Lời nói đầu
Trong điều kiện của nớc ta hiện nay, đờng lối phát triển kinh tế của Đảng
là: Phát triển một nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.... cùng với xu hớng
phát triển của nền sản xuất hàng hoá trong các ngành của nền kinh tế quốc
dân, Kinh tế trang trại đã góp phần tạo một bớc tiến quan trọng trong sự phát
triển của sản xuất nông nghiệp và kinh tế xã hội ở nông thôn. Phát triển kinh
tế trang trại đã góp phần tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, nông thôn, góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo cho rất
nhiều hộ nông dân, nó đã lam thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội ở nhiều địa ph-
ơng.
Thành công của kinh tế trang trại không chỉ về mặt kinh tế , xã hội , môi
trờng. Điều quan trọng là nó khẳng định một hớng đi đúng đắn, một triển vọng
sáng sủa cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và làm
thay đổi, chuyển biến nhận thức, quan điểm của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều
ngời trong việc hoạch định chủ trơng chính sách theo chiều hớng tiến bộ, tích
cực, phù hợp với xu thế phát triển tất yếu khách quan của đời sống kinh tế- xã
hội , của thời đại và của lịch sử. Ngày 02/02/2000, Chính phủ có nghị quyết số
03 về phát triển Kinh tế trang trại (NQ 03/NQ- CP), tiếp tục khẳng định quan
điểm của Đảng và Chính phủ về tính tất yếu khách quan của phát triển kinh tế
trang trại của nớc ta trong thời kỳ công nghiệp và hiện đại hoá đất nớc.
Hà Giang một tỉnh miềm núi nơi biên giới phía Bắc, có tiềm năng để phát
triển nông- lâm nghiệp. Trong những năm gần đây, Hà Giang đợc sự quan tâm
của Trung ơng, các Bộ ngành tạo điều kiện đầu t cùng với sự nỗ lực phấn đấu
của đồng bào các dân tộc, Hà Giang đã phát triển khá nhanh về kinh tế- xã
hội, đời sống nhân dân đợc cải thiện. Song Hà Giang vẫn là một tỉnh nghèo,
1
sản xuất hàng hoá chậm phát triển, cơ sở hạ tầng còn yếu, trình độ dân trí nói
chung còn thấp. Cùng với các mô hình kinh tế khác, mô hình kinh tế trang trại
ở tỉnh Hà Giang đã đang đợc phát triển và có hiệu quả cao. Tuy nhiên, Kinh tế
trang trại ở Hà Giang vẫn còn một số vấn đề cần làm rõ nh: thế nào là một
động thuê ngoài(lao động thuê thờng xuyên và lao động thuê thời vụ). Sản
xuất nông nghiệp đi vào sản xuất hàng hoá và từng bớc gắn liền với kinh tế thị
trờng.
Trong những năm gần đây, ở nớc ta, các cơ quan, các nhà khoa học và
các nhà quản lý khi nghiên cứu kinh tế trang trại hầu nh đều đa ra khái niệm
về kinh tế trang trại và coi đó là điểm xuất phát để nghiên cứu.
Về thực chất trang trại và kinh tế trang trại là hai khái niệm không
đồng nhất. Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và
các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang
trại. Còn trang trại là nơi kết hợp nhữnag yếu tố sản xuất và chủ thể các
quan hệ kinh tế đó.
Nh vậy, có thể thấy khái niệm trang trại rộng hơn khái niệm kinh tế
trang trại. Tuy nhiên, trong các mặt kinh tế,xã hội, môi trờngthì mặt kinh tế
là cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của trang trại, nên trong nhiều tr-
3
ờng hợp ngời ta thờng gọi tắt kinh tế trang trại là trang trại. Chúng ta có thể
hiểu khái niệm kinh tế trang trại nh sau: trang trại là hình thức cơ sở trong
nông- lâm- ng nghiệp có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá. T liệu
sản xuất thuộc quyền sản xuất và sử dụng của ngời chủ độc lập, sản xuất
đợc tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất đợc tập trung t-
ơng đối lớn với cách thức tổ chức và quản lý tiến bộ, trình độ kỹ thuật cao,
hoạt động tự chủ và gắn với thị trờng.
Có thể nói trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông -
lâm - ng nghiệp. Nó là đơn vị trực tiếp sản xuất ra những sản phẩm vật chất
cần thiết cho xã hội gồm: nông, lâm, thuỷ sản đồng thời quá trình sản xuất
của trang trại là khép kín với các khâu của qquá trình tái sản xuất luôn kế tiếp
nhau bao gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Mục đích của trang
trại là sản xuất hàng hoá. Trong điều kiện kinh tế thị trờng, các yếu tố sản
xuất nh vốn, đất đai, lao động...đợc tập trung với quy mô nhất định theo yêu
cầu của sản xuất hàng hoá. T liệu sản xuất của trang trại thuộc quyền sở hữu
đây:
Trang trại là đơn vị sản xuất hoat động trong lĩnh vực nông- lâm- ng nghiệp
là chủ yếu.
Kinh doanh sản xuất nông sản hàng hoá cho thị trờng, tỷ suất hàng hoá th-
ờng đạt 70- 80% trở lên. Tỷ suất hàng hoá càng cao càng thể hiện bản chất và
trình độ phát triển của kinh tế trang trại.
Chủ trang trại là chủ kinh tế cá thể(bao gồm kinh tế hộ gia đình và kinh tế
tiểu chủ) nắm một phần quyền sở hữu và toàn bộ quyền sử dụng đối với ruộng
đất, vốn, t liệu sản xuất...vì thế trang trại hoàn toàn tự chủ trong sản xuất kinh
doanh. Chủ trang trại là ngời có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kinh
5
nghiệm và kiến thức nhất định về sản xuất kinh koanh nông nghiệp đồng thời
có kiến thức nhất định về thị trờng.
Tổ chức quản lý sản xuất của trang trại tiến bộ hơn hộ nông dân và nhu cầu
về ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và tiếp cận thị trờng cao hơn.
Lao động trong trang trại chủ yếu là ngời trong gia đình ngoài ra có lao
động thuê ngoài(gồm: lao động thuê thờng xuyên và lao động thuê thời vụ).
Về đất đai của trang trại ngoài đất đợc Nhà nớc giao quyền sử dụng theo
luật đất đai còn có thể khai hoang hoặc thuê của Nhà nớc hoặc sang nhợng để
đất đai có quy mô lớn hơn, liền vùng, liền khoảnh hơn so với sản xuất của kinh
tế hộ.
1.2Những tiêu chí để nhận dạng trang trại và xu hớng vận động của kinh
tế trang trại.
1.2.1Những tiêu chí để xác định trang trại.
Có nhiều tiêu chí để xác định trang trại, theo thông t số 69 (tháng 6/2000)
của liên bộ Bộ NN&PTNT và Tổng cục thống kê đa ra các chỉ tiêu sau:
- Một là,giá trị sản lợng hàng hoá và dịch vụ bình quân một năm của trang
trại( đối với niềm Bắc có quy mô 40 triệu đồng và miền Nam 50 triệu đồng
trở lên).
- Hai là, quy mô sản xuất phải tơng đối vợt trội so với kinh tế hộ tại địa ph-
sản xuất tỏ ra phù hợp với điều kiện và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp,
đáp ứng đợc yêu cầu của công nghiệp hóa, có nhiều lợi thế trong sản xuất và
kinh doanh trên thơng trờng đã nhanh chóng phát triển trên khắp các lục địa:
Châu âu, Châu á, Châu mỹ...ở các nớc công nghiệp phát triển, kinh tế trang
trại đã trở thành lực lợng chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp, hàng năm sản
xuất từ 60- 90% khối lợng nông sản của cả nớc. Việt Nam đang trong qua
7
trình thực hiện công nghiệp hoá, tính quy luật về sự phát triển tất yếu của kinh
tế trang trại, con đờng hình thành và từng bớc phát triển của kinh tế trang trại
về bản chất cũng không nằm ngoài quỹ đạo mà các nớc trên thế giới đã trải
qua hàng thế kỷ nay. Thậm chí sự phát triển của kinh tế trang trại ở nớc ta
hiện nay còn bức xúc hơn do những đòi hỏi khách quan, chủ quan của thời đại
công nghiệp hoá, thời đại mở cửa và hội nhập toàn cầu, thời đại kinh tế thị tr-
ờng.
Không thể phát triển công nghiệp, thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hoá nếu không có nền nông nghiệp hàng hoá phát triển; đảm bảo
nguồn cung ứng nguyên liệu dồi dào, đồng thời là thị trờng mở rộng cho công
nghiệp. Không có nền công nghiệp và nông nghiệp hàng hoá phát triển thì
không thể đẩy mạnh hoạt động ngoại thơng, trao đổi buôn bán với các nớc
trong khu vực và trên thế giới. Đặt nền móng cho sản xuất nông nghiệp hàng
hoá phát triển lực lợng chủ yếu là kinh tế trang trại. Mặt khác, con đờng phát
triển tất yếu của kinh tế trang trại nớc ta còn là nhu cầu nội tại của chính các
hộ nông dân, của bản thân nền nông nghiệp trớc bớc ngoặt lịch sử, chuyển
sang cơ chế thị trờng.
1.2.3 Xu hớng vận động của kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại đợc hình thành từ ba nguồn gốc:
Từ khi kinh tế hộ sản xuất tự cấp, tự túc đi dần vào kinh doanh sản xuất
hàng hoá rồi trở thành hộ sản xuất giỏi rồi chuuyển lên kinh tế trang trại gia
đình. Loại hình trang trại này chiếm số đông, thông thờng khoảng 60- 80%
tổng số trang trại tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa ph-
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của Hà Giang
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
9
a, Vị trí địa lý
Hà Giang là tỉnh vùng cao phía bắc của tổ quốc, phía Bắc giáp Trung
Quốc, phía Nam giáp Tuyên Quang, phía Đông giáp Cao Bằng, phía Tây giáp
Yên Bái và Lào Cai. Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, địa lý và kinh tế-
xã hội mà Hà Giang đợc chia thành 3 vùng phát triển kinh tế: (vùng cao núi đá
ở phía bắc; vùng cao núi đất ở phía Tây, vùng trung tâm ở phía Đông Nam).
b, Đất đai và khoáng sản
Diện tích đá đai của Hà Giang là 788437ha , trong đó đất nông nghiệp là
10572ha, đất lâm nghiệp 279451ha, đất chuyên dùng 4183ha, đất ở là 5973ha,
đất cha sử dụng là 392405ha và diện tích mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản là
934ha.
Tài nguyên thiên nhiên(khoáng sản): là tỉnh miền núi địa hình chia cắt
mạnh, tạo nhiều sông, suối nhỏ và dốc có điều kiện để phát triển thuỷ lợi nhỏ,
tạo ra các hang động, địa danh phong cảnh sinh thái đẹp. Tài nguyên khoáng
sản phong phú và đa dạng...
c, Khí hậu, thời tiết và thuỷ văn
Hà Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình
hàng năm dao động từ 21
o
C- 23
o
C, độ ẩm trung bình từ 80- 86%, lợng ma
trung bình: thấp nhất là ở Bắc Mê 143,4mm nơi cao nhất là Bắc Quang
5833,3mm, số giờ nắng trong năm là 1182,4 giờ đến 1732,9 giờ. Nhìn chung
thời tiết khí hậu ở Hà Giang thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.
2.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội
Theo số liệu thống kê năm 2000 thì dân số của Hà Giang là 602926 ngời,
Nhìn chung tình hình phát triển nông nghiệp của Hà Giang tăng trởng
với tốc độ ổn định, tốc độ tăng trởng của nông nghiệp bình quân năm khoảng
4%, giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp năm 2000 là 535810 triệu đồng
tăng13,25% so với năm trớc. Do xuất phát điểm của tỉnh thấp mà trong những
năm qua nền kinh tế còn tăng trởng chậm, nhng nó tăng trởng dần và vững
chắc; nhịp độ tăng trởng GDP năm 1992 ; là 5% dến năm 1999 đạt 10,38%;
cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hớng theo hớng giảm tỷ trọng lao động
11
nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong công nghiệp- xây dựng và dịch vụ.
Có thể khẳng định rằng Hà Giang có tiềm năng đa dạng và điều kiện thuận lợi
để xây dựng và phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế trang trại
nói riêng, tiềm năng của tỉnh còn rất lớn nhng dân cha giàu, tỉnh cha mạnh.
Để khai thác tiềm năng, phát huy nội lực, xây dựng nông thôn mới, tỉnh cần
lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân các dân tộc phát triển kinh tế theo mô hình kinh tế
trang trại.
2.2 Thực trạng về kinh tế trang trại ở Hà Giang.
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở Hà Giang
Trong thời kỳ bao cấp, mầm mống trang trại ở Hà Giang mới xuất hiện.
Toàn tỉnh có 2 nông trờng và 7 lâm trờng quốc doanh đó là những đơn vị sản
xuất hàng hoá. Bớc vào thời kỳ thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng, mô hình
kinh tế trang trại đợc khởi nguồn, hình thành và phát triển ở Hà Giang từ
những năm 80, khi có chỉ thị 29- CT/TW về giao đất rừng đến hộ, chỉ thị 35-
CT/TW về phát triển kinh tế gia đình của Ban bí th TW Đảng, NQ 11 của Bộ
chính trị(khoá VI 4/1988), NQ TW 5 khoá VII, Luật đất đai 1993... đờng lối
đổi mới của Đảng cùng với hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nớc là
tiền đề và là điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn trên phạm vi quy hoạch tổng thể từ tỉnh đến các vùng,
huyện để phát triển kinh tế. Ngành ngân hàng ngoài việc cho các doanh
nghiệp quốc doanh và hợp tác xã vay đã cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất, các
ngành kinh tế kỹ thuật và dịch vụ cũng chuyển hớng, chuyển giao trực tiếp kỹ
thuỷ sản , trang trại trồng cây công nghiệp và trang trại sản xuất tổng hợp . Sự
phát triển của các loại hình trang trại qua các năm thể hiện :
Số lợng và loại hình sản xuất của trang trại của tỉnh qua các năm
13
Loại hình trang trại
1998 1999 2000
Số l-
ợng(c
ái)
Tỷ
lệ(%)
Số l-
ợng
(cái)
Tỷ
lệ(%)
Số l-
ợng
(cái)
Tỷ
lệ(%)
Trang trại trồng rừng
19 4,6 24 5,4 28 5,9
Trang trại trồng cây ăn quả
257 62,8 279 62,7 300 62,8
Trang trại chăn nuôi
3 0,7 4 0,9 5 1,0
Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
9 2,2 10 2,0 10 2,0
Trang trại trồng cây công nghiệp
kỹ thuật tiến bộ .
Tiếp đến là các thành phần chủ trang trại có xuất thân từ các nguồn khác ,
có 110 ngời ,chiếm 23%,họ chủ yếu đi vào phát triển cây công nghiệp và sản
xuất tổng hợp . Có một số cán bộ công nhân viên chức sau khi đã nghỉ chế độ
về nông thôn và phát triển kinh tế theo mô hình kinh tế trang trại, có 42 ngời
chiếm tới 8,7%, ngoài ra ở Hà Giang hiện nay có tới 58 chủ trang trại là Đảng
viên, chiếm tới 12,13% tuy thấp so vơi các thành phần kinh tế khác nhng nó
cũng là nhiều. Trong những năm tới cần phải có hớng giải quyết sao cho đảng
viên vẫn đợc làm chủ trang trại theo đúng nghĩa của nó mà vẫn không đi ngợc
các quy định và điều lệ của Đảng.
Với dân số nhiều thành phần dân tộc nh ở Hà Giang thì trong phát triển
kinh tế trang trại cũng phải: nhiều nhất là ngời Tày có 220 trang trại chiếm
43,7%; ngời Kinh có 167 trang trại chiếm 34,9%; một số dân tộc ít ngời khác
nh: Giao,Mông,Nùng,Hoa có từ 12-33 trang trại chiếm2,5-6,9%, còn các dân
tộc khác có không đáng kể.
Vào độ tuổi từ 30-50 là độ tuổi đã chín muồi của các chủ trang trại họ đã
tích luỹ đợc một số kinh nghiệm về sản xuất và thị trờng, phần lớn các chủ
trang trại trong độ tuổi này; từ 40-50 tuổi có 280 ngời chiếm 58,6%, từ 30-40
tuổi có 103 ngời chiếm 21,5%, ở dới độ tuổi 30 và trên độ tuổi 50 có từ 33-62
% chiếm 6,97%-13%.
b, Trình độ văn hoá và chuyên môn của chủ trang trại
Trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn của chủ trang trại ở Hà Giang
vẫn còn rất thấp :trình độ văn hoá cấp 1 và hết cấp 1 của chủ trang trại chiếm
rất đông với 215 ngời chiếm 45%: trình độ cấp 2 và hết cấp 2 là 131 ngời
15