm phục vụ nội dung nghiên cứu và các kết luận lý thuyết.
 Phương pháp thống kê, so sánh: Sử dụng các số liệu thống kê để phân tích so
sánh, rút ra kết luận làm cơ sở đề xuất quan điểm, giải pháp thúc đẩy sự hình thành
và phát triển các tập đoàn kinh tế
5. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung Khóa luận được kết
cấu thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và sự phát triển của mô hình tập đoàn kinh tế.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động của một số tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển


Chương I: Cơ sở lý luận và sự phát triển của mô hình
tập đoàn kinh tế.
1. Tổng quan về tập đoàn kinh tế
1.1. Khái niệm tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế là một mô hình phổ biến ở các nước phát triển nhưng tại Việt
Nam đây mới chỉ là một mô hình mới hình thành và phát triển. Đã có rất nhiều
nghiên cứu tìm hiểu về mô hình này và do đó cũng nảy sinh khá nhiều quan điểm
khác nhau về khái niệm tập đoàn kinh tế. Theo một công trình nghiên cứu của công
ty Ernst & Young, không có khái niệm duy nhất cho tập đoàn kinh tế, mỗi quốc gia
có một định nghĩa khác nhau dẫn đến có nhiều cách gọi khác nhau cho tập đoàn
kinh tế. Chẳng hạn các nước Mỹ Latinh được gọi là Groups, ở ấn Độ là Business
house, ở Hàn Quốc là Chaebol, Nhật Bản là Keiretsu, phương Tây là Conglomerate,
Chaebol là thuật ngữ tiếng Hàn Quốc chỉ một liên minh gồm nhiều công ty hình
thành quanh một công ty mẹ. Các công ty thường có cổ phiếu ở các công ty khác và
thường do một gia đình điều hành. Keiretsu là thuật ngữ tiếng Nhật Bản mô tả một
tổ hợp liên kết không chặt chẽ gồm các công ty được tổ chức quanh một ngân hàng
để phục vụ lợi ích cả hai bên. Enterprise group là thuật ngữ được sử dụng trong các
quy định pháp lý nhằm chỉ một tập hợp doanh nghiệp, được hình thành hợp pháp từ
doanh nghiệp độc lập bao gồm các công ty mẹ và các công ty con trong đó công ty
mẹ chiếm cổ phần đa số ở các công ty con. Conglomerate thường được dùng ở
phương Tây để chỉ một tập hợp doanh nghiệp bề ngoài không liên quan đến nhau,
mối liên kết bên trong tùy thuộc vào các quan hệ cụ thể. Cơ cấu này giảm thiểu rủi
ro trong kinh doanh nhưng thiếu sự tập trung. Business group là từ khái quát để chỉ
tập hợp các công ty liên kết với nhau dưới các hình thức chính quy cũng như không
chính quy, không nhất thiết phải hợp thành một thực thể duy nhất.
Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển

Theo cuốn Từ điển Business English của Longman, tập đoàn kinh tế là một tổ
hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý nhưng tạo thành một tập đoàn gồm công ty

hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công
nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các
bên tham gia. Trong mô hình này, “công ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt
động của “công ty con” về tài chính và chiến lược phát triển”
Như vậy có thể thấy cho đến nay trên thế giới chưa có một khái niệm thống nhất
về tập đoàn kinh tế . Mỗi quốc gia thường đưa ra quan niệm về tập đoàn kinh tế cho
phù hợp với điều kiện cụ thể cũng như đường lối chính sách phát triển kinh tế của
quốc gia mình. Ngay cả trong mỗi quốc gia thì người ta cũng thường không pháp lý
hóa khái niệm về tập đoàn kinh tế và khái niệm này cũng có thể được thay đổi theo
chính sách phát triển trong mỗi thời kỳ.
Ở nước ta, cho đến nay tập đoàn kinh tế cũng chưa được pháp lý hóa, nhưng
phần lớn các nhà nghiên cứu để khái quát cho rằng: “Tập đoàn kinh tế là tổ hợp các
công ty hoạt động trong một hay những ngành khác nhau trong phạm vi một hay
nhiều nước, trong đó có một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động
các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển. Tập đoàn kinh tế là một
cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế
nhằm tăng cường khả năng tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa
lợi nhuận”. Luật Doanh nghiệp 2005 ở nước ta coi tập đoàn kinh tế là một trong
những hình thức của nhóm công ty – tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu
dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh
khác.
Từ những quan niệm trên đây, có thể hiểu một cách khái quát khái niệm về tập
đoàn kinh tế như sau: “Tập đoàn kinh tế là một tập hợp các chủ thể kinh tế, có mối
quan hệ sở hữu hoặc liên kết và gắn bó về lợi ích với nhau, hoạt động trong nhiều
ngành, lĩnh vực khác nhau”.
1.2. Đặc điểm chung của tập đoàn kinh tế
Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển

Mặc dù ở mỗi quốc gia khác nhau thì khái niệm, mô hình của tập đoàn kinh tế
cũng khác nhau tuy nhiên các tập đoàn đều có những đặc điểm chung nhất định

113,841.4
(Nguồn: )
Một đặc điểm dễ nhận thấy nữa của tập đoàn kinh tế là doanh thu lớn. Nhiều
tập đoàn với quy mô kinh doanh toàn cầu, chi nhánh ở hàng trăm quốc gia nên
doanh thu khổng lồ, chẳng hạn tập đoàn Exxon Mobil doanh thu năm 2008 lên tới
442.851 tỷ USD, tập đoàn Wal-Mart Stores có tổng doanh thu năm 2008 đạt 1


Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển

405.607 tỷ USD, tập đoàn PepsiCo năm 2008 doanh thu đã đạt hơn 43 tỷ USD
tương ứng trong đó lợi nhuận lên tới 6,9 tỷ USD
2
. Trong top 500 công ty hàng đầu
dựa trên doanh thu năm 2007 được tạp chí Fortune bình chọn, tập đoàn Lenovo
Group có doanh thu gần thấp nhất, đứng thứ 499 cũng có doanh thu lên tới 16,788
tỷ USD. Trong bối cảnh kinh doanh hiện đại hầu hết các tập đoàn đều kinh doanh
đa ngành, có mặt ở nhiều quốc gia với rất nhiều sản phẩm hàng hóa khác nhau.
Chính điều này đã đem lại doanh thu khổng lồ cho các tập đoàn kinh tế.
Riêng tiêu chí lợi nhuận thì không thể coi tiêu chí lợi nhuận trong ngắn hạn là
một đặc điểm cơ bản của tập đoàn. Thật vậy, thực tế đã chứng minh rằng trong nền
kinh tế bất cứ thời điểm nào việc thua lỗ luôn là chuyện bình thường và một tập
đoàn có lợi nhuận âm trong vòng vài ba năm chưa nói lên điều gì, thậm chí còn có
thể là chiến lược trong kinh doanh. Chẳng hạn tập đoàn hùng mạnh General Motors
năm 2007 bị thua lỗ 38,732 tỷ nhưng vẫn đứng thứ 9 trong danh mục 500 công ty
hàng đầu thế giới năm 2007 (do Fortune bình chọn). Tương tự tập đoàn Ford và tập
đoàn Pemex năm 2007 cũng thua lỗ với các con số tương ứng là 2,72 tỷ USD và

đa ngôn ngữ, nhiều màu da của đội ngũ lao động và cán bộ quản lý trong cơ cấu tập
đoàn. Tính đến tháng 12 năm 2008, tập đoàn PepsiCo có khoảng 185.000 lao động
ở nhiều quốc gia.
Về chất lượng, mặc dù đội ngũ lao động được phân bổ ở khắp nơi nhưng nhìn
chung trình độ khá đồng đều thông qua chương trình tuyển dụng chặt chẽ, đào tạo
và đào tạo lại rất bài bản của mỗi tập đoàn. Tính chất quốc tế hóa lao động cũng là
một điểm đáng chú ý trong hầu hết các tập đoàn hiện nay. Đội ngũ cán bộ quản lý
trong các tập đoàn là những nhân vất xuất sắc có tác động đến nhiều lĩnh vực kinh
tế xã hội. Nếu như Bill Gates ông chủ của tập đoàn quyền lực Microsoft nổi tiếng
với câu khẩu hiệu “thế giới trên bàn phím” đã làm thay đổi cách thức làm việc, thói
quen trong các giao dịch thông thường qua các sản phẩm phần mềm của mình với
khoảng 95% máy tính cá nhân trên toàn thế giới đang sử dụng thì với cái tên
McDonal’s, Raymond Kroc không chỉ biến nó thành thương hiệu đắt giá nhất trong
ngành công nghiệp ăn uống, mà hơn thế, ông đã xây dựng “văn hóa ẩm thực, phong
cách ẩm thực”, làm thay đổi phong cách ăn uống của một bộ phận lớn dân cư với
chiến lược toàn cầu hóa và đa dạng hóa sản phẩm của mình.
1.2.3 Tập đoàn không có tư cách pháp nhân, nhưng cơ câu tổ chức phức
tạp
Tập đoàn là tổ hợp kinh doanh chứa đựng trong đó các doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân nhưng bản thân chúng không có tư cách pháp nhân. Luật công ty của các
quốc gia cũng không sử dụng thuật ngữ “firm”, “enterprise group”, “business
group” hay “group” mà chỉ đăng ký là “công ty-company” (từ company trong tiếng
Anh tương đương với từ corporate trong tiếng Mỹ). Luật doanh nghiệp 2005 của
Việt Nam quan niệm tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn. Như vậy tập
đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân mà nó là một tổ hợp kinh doanh chứa
đựng trong đó nhiều công ty có tư cách pháp nhân. Do đó, ngoài những quan hệ về
Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển

vốn, thị trường, công nghệ, các công ty thành viên trong tập đoàn bình đẳng trước
pháp luật, được thành lập, đăng ký theo quy định của pháp luật, được điều chỉnh bởi

cận với sản phẩm của Coca-cola nếu như tập đoàn này không đầu tư vào Việt Nam.
Mở rộng phạm vi là chiến lược của hầu hết các tập đoàn trong môi trường cạnh
tranh khốc liệt hiện nay bởi qua đó, các tập đoàn tận dụng được lợi thế về lao động,
thị trường, tránh được hàng rào thuế quan, tìm được những thị trường giàu tiềm
năng, mở rộng thị trường cả đầu vào và đầu ra của sản phẩm với mục tiêu cao nhất
là tăng doanh số và tìm kiếm lợi nhuận cao hơn. Tập đoàn P&G có nhà máy sản
xuất tại 80 quốc gia trên thế giới với gần 400 nhãn hiệu sản phẩm được tiêu dùng
trên hơn 200 nước trên thế giới
5
. Con số này với Tập đoàn McDonald’s năm 2008
là trên 32.000 cửa hàng được phân bổ trên 120 quốc gia. Nhìn lại quá trình mở rộng
quy mô của các tập đoàn cho thấy việc đầu tư, mở rộng quy mô hoạt động, xây
dựng nhà máy, công ty ở nhiều quốc gia trên thế giới là một phương thức truyền
thống và khá hiệu quả. Nó đã khắc phục được xu hướng giảm sút lợi nhuận của các
công ty trong nước (nếu đầu tư tại chỗ, có thể xảy ra cạnh tranh, làm giảm tỷ suất
lợi nhuận trên vốn đầu tư) đồng thời củng cố vị trí của tập đoàn trên thị trường quốc
tế, tăng thị phần với mục tiêu cuối cùng là tăng lợi nhuận.
1.2.5 Tập đoàn kinh doanh đa ngành nhưng thường có một ngành chủ
lực.
Kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực là đặc điểm dễ nhận thấy trong các tập đoàn
kinh tế, đặc biệt trong giai đoạn những năm 70. Tuy nhiên thì vẫn có không ít tập
đoàn chỉ hoạt động trong một lĩnh vực hẹp nhằm khai thác lợi thế về chuyên môn,
bí quyết công nghệ mà vẫn thành công như CocaCola, Pepsi Thông thường, mỗi
tập đoàn lựa chọn những ngành chủ chốt và những ngành mũi nhọn; ngoài ra,
những lĩnh vực mạo hiểm và ngành có liên quan cũng có thể được lựa chọn đầu tư.
Cùng với những ngành sản xuất, các tập đoàn thường có các tổ chức tài chính, ngân
hàng, bảo hiểm, nghiên cứu, đào tạo… nhằm phục vụ sự phát triển của chính những
tập đoàn này. Mặc dù vậy cũng có những tập đoàn kinh doanh rất đa dạng và các
ngành không liên quan nhiều đến nhau. Tập đoàn Procter& Gamble với trên 1600


trong cơ cấu tập đoàn có nhiều chủ sở hữu nhưng thường tồn tại một chủ sở hữu lớn,
đóng vai trò công ty mẹ có quyền chi phối các công ty thành viên. Chế độ cổ phần
ra đời khắc phục được những hạn chế về quy mô vốn thông qua việc huy động vốn
trên thị trường chứng khoán. Ngày nay, sở hữu nhiều chủ diễn ra theo xu hướng
tăng số người có cổ phần trong tập đoàn và giảm tỷ trọng sở hữu của từng thành
Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển

viên trên tổng giá trị và do đó, tập đoàn không còn là chủ sở hữu của một cá nhân
hay một quốc gia mà là sở hữu quốc tế, không có quốc tịch ở một quốc gia nhất
định.
1.2.7 Hình thức liên kết đa dạng song liên kết về vốn mang tính phổ biến
Hình thức liên kết trong tập đoàn có thể là liên kết chặt chẽ, lỏng lẻo tùy thuộc
vào lĩnh vực liên kết và mức độ tham gia của các bên. Trong các quan hệ liên kết,
liên kết vốn giữa công ty mẹ và các công ty con là quan hệ cơ bản. Trong quan hệ
công ty mẹ - công ty con, quyền và mức độ chi phối của công ty mẹ với công ty con
nhận đầu tư vốn được quy định trong điều lệ của công ty con nhưng hầu hết các
công ty mẹ nắm giữ quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của công ty con. Quyền lợi
của công ty mẹ được đảm bảo bằng phần lợi nhuận thu được thông qua tỷ lệ vốn
góp.
Như vậy tập đoàn được hình thành trên cơ sở liên kết của công ty mẹ với các
công ty con trong đó công ty mẹ đóng vai trò hạt nhân. Trong trường hợp công ty
mẹ nắm giữ toàn bộ hoặc đa số cổ phần của công ty con thì đơn vị này đương nhiên
là thành viên của tập đoàn và việc tham gia hay không tham gia thành viên của tập
đoàn thuộc quyền quyết định của công ty mẹ. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một
phần vốn góp của công ty mẹ cũng được xem là thành viên của tập đoàn (liên kết
lỏng lẻo). Ngoài ra một số doanh nghiệp không có vốn góp của công ty mẹ nhưng
có các quan hệ sản xuất, kinh doanh chặt chẽ ổn định thì được xem là thành viên
liên kết không có vốn. Tuy vậy, các liên kết về vốn trong tập đoàn mang tính phổ
biến, chi phối các liên kết khác. Điều kiện đảm bảo cho những liên kết đó là sự
minh bạch của tài chính, sự phát triển đồng bộ các loại thị trường, đặc biệt là thị

 Tập đoàn kinh tế Hàn Quốc (Chaebol):
Chaebol xuất phát từ các đặc điểm hình thành, tập đoàn Hàn Quốc có sự thống
nhất cao giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh. Đây là đặc trưng nổi bật
của các tập đoàn Hàn Quốc so với các tập đoàn của các nước công nghiệp phát triển.
Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển

Do thống nhất giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh, các tập đoàn này
thiếu sự kiểm soát bên trong và bên ngoài và hầu như không lựa chọn các thành
viên hội đồng quản trị bên ngoài. Các quyết định quan trọng của tập đoàn do chủ
tịch (thường là cổ đông lớn nhất) ban hành. Cách thức điều hành và ra quyết định từ
lãnh đạo cấp cao trở nên điển hình, đồng thời hạn chế các quyết định của lãnh đạo
cấp trung và cấp thấp.
 Mô hình tập đoàn Mỹ:
Với việc phân định rõ ràng về quyền sở hữu và quyền quản lý, do đó ban giám
đốc có quyền lực lớn trong việc ra các quyết định quan trọng. Mô hình này còn
được gọi là mô hình một ban – Ban giám đốc, phụ trách các vấn đề ra quyết định,
quản lý quyết định, kiểm soát, theo dõi các quyết định, việc giám sát được thực hiện
từ bên ngoài.
 Mô hình châu Âu:
Khác với mô hình Mỹ, mô hình Châu Âu thường có hai ban: ban giám đốc và
ban kiểm soát. Mô hình này có đặc điểm nổi bật là cơ cấu tập trung (số lượng lớn cổ
phần thuộc sở hữu của các gia đình) với việc đề cao vai trò của người lao động và
ngân hàng (đại diện của người lao động) chiếm từ 1/3 đến một nửa trong ban giám
sát, đại diện của ngân hàng chiếm 1/5, những người này thường nắm giữ ban giám
sát).
1.4. Vai trò của các tập đoàn kinh tế
Vai trò của tập đoàn ngày nay thể hiện không chỉ ở quyền lực kinh tế mà còn ở
quyền lực phi kinh tế. Các tập đoàn kinh tế đang chi phối sự phát triển của kinh tế
thế giới nói chung cũng như kinh tế mỗi quốc gia nói riêng và vai trò của chúng
ngày càng trở nên quan trọng.

phương thức quản lý vốn linh hoạt, hầu hết tập đoàn kinh tế dễ dàng huy động vốn
để thực hiện chiến lược đầu tư, đồng thời cũng nhanh chóng rút vốn ở các dự án đầu
tư không hiệu quả. Bên cạnh đó, mô hình tập đoàn kinh tế còn tạo mối quan hệ chặt
chẽ giữa các công ty thành viên thông qua những hình thức liên kết đa dạng, đầu tư
vốn hay hợp tác sản xuất, qua đó phát huy hiệu quả của từng hoạt động của mỗi
công ty cũng như trong cả tập đoàn.
1.4.4 Triển khai khoa học công nghệ
Tập đoàn kinh tế còn thể hiện vai trò quan trọng trong nghiên cứu triển khai, ứng
dụng những thành tựu khoa học, chuyển hóa những kết quả nghiên cứu thành hàng hóa.
Chỉ những tập đoàn kinh tế có tiềm lực tài chính mạnh đội ngũ cán bộ khoa học hùng
hậu và trang thiết bị hiện đại mới có thể đầu tư nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng
và nhanh chóng đưa những kết quả nghiên cứu đó vào sản xuất trên một quy mô rộng
lớn. Nhìn vào sự phát triển của sản phẩm điện thoại di động hoặc máy tính cá nhân sẽ
thấy, nếu không phải là những tập đoàn hùng mạnh như Microsoft hay Nokia,
Samsung…thì rất khó có thể liên tục đưa ra các sản phẩm mới với những ứng dụng và
tiện ích luôn được cải tiến, phù hợp với nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.
1.4.5 Thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế
Các tập đoàn kinh tế với sự bành trướng rộng rãi ở khắp các khu vực trên thế
giới đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa, khu
vực hóa nền kinh tế thế giới. Với việc mở rộng quy mô, mở rộng hoạt động sản xuất
kinh doanh ra khỏi biên giới quốc gia, các tập đoàn đã tạo nên sự dịch chuyển các
nguồn lực, gia tăng đầu tư nước ngoài đồng thời thúc đẩy thương mại quốc tế.
Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển

Chính điều này đã tạo tiền đề cho các cho quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trong
khu vực cũng như trên thế giới nhằm loại bỏ rào cản kinh tế và tận dụng được sức
mạnh của các tập đoàn tại các quốc gia khác nhau. Khi năng lực sản xuất lớn, thị
trường nội địa không còn phù hợp với quy mô sản xuất thì những thị trường mới
luôn là một trong những sự lựa chọn hàng đầu để các tập đoàn kinh tế khai thác.
Trao đổi thương mại và đầu tư nước ngoài là một trong những biện pháp khai thác

Chính những biện pháp chuyển giao và trình độ công nghệ được chuyển giao đã đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật tiên tiến,
phương pháp quản lý hiện đại đối với các quốc gia tiếp nhận công nghệ, từng bước
nâng cao mặt bằng công nghệ trên phạm vi toàn cầu.
1.5. Tác động tiêu cực của các tập đoàn kinh tế
Trên thực tế ngoài một số vai trò tích cực, các tập đoàn kinh tế vẫn còn có tác
động tiêu cực đến nền kinh tế chẳng hạn như tình trạng độc quyền hay lũng đoạn thị
trường. Với tiềm lực tài chính mạnh, một số tập đoàn lớn đã liên tục mở rộng quy
mô, đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, sử dụng triệt để phương thức mua lại và
sát nhập nên đã thâu tóm được khá nhiều doanh nghiệp trong đó có cả đối thủ cạnh
tranh đồng thời cũng nắm giữ thêm được một lượng thị phần không nhỏ từ các
doanh nghiệp này. Chính điều đó đã dẫn đến tình trạng độc quyền kinh doanh, hạn
chế cạnh tranh lành mạnh và gây cản trở cho sự phát triển kinh tế thế giới. Ngoài ra,
khi có được sự độc quyền trong tay các tập đoàn lớn sẽ có đủ điều kiện, yếu tố thao
túng thị trường gây thiệt hại cho nền kinh tế.
2. Phân loại mô hình tập đoàn kinh tế
2.1. Căn cứ trình độ liên kết
2.1.1 Liên kết cứng
Liên kết cứng là loại liên kết được hình thành trên cơ sở các công ty thành viên
kết hợp chặt chẽ với nhau trong một tổ chức thống nhất và mất tính độc lập về tài
chính, sở hữu, về hình thức tổ chức cũng như về sản xuất và thương mại. Loại mô
hình tập đoàn này không chỉ hợp nhất các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản
phẩm mà cả những doanh nghiệp có liên quan với nhau về quy trình công nghệ của
Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển

sản phẩm, bổ sung cho nhau trong quá trình gia công chế biến liên tục, hoặc chế
biến lại nhằm tập trung hóa tư bản, tăng quy mô lợi nhuận và khả năng cạnh tranh.
Loại mô hình này là loại đa sở hữu theo kiểu công ty cổ phần với sự góp vốn của
nhiều chủ sở hữu khác nhau.
2.1.2 Liên kết mềm

khoảng 65% sản lượng thép của Mỹ và thống nhất hoàn toàn về giá thép, kiểm soát
tuyệt đối trên thị trường ngành thép vào những năm 20 của thế kỷ trước.
6

Hiện nay, mô hình này không còn phổ biến trong các nước tư bản phát triển do
nhu cầu của thị trường hết sức đa dạng, phong phú và biến đổi nhanh chóng nên mô
hình này khó đem lại hiệu quả cao, nguồn vốn thì tập trung vào một ngành nên
thường có rủi ro lớn. Mặt khác, mô hình này còn tạo ra sự độc quyền ngăn cản cạnh
tranh nên đã bị sự ngăn cấm và hạn chế của các Chính phủ các nước.
2.2.2 Mô hình tập đoàn theo liên kết dọc
Mô hình tập đoàn theo liên kết dọc hay còn gọi là liên kết giữa các doanh nghiệp
không cùng ngành là liên kết giữa các công ty trong cùng một dây chuyền công
nghệ sản xuất mà ở đó mỗi công ty đảm nhận một bộ phận hoặc một số công đoạn
nào đó. Trong tập đoàn này sự liên kết đa dạng ở nhiều ngành nghề khác nhau,
nhưng có mối liên quan chặt chẽ đến nhau. Quan hệ giữa các doanh nghiệp thành
viên chủ yếu là theo quy trình công nghệ và cung ứng sản phẩm cho nhau. Sự liên
kết này thường dẫn đến phát triển ngành nghề theo chiều sâu, tạo điều kiện để các
tập đoàn củng cố vị trí cạnh tranh, nâng cao chất lượng quản lý, bảo vệ quyền sở
hữu công nghiệp hiện hữu hơn.
Hiện nay, loại hình tập đoàn này vẫn còn phổ biến với tên gọi như Concern,
Conglomerate, Chaebol…Các tập đoàn này chỉ phát triển và hoạt động có hiệu quả
khi có đủ những điều kiện cần thiết về môi trường kinh tế, khoa học – công nghệ và
trình độ quản lý, đặc biệt phải có thị trường chứng khoán phát triển, có hệ thống
thông tin toàn cầu và khả năng xử lý tổng hợp những thông tin về thị trường, đầu 6
Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa/ Vũ Huy Từ ch.b H.: Chính trị quốc gia,
2002
Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển

Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển

2.4. Căn cứ theo cơ cấu tổ chức
2.4.1 Mô hình tập đoàn theo cấu trúc hợp nhất( Unitary Structure)
Mô hình theo cấu trúc hợp nhất thường được tổ chức theo liên kết công ty mẹ -
công ty con. Hình 1.1 mô tả mối liên kết trong cơ quan đầu não của tập đoàn, được
tổ chức tại công ty mẹ. Đặc điểm nổi bật của mô hình hợp nhất là trung tâm điều
hành quyết định các vấn đề quan trọng như chiến lược, thị trường, giá cả, sản phẩm,
đối với các công ty con và với cả tập đoàn. Trung tâm điều hành có ban giám đốc và
các phòng ban chức năng phụ trách từng lĩnh vực chuyên biệt như tài chính, kỹ
thuật, thị trường…
Hình 1.1: Tập đoàn theo cấu trúc hợp nhất Mô hình cấu trúc hợp nhất có tính chất tập trung quyền lực cao độ, đảm bảo tính
thống nhất trong các hoạt động của cả tập đoàn nhưng hạn chế tính độc lập của các
công ty con. Do tính chất tập trung quyền lực trong chỉ đạo và điều hành nên mô
hình này phù hợp với các tập đoàn nhỏ, mới hình thành hoặc các công ty trong tập
đoàn hoạt động trong phạm vi hẹp hoặc trong những lĩnh vực chuyên biệt. Ngày nay,
rất ít các tập đoàn kinh tế tổ chức theo mô hình này bởi những hạn chế về tính linh
hoạt, khả năng thích ứng trong bối cảnh biến động của thị trường cũng hạn chế vai
trò của các công ty con.
Sự phát triển của mô hình Tập đoàn ở Việt Nam – Thực trạng và hướng phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status