Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế hiện nay đến Việt Nam và một số nước đang phát triển - Pdf 13

TRNG I HC NGOI THNG
KHOA KINH T V KINH DOANH QUC T
CHUYấN NGNH KINH T I NGOI

KHO LUN TT NGHIP ti:
NH HNG CA CUC KHNG HONG TI CHNH
HIN NAY N VIT NAM V MT S
NC ANG PHT TRIN

H v tờn sinh viờn
Lp
Khoỏ
Giỏo viờn hng dn
: Nguyễn Thị Hoàng Yến
: Nhật 6
: 44 H
: ThS. Trần Minh Nguyệt
chính hiện nay đến Việt Nam và một số nƣớc đang phát triển” để có thể
phân tích rõ hơn những ảnh hƣởng này, và từ đó có thể đƣa ra các giải pháp
để ứng phó với khủng hoảng, giúp Việt Nam nói riêng, và một số nƣớc đang
phát triển nói chung nhanh chóng thoát ra khỏi vòng xoáy của cuộc khủng
hoảng này. Trong thời gian viết do trình độ hiểu biết còn hạn chế nên không
thể tránh đƣợc các sơ xuất, vì vậy mong các thầy cô đóng góp ý kiến và giúp
đỡ cho em. Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Hoàng Yến Nhật 6 K44 H

CHƢƠNG I: CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH HIỆN NAY VÀ
NHỮNG NGUYÊN NHÂN
Khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài
chính thế giới, vì vậy để nghiên cứu về ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng
kinh tế đến Việt Nam và một số nƣớc đang phát triển thì em xin nghiên cứu
về ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến Việt Nam và các
một số nƣớc đang phát triển để từ đó có cái nhìn toàn diện và bao quát hơn
về cuộc khủng hoảng này.
I. Tổng quan về cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay và những nguyên
nhân:
1. Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay:
“Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009” là cụm từ đƣợc giới báo
chí sử dụng để chỉ tình trạng bất ổn định tài chính nhƣ đói tín dụng và thu
hồi nợ, mất giá tiền tệ, sụt giá chứng khoán diễn ra đồng thời nhiều nơi trên
thế giới từ tháng 8 năm 2008. Cuộc khủng hoảng này là sự phát triển và lan
tỏa của cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007 và nó tiếp tục diễn ra
cho đến năm 2009, và không biết bao giờ nó mới thực sự kết thúc. Cuộc
khủng hoảng tài chính đã ảnh hƣởng tiêu cực đến nền kinh tế các nƣớc, gây
ra suy thoái kinh tế ở nhiều nơi và tăng trƣởng kinh tế chậm lại ở hầu hết các
nƣớc.
Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu có thể đƣợc nêu rõ qua

đã lên tới 180,000 bất động sản, tăng 93% so với thời điểm cách đó một
năm.
Tháng 9/2007: Ngân hàng Northern Rock của Anh
(4)
bị bao vây bởi nỗi lo
lắng của các khách hàng đang gửi tiết kiệm tại đây. Trƣớc tình hình đó,
Chính phủ cũng nhƣ Ngân hàng Anh buộc phải đứng ra bảo lãnh cho các
khoản tiền gửi của khách hàng bằng cách quốc hữu hóa Northern Rock.
Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) bắt đầu áp dụng một loạt mức giảm lãi suất
để xoa dịu ảnh hƣởng từ cuộc khủng hoảng cầm cố tài sản và thị trƣờng bất
động sản đang rớt giá mạnh.
Nguyễn Thị Hoàng Yến Nhật 6 K44 H

Tháng 10/2007: Lợi nhuận của "Ngƣời khổng lồ Mỹ" Citigroup
(5)
cũng
giảm rõ rệt.
Qũy tiền tệ quốc tế IMF đã phải đánh giá lại dự đoán mức tăng trƣởng của
đồng euro trong năm 2008 từ 2,5% xuống còn 2,1%
(6)
, nguyên nhân một
phần là do ảnh hƣởng kéo theo từ cuộc khủng hoảng nợ dƣới chuẩn tại Mỹ
và thị trƣờng tín dụng nƣớc này.
Tháng 12/2007: Tổng thống Mỹ George Bush tuyên bố kế hoạch giúp đỡ
cho thêm 1,2 triệu chủ sở hữu bất động sản trong việc thanh toán các khoản
nợ tại ngân hàng.
Tháng 1/2008: Ngân hàng khổng lồ của Thụy Sỹ UBS
(7)
thông báo cắt giảm
18 tỉ USD vào thị trƣờng bất động sản Mỹ.

(13)
. Nƣớc Mỹ cũng phải rót 200 tỉ USD
nhằm cứu vãn Fannie Mae và Freddie Mac
(14)
thoát khỏi khó khăn.
Tháng 4/2008: IMF thông báo đã chịu thua lỗ 945 tỉ USD cho cuộc khủng
hoảng tài chính
(15)
. Bộ trƣởng các nƣớc G7 tán thành đề xuất đƣa ra các điều
chỉnh tài chính mới để chống lại cuộc khủng hoảng đang ngày càng lan rộng.
Tháng 6/2008: Một điều đáng nói là trong khi thị trƣờng bất động sản Mỹ
ngày càng khủng hoảng nghiêm trọng hơn thì số lƣợng ngƣời đƣợc nhận lại
các ngôi nhà đã thế chấp lại tăng gấp đôi. Góp công sức cho hiện tƣợng lạ
lùng này, Bear Stearns đã liên hiệp thành công trong 400 vụ bị buộc tội lừa
đảo bằng các văn tự thế chấp.
Tháng 7/2008: Ngân hàng cho vay thế chấp tại bang California (Mỹ) tuyên
bố phá sản. Những khó khăn của Fannie Mae và Freddie Mac ngày càng
nhiều. Kho bạc và Cục dự trữ liên bang Mỹ buộc phải đứng ra đảm bảo cho
các khoản nợ của Fannie và Freddie.
Tổng thống Mỹ George Bush sau khi phê chuẩn quyết định bảo đảm này đã
trấn án ngƣời dân Mỹ: "Mọi ngƣời phải bình tĩnh và có niềm tin vào thị
trƣờng".
Cơ quan lập pháp Hoa Kỳ đã thông qua chƣơng trình rót hàng tỉ USD cuối
cùng để cứu vãn cuộc khủng hoảng tịch thu tài sản để thế nợ và khủng hoảng
văn tự thế chấp.
Martina-Fadesa, hãng đầu tƣ tài sản lớn nhất của Tây Ban Nha tuyên bố phá
sản.
Ngày 7/9/2008: Chính phủ Mỹ nắm quyền kiểm soát Fannie và Freddie sau
khi chi 200 tỉ USD để cứu 2 ngân hàng thoát khỏi tình trạng phá sản.
Nguyễn Thị Hoàng Yến Nhật 6 K44 H

hàng tại Aixơlen.
Chính phủ Anh quyết định can thiệp để giữ lại nhà cho vay thế chấp quan
trọng Bradford & Bingley
(22)
. Chính phủ Hà Lan, Bỉ và Luxembourg quyết
định tiếp quản phần lớn ngân hàng Belgian -Dutsch và công ty bảo hiểm
Fortis.
Bộ Tài chính Đức thông báo Chính phủ và các ngân hàng hàng đầu đã bơm
hàng tỉ euro vào nhà cho vay thế chấp Hypo Real Estate
(23)
để cứu vãn khó
khăn.
Chính phủ Aixơlen cùng ngân hàng Glinir
(24)
chính thức tuyên bố chính phủ
sẽ nắm quyền kiểm soát 75 % cổ phiếu của ngân hàng này.
Nguyễn Thị Hoàng Yến Nhật 6 K44 H

Ngày 30/9/2008: Ngân hàng Wachovia
(25)
chao đảo bên bờ vực phá sản bắt
đầu tiến hành đàm phán với Citigroup để trao quyền kiểm soát lại cho
Citigroup.
Ngày 1/10/2008: Thƣợng nghị viện Mỹ thông qua kế hoạch rót tiền cho thị
trƣờng tài chính đang khủng hoảng.
Ngày 2/10/2008: Tổng thống Bush đã ký đạo luật giải cứu thị trƣờng tài
chính lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.
Nƣớc Mỹ chao đảo và thế giới sửng sốt trƣớc sự suy sụp của hàng loạt tên
tuổi lớn trong hệ thống tài chính Mỹ và không ít ngƣời đã ví cuộc khủng
hoảng tài chính ở Mỹ hiện nay với cuộc Đại khủng hoảng 1929 – 1933

WB, sản lƣợng công nghiệp toàn cầu sáu tháng đầu năm 2009 sẽ ít hơn 15%
so với cùng kỳ năm 2008. Giá trị trao đổi thƣơng mại toàn cầu ở mức thấp
nhất trong 80 năm qua. Cuộc khủng hoảng lần này gây thiệt hại cho cả các
nƣớc phát triển và đang phát triển. Giá trị thƣơng mại của khu vực Ðông
Á
(27)
, nơi có nhiều nền kinh tế có xuất khẩu lớn, bị suy giảm mạnh nhất. Thí
dụ, Chính phủ Nhật Bản thông báo, kim ngạch xuất khẩu của nƣớc này trong
tháng 1-2009 giảm 46,3% so với cùng kỳ năm 2008 và là mức thâm hụt
thƣơng mại đầu tiên trong 13 năm qua
(28)
. Nền kinh tế Nhật Bản đang ở
trong một chu kỳ suy thoái kéo dài nhất kể từ cuộc đại suy thoái kinh tế thế
giới đầu những năm 30 của thế kỷ 20.
- Uỷ ban châu Âu (EC) công bố những dự báo kinh tế bi quan, theo đó năm
2009, kinh tế của châu Âu sẽ suy thoái nặng nề song hành với tình trạng thất
nghiệp tăng mạnh. Theo dự đoán của EC, năm 2009, tăng trƣởng của các
nƣớc Liên hiệp châu Âu (EU) trung bình sẽ là âm 1,8%, trong đó các nƣớc
thuộc khu vực đồng Euro sẽ tồi tệ hơn là âm 1,9% và tỷ lệ thất nghiệp tại
khu vực này là 9,25%. EC cho rằng tình trạng suy thoái trên mang tính toàn
cầu. Dự đoán năm 2009, tổng sản phẩm quốc nội của các nƣớc trên thế giới
sẽ tiếp tục giảm, chỉ còn 0,5%, so với 3,3% của năm 2008 (tỷ lệ này là 5%
Nguyễn Thị Hoàng Yến Nhật 6 K44 H

năm 2004 và 2007). Kinh tế đi xuống kéo theo các hoạt động kinh doanh của
nhiều tập đoàn trì trệ. Nhiều công ty và hãng lớn trên thế giới đã phải công
bố cắt giảm việc làm để tiết kiệm chi tiêu.
Viện nghiên cứu Kinh tế và Xã hội quốc gia Anh cho biết, sức tiêu dùng của
ngƣời dân Anh năm 2009 sẽ giảm 3,8%, gấp hai lần mức giảm đƣợc cho là
kỷ lục 1,6% hồi năm 1991, một mức thấp chƣa từng thấy trong nhiều thập

cách thoát ra khỏi cơn lốc. Sản xuất phải thu hẹp. Công nhân bị sa thải. Tỷ lệ
thất nghiệp đến tháng 2-2009 đã chiếm 8,1% lực lƣợng lao động
(30)
.
- Theo nhận định của Giáo sƣ Xti-glít, ngƣời từng đoạt giải Nobel kinh tế
2001, nguyên Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB), thế giới có nguy cơ
lâm vào tình trạng đình đốn kéo dài tƣơng tự nhƣ ở Nhật Bản hồi những năm
1990 của thế kỷ trƣớc
(31)
. Mô hình kinh tế hiện nay dẫn đến tình trạng bất
công quá lớn, không thể bảo đảm cho phát triển bền vững lâu dài. Theo ông
Xti-glít, khủng hoảng tài chính thế giới ngày nay là hậu quả của sự không
lành mạnh của các định chế ngân hàng Mỹ. Ðại diện tổ chức các quốc gia
châu Mỹ (OAS) cho rằng, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang cản trở
những thành quả của công cuộc xóa đói, giảm nghèo và ảnh hƣởng việc thực
hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs).
- Dự đoán của ADB, kinh tế châu Á sẽ tăng trƣởng chậm lại còn 5,8% năm
2009, so với mức ƣớc tính 6,9% năm 2008. Ngân hàng Phát triển châu Á
(ADB) còn cho biết cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay đã làm mất 50.000
tỷ USD giá trị tài sản tài chính năm 2008. Trong đó, mức thiệt hại của các
nƣớc đang phát triển ở châu Á ƣớc khoảng 9.600 tỷ USD
(32)
.
Thế giới hy vọng Trung Quốc, với tiềm năng lớn của một nền kinh tế phát
triển nhanh nhất toàn cầu trong nhiều năm liền, sẽ trở thành động lực thúc
đẩy khôi phục kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, theo Báo Asahi ra ngày
23/2/2009, Nhật Bản, tỷ lệ tăng trƣởng kinh tế thực của Trung Quốc đã giảm
mạnh, chỉ còn 6,8% trong quý IV-2008, khiến nƣớc này khó đạt mục tiêu
Nguyễn Thị Hoàng Yến Nhật 6 K44 H


bằng phân nửa mức lƣơng trung bình). Tỷ lệ thất nghiệp hiện nay ở Italia là
6,8%. Tại Bỉ, riêng trong tháng 9/2008, đã có 927 doanh nghiệp phá sản,
tăng 18% so với tháng 8/2008. Hãng sản xuất xe hơi nƣớc Đức BMW cho
biết, lợi nhuận trong quý III đã giảm mạnh và không thể đạt đƣợc mục tiêu
kinh doanh năm 2008, vì ảnh hƣởng của khủng hoảng tài chính. Hãng sản
xuất ôtô Pháp Renault vừa tuyên bố cắt giảm 6.000 nhân công (4.900 vị trí
tại Pháp và 1.100 ở các quốc gia khác trên toàn châu Âu) nhƣ là động thái
đối phó với sự suy giảm của thị trƣờng xe hơi toàn cầu
(34)
.
Tại châu Á, hàng ngàn ngƣời LĐ nhập cƣ làm nghề giúp việc gia đình, bồi
bàn tại các thành phố giàu có nhƣ Singapore, Hồng Kông đang lo lắng
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến túi tiền của chủ họ bị hẹp lại và
họ sẽ bị đuổi việc. Những ngƣời LĐ nhập cƣ mất việc cũng có nghĩa là quốc
gia của họ sẽ mất đi một phần kiều hối gửi về.
Từ khi cuộc khủng hoảng tài chính tấn công Mỹ và một số nƣớc phƣơng
Tây, sức tiêu thụ của ngƣời dân tại các nƣớc này giảm làm ngành xuất khẩu
( XK) ở Trung Quốc bị chậm lại. Theo thống kê của Chính phủ Trung Quốc,
trong 6 tháng đầu năm 2008, ít nhất 67.000 nhà máy trên toàn quốc phải
đóng cửa, trong đó hơn 50% là các nhà máy sản xuất đồ chơi.
Ở châu Phi, đảo quốc Cộng hòa Seychelles là quốc gia đầu tiên bị ảnh
hƣởng. Chính phủ đã buộc 2.000 công chức (tức 1/10 tổng số công chức cả
nƣớc) phải nghỉ việc để giảm bớt chi tiêu của Chính phủ, nhằm cứu đất nƣớc
khỏi phá sản. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến Seychelles
không thể trả đƣợc khoản nợ tới 800 triệu USD.
Thế giới bƣớc vào năm 2009 với tâm trạng bất an và tháng Ba kết thúc quý
I vẫn chƣa thấy xuất hiện tia sáng nào. Những thông tin chẳng lành về cuộc
khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu vẫn tràn ngập các phƣơng tiện thông
Nguyễn Thị Hoàng Yến Nhật 6 K44 H


tiền này khiến lãi suất tại Mỹ đƣợc duy trì ở mức thấp và tạo ra sự bùng nổ
trong lĩnh vực cho vay tín dụng, tiếp đó là sự tăng vọt của giá các loại tài sản
nhƣ nhà đất và chứng khoán. Rốt cục, khi những bong bóng này vỡ, khủng
hoảng tài chính nổ ra theo .
1.3. Tỉ lệ cấp vốn quá cao:
Với mỗi một mức độ phát triển kinh tế đặc biệt thì có một mức cấp vốn vào
thị trƣờng chứng khoán tƣơng ứng. Nhƣng hiện tai thì tỷ lệ cấp vốn vào thị
trƣờng so với GDP vƣợt quá giá trị mà có thể đảm bảo một sự phát triển ổn
định trong tƣơng lai. Nó đƣợc tính bằng việc chia toàn bộ giá trị thị trƣờng
chứng khoán của tất cả các công ty giao dịch công khai trong 1 nƣớc theo
GDP của họ. Tỷ lệ cấp vốn vào thị trƣờng so với GDP ở mức 40-60% trong
thế kỷ 20.
Mức tăng trƣởng chóng mặt của những năm 1990 đã đẩy tốc độ đó lên mức
kỷ lục 118% vào năm 1999, theo sau là một cuộc suy thoái vĩ mô toàn cầu
khi bắt đầu bƣớc sang thế kỷ 21.
Sau đó đến năm 2002, tỷ lệ này lại sụt giảm xuống 73%, rồi tăng lại lên
122% vào năm 2007- mức tăng trên 100% trƣớc khi bắt đầu cuộc suy
thoái
(35)
.
2. Nguyên nhân chủ quan:
2.1. Do những phát minh tài chính:
Phát minh tài chính vừa qua là gì?
Đó là việc tập trung tiền cho vay mua nhà, lấy tiền hoa hồng, rồi chia nhỏ
hợp đồng vay nợ này thành các chứng khoán (một loại giấy nợ), rồi bán cho
Nguyễn Thị Hoàng Yến Nhật 6 K44 H

ngƣời có tiền (các công ty đầu tƣ tài chính chấp nhận rủi ro cao, quỹ bảo
hiểm, quỹ hƣu trí và dân chúng), qua đó họ lại nhận thêm hoa hồng. Tiền
bán chứng khoán họ đem trả nợ ngắn hạn dùng lúc đầu để cho vay mua nhà.

của Ðức? KfW
chuyển 300 triệu euro cho ngân hàng đầu tƣ Lehman Brothers ở New York,
đúng lúc khi Lehman Brothers bị phá sản và số tiền này coi nhƣ bị mất và
hậu quả là KfW gặp khó khăn trong việc chi trả với khách hàng.
Qua sự kiện này nhiều ngân hàng lo ngại sẽ gặp phải trƣờng hợp nhƣ KfW,
nên thận trọng. Kết quả là việc trao đổi tiền giữa các ngân hàng trƣớc đây rất
dễ dàng thì bây giờ trở nên khó khăn và dần đƣa đến tình trạng không ngân
hàng nào tin ngân hàng nào.Các ngân hàng cổ phần vay tiền từ Ngân hàng
trung ƣơng Mỹ Fed (Federal Reserve System) với một lãi suất thấp, vì vậy
họ cho khách hàng vay tiền dễ dàng dĩ nhiên với lãi suất cao hơn lãi suất mà
họ phải trả cho Fed.
2.3. Do ngƣời vay không có khả năng trả nợ:
Khác với nhiều nƣớc ở châu Âu, ngân hàng cổ phần Mỹ cho vay tiền mua
bất động sản, nhƣng không kiểm tra khả năng chi trả của khách. Ngay cả
những ngƣời đang thất nghiệp vẫn có thể vay tiền mua nhà dễ dàng theo một
lãi suất lƣu động. Lãi suất này thƣờng thấp vào thời điểm mƣợn, nhƣng do
tình hình kinh tế có thể tăng lên cao vào bất cứ lúc nào. Sự kiện này đã làm
nhiều ngƣời bị phá sản, mất cả vốn lẫn lời.
Trƣớc đây, để tăng mức độ trú ngụ của ngƣời dân, Chính phủ Mỹ khuyến
khích ngân hàng cho vay vốn xây nhà. Trong thời gian đầu mọi việc xảy ra
có vẻ hoàn hảo: dân có nhà ở, ngƣời kinh doanh nhà có lời, nhiều ngƣời có
công ăn việc làm, ngân hàng thu lãi và giá nhà đất tăng. Lãi suất vẫn còn
thấp, đẩy nhu cầu mua nhà lên cao và qua đó giá nhà đất liên tục tăng lên.
Nguyễn Thị Hoàng Yến Nhật 6 K44 H

Nếu có khách hàng nào không đủ sức trả tiền thì ngân hàng có thể lấy nhà
(lúc này giá còn cao) bán đấu giá để trừ nợ, vì vậy ngân hàng vẫn có lời và
tiếp tục cho vay.
Một con vít xoắn giá cả bắt đầu xuất hiện. Giá nhà đất tiếp tục tăng, ngày
càng cao, số ngƣời vay tiền ngày càng nhiều. Trong thời gian này nhiều

rộng của thị trƣờng trong hơn hai mƣơi năm qua.
Kể từ thập niên 1980, thị trƣờng tài chính Mỹ và thế giới đã nhanh chóng
phát triển các công cụ chứng khoán phái sinh và mở rộng hoạt động chứng
khoán hóa các khoản nợ và đầu tƣ. Chứng khoán phái sinh và chứng khoán
hóa, mặc dù giúp tăng nguồn tài chính và phân tán rủi ro, đã dẫn đến việc giá
cả của trái phiếu và cổ phiếu ngày càng xa rời giá trị đích thực của tài sản
bảo đảm.
Không một cơ quan nhà nƣớc, đơn vị kiểm toán hay phân tích tín dụng và tài
chính có đủ thông tin và khả năng nhìn xuyên qua lớp lớp các thao tác chứng
khoán để có thể đánh giá chính xác giá trị và độ rủi ro của các khoản đầu tƣ
và tài sản nằm trên sổ sách của các công ty tài chính và ngân hàng.
Thêm vào đó nhiều thao tác này lại đƣợc che đậy qua hoạt động đầu cơ của
các quỹ đầu tƣ (hedge funds), một loại hình quỹ đầu tƣ nắm giữ tới gần 3000
tỉ đô la giá trị tài sản nhƣng không hề phải cáo bạch tài sản với công chúng
và gần nhƣ không chịu sự giám sát của bất kì một cơ quan nhà nƣớc nào.

2.5. Sự thay thế Đạo luật bức tƣờng lửa Glass-Steagall
(37)
bởi Đạo luật
Glamm-Leach-Bliley
(38)
:
Sự thay thế này đã cho phép các ngân hàng thƣơng mại đƣợc tham gia vào
các lĩnh vực kinh doanh mạo hiểm nhƣ nghiệp vụ chứng khoán hóa và bán
Nguyễn Thị Hoàng Yến Nhật 6 K44 H

các khoản vay bất động sản (BĐS) khiến nhiều ngân hàng đẩy mạnh cho vay
BĐS dƣới chuẩn, nhằm thu về những khoản lợi lớn.
Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn nắm giữ một lƣợng khá lớn các khoản chứng
khoán phái sinh này, một phần do không bán đƣợc, một phần do mua của


Nguyễn Thị Hoàng Yến Nhật 6 K44 H

CHƢƠNG II: ẢNH HƢỞNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH HIỆN NAY ĐẾN VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƢỚC ĐANG
PHÁT TRIỂN
I. Ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng tài chính đến Việt Nam:
1. Ảnh hƣởng đến xuất khẩu:
Xuất khẩu của Việt Nam chiếm tới 65-68% GDP. Nhu cầu của ngƣời tiêu
dùng tại các nƣớc phát triển (Mỹ, Nhật Bản và châu Âu) - chiếm 50% hàng
xuất khẩu của Việt Nam - giảm nên các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu của Việt Nam bị co lại do gặp khó khăn về vốn và đầu ra. Xuất khẩu
của Việt Nam cũng giảm từ 6,5 tỉ USD (tháng 7/2008) xuống còn 5,1 tỉ USD
(tháng 10/2008) và 4,8 tỉ USD (tháng 11/2008). Do xuất khẩu giảm dẫn đến
nhập khẩu các nguyên liệu cũng giảm bởi Việt Nam nhập khẩu tới 70-80%

chuyên gia kinh tế cho thấy, do bị tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng,
ngƣời tiêu dùng của các thị trƣờng này cũng phải cắt giảm chi tiêu, nên nhu
cầu nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng sẽ có xu
hƣớng giảm. Tỷ trọng của thị trƣờng EU trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam cũng đã giảm, chỉ còn 16,5% trong khi năm 2008 là 18%.
Các thị trƣờng EU, Nhật Bản cũng sẽ tiếp tục chịu ảnh hƣởng tiêu cực từ
cuộc khủng hoảng của Mỹ. Cộng thêm những khó khăn của các doanh
nghiệp xuất khẩu Việt Nam, do tín dụng thắt chặt, giá nguyên liệu đầu vào
tăng cao, khiến giá thành sản xuất cao, hàng hóa khó cạnh tranh, do đó xuất
khẩu của Việt Nam trong thời gian tới chắc chắn sẽ chịu những ảnh hƣởng
tiêu cực.
Nguyễn Thị Hoàng Yến Nhật 6 K44 H

1.2. Ảnh hƣởng đến các mặt hàng xuất khẩu chủ đạo:
1.2.1. Gạo:
Nền kinh tế toàn cầu lâm vào suy giảm do ảnh hƣởng khủng hoảng tín dụng
lan rộng ảnh hƣởng đến nhiều mặt hàng trong đó có gạo. Mặt khác, nhiều
loại hàng hoá là đầu vào cho sản xuất lúa gạo nhƣ phân bón, thuốc bảo vệ
thực vật đều giảm giá do giá dầu giảm mạnh. Giá gạo trên thị trƣờng kỳ hạn
Chicago đã giảm liên tục trong thời gian gần đây. Với nhu cầu một số nƣớc
Tây Phi và Trung Đông, giá gạo thế giới chỉ giảm nhẹ trong thời gian tới do
nguồn cung khá lớn từ Thái Lan và Việt Nam.
Khi hầu hết những ngành nghề xuất khẩu đều đang gặp khó khăn trƣớc tác
động của suy thoái kinh tế toàn cầu và trong nƣớc, thì xuất khẩu gạo trong
tháng đầu năm 2009 lại nổi lên nhƣ một điểm sáng.
Theo báo cáo từ Hiệp hội Lƣơng thực Việt Nam, chỉ trong tháng 1/2009, cả
nƣớc đã xuất khẩu đƣợc 310.000 tấn, đây là tháng xuất khẩu cao nhất trong
lịch sử kể từ năm 1989 đến nay.
Đến ngày 9/2/2009, các doanh nghiệp đã xuất thêm đƣợc 74 nghìn tấn, dự
kiến cả tháng 2 sẽ giao 550-600 nghìn tấn, đƣa kim ngạch xuất khẩu trong

2.200 - 2.500 đồng/kg nhƣng ngƣời dân vẫn không bán nổi dù thời điểm
cuối năm 2008 chất lƣợng chè nguyên liệu tƣơng đối tốt
(40)
.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu buộc ngƣời tiêu dùng phải thắt chặt chi
tiêu là nguyên nhân chính khiến lƣợng chè xuất khẩu của nƣớc ta giảm
mạnh. Không những thế, nhiều khách hàng còn yêu cầu thay đổi cơ cấu sản
phẩm theo hƣớng tăng lƣợng hàng tốt, giảm lƣợng hàng có chất lƣợng trung
bình hoặc yêu cầu đƣợc trả chậm. Tất cả những điều đó, cộng với những khó
khăn từ trong nƣớc đã giáng một đòn khá mạnh lên các doanh nghiệp, đặc
biệt là các doanh nghiệp tƣ nhân có quy mô nhỏ. Thậm chí, nhiều đơn vị
không cầm cự đƣợc đã phải ngừng sản xuất, tạm đóng cửa.

Trích đoạn Hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu: Đưa ra các chính sách giải quyết việc làm: Tăng các khoản vay để kích thích nền kinh tế: Tham gia các hội nghị khu vực và thế giới: Giải pháp của khu vực ASEAN:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status