Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đào Thị Ngân Giang
LỜI MỞ ĐẦU
Sự Cần Thiết Của Đề Tài:
Trong nền nông nghiệp thế giới, trang trại (mà chủ yếu là trang trại
gia đình) là một hình thức tổ chức sản xuất có vai trò hết sức quan trọng
trong hệ thống nông nghiệp mỗi nước. Ở các nước phát triển, trang trại
gia đình có vai trò to lớn và có ý nghĩa quyết định trong sản xuất nông
nghiệp, sản xuất ra tuyệt đại bộ phận nông sản phẩm cho xã hội.
Kinh tế trang trại ở Việt Nam mới phát triển trong những năm
gần đây, từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của nhà nước, mục tiêu là công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, song
lấy nông nghiệp là khâu đột phá. Mặc dù mô hình kinh tế trang trại nước
ta mới phát triển nhưng có vị trí quan trọng và đã thể hiện vai trò tích
cực cả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường.
Trên nhiều vùng các trang trại đã góp phần tích cực phát triển các
loại cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao, khắc phục dần tình trạng
sản xuất manh mún phân tán. Phát triển kinh tế trang trại gắn liền với
việc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ và hịêu quả nguồn lực trong
nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là đất đai và tiền vốn. Do vậy phát triển
kinh tế trang trại ở nước ta bước đầu góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng
trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Không những
vậy phát triển kinh tế trang trại góp phần tạo thêm việc làm, tăng thêm
thu nhập, xoá đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ
tầng trong nông thôn, làm gương cho các nông dân về cách thức tổ chức
SVTH: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp: NN45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đào Thị Ngân Giang
quản lý sản xuất. .. qua đó góp phần thúc đẩy sự thay đổi của bộ mặt
nông thôn trên nhiều vùng.
Kinh tế trang trại ở huyện Gia Lâm mới xuất hiện trong những
năm gần đây song nó đã tạo ra sự phát triển mới trong nông nghiệp nông
thôn của huyện, tạo điều kiện thuận lợi để nông nghiệp chuyển nhanh
đóng góp giúp đỡ của thầy cô để em có những kiến thức đầy đủ hơn.
SVTH: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp: NN45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đào Thị Ngân Giang
Chương1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh
tế trang trại
1.1: Khái niệm và đặc trưng của trang trại
1.1.1: Khái niệm:
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cơ sở trong
nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa; tư
liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc
lập; sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản
xuất được tập trung tương đối lớn; với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ
và trình độ kỹ thuật cao; hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường.
Trang trại là đơn vị sản xuất hoạt động trong lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp là chủ yếu ( theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ
sản). Như vậy, trang trại không gồm những đơn vị thuần túy hoạt động
chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Nếu có hoạt động chế biến hay tiêu thụ
sản phẩm thì đó là những hoạt động kết hợp với hoạt động sản xuất nông
nghiệp.
1.1.2: Đặc trưng của trang trại:
n Đặc trưng cơ bản của trang trại là sản xuất hàng hóa trong lĩnh
vực nông, lâm, ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản:
Mục tiêu của trang trại là sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
để bán, khác hẳn với kinh tế hộ, tự cấp, tự túc là chính. Trang trại nông
nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ tự chủ trong cơ chế thị
trường mang tính chất sản xuất hàng hóa rõ rệt. Trang trại bao gồm các
hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và một
SVTH: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp: NN45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đào Thị Ngân Giang
số dịch vụ phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp theo quy mô hộ gia
nghiệm làm ăn, am hiểu thị trường và trực tiếp điều hành sản xuất tại
trang trại:
Kinh nghiệm của các nước cho thấy, từ trước đến nay có hai loại
hình trang trại, một là chủ trang trại và gia đình họ cùng làm ăn ở tại
trang trại và trực tiếp điều hành sản xuất. Hình thức thứ hai là chủ trang
trại không ở trang trại mà thuê mướn người ngoài làm công việc quản lý
trang trại. Trong hai hình thức tổ chức đó thì hình thức thứ nhất phổ biến
hơn và hiệu qủa hơn.
Thực tế Việt Nam cho thấy, chủ trang trại chỉ xuất thân từ chủ hộ
nông dân sản xuất giỏi “ lão nông tri điền”, vừa có kiến thức, có kinh
nghiệm tổ chức sản xuất, vừa am hiểu thị trường, biết tận dụng lợi thế và
tiềm năng đất đai, lao động để làm giàu cho gia đình và cho xã hội. Chủ
trang trại là người điều hành quá trình sản xuất hàng hóa và quá trình đó
lại gắn với đất đai, lao động, máy móc, cây trồng, vật nuôi và thị trường
đầu ra. Do vậy muốn có lợi nhuận, chủ trang trại nhất thiết phải trực tiếp
điều hành sản xuất kinh doanh tại trang trại. Đó là hiện tượng phổ biến ở
nước ta hiện nay.
Đặc trưng thứ tư: Tổ chức quản lý sản xuất của trang trại tiến bộ
hơn, trang trại có nhu cầu cao hơn nông hộ về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
và thường xuyên tiếp cận thị trường. Điều này thể hiện:
SVTH: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp: NN45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đào Thị Ngân Giang
- Do mục đích của trang trại là sản xuất hàng hoá
nên hầu hết các trang trại đều kết hợp giữa chuyên
môn hoá với phát triển tổng hợp. Đây là điểm
khác biệt của trang trại so với hộ sản xuất tự cấp,
tự túc.
- Cũng do sản xuất hàng hoá, đòi hỏi các trang trại
phải ghi chép, hạch toán kinh doanh, tổ chức sản
xuất khoa học trên cơ sở những kiến thức về nông
nông sản, nhất là các nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp. Vì vậy
trang trại góp phần thúc đẩy công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến
và dịch vụ sản xuất ở nông thôn phát triển.
+ Trang trại là đơn vị sản xuất có quy mô lớn hơn kinh tế hộ, vì
vậy có khả năng áp dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công
nghệ vào sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
+ Với cách thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh tiên tiến,
trang trại là nơi tiếp nhận và truyền tải các tiến bộ khoa học và công
nghệ đến hộ thông qua chính hoạt động sản xuất của mình.
+ Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại làm tăng hộ giàu
trong nông thôn, tạo việc làm và tăng thu nhập góp phần thúc đẩy phát
triển kết cấu hạ tầng nông thôn, là tấm gương cho các hộ nông dân về
cách thức tổ chức kinh doanh tiên tiến và có hiệu quả…Tất cả những
SVTH: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp: NN45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đào Thị Ngân Giang
điều đó góp phần quan trọng giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội nông
thôn.
1.3 Tiêu chí nhận dạng trang trại
Tiêu chí nhận dạng trang trại là những chỉ tiêu mang tính định
lượng để nhận diện trang trại. Theo đó một trang trại phải đạt được hai
tiêu chí sau:
t Giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân 1 năm
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung: từ 40 triệu
đồng trở lên.
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên: từ 50 triệu đồng trở
lên.
l Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vợt trội so với kinh tế
nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế.
ư
Đối với trang trại trồng trọt
Đối với các loại sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy
sản có tính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong,
giống thủy sản và đặc sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lưssợng hàng
hóa.
1.4/ các điều kiện ra đời và phát triển của trang trại trong nền
kinh tế thị trường
Để cho các trang trại ra đời và phát triển cần có các điều kiện sau:
- Các điều kiện về môi trường kinh tế và pháp lý:
+ Có sự tác động tích cực và phù hợp của nhà nước
+ Có quỹ ruộng đất cần thiết và chính sách để tập trung ruộng đất
+ Có sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến
SVTH: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp: NN45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đào Thị Ngân Giang
+ Có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng, trước hết là giao
thông, thủy lợi.
+ Có sự hình thành vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hóa.
+ Có sự phát triển nhất định của các hình thức liên kết kinh tế
trong nông nghiệp.
+ Có môi trường pháp lý thuận lợi cho trang trại ra đời và phát
triển.
- Các điều kiện đối với trang trại và chủ trang trại:
+ Chủ trang trại phải là người có ý chí và quyết tâm làm giàu từ
nghề nông.
+ Chủ trang trại phải có sự tích lũy nhất định về kinh nghiệm sản
xuất, về tri thức và năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh.
+ Có sự tập trung nhất định về quy mô các yếu tố sản xuất trước
hết là ruộng đất và tiền vốn.
+ Quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại phải dựa trên cơ sở
hạch toán và phân tích kinh doanh.
1.5 Các loại hình trang trại
khu đô thị, các khu du lịch lớn, thuận tiện cho việc tiêu thụ.
+ Trang trại nuôi trồng đặc sản: hươu, rắn, ba ba, dê…nằm ở
những nơi thuận lợi thuận lợi cho nuôi trồng và tiêu thụ
+ Trang trại chăn nuôi đại gia súc : trâu, bò… ; Gia súc: lợn, hoặc
gia cầm. Có thể chăn nuôi tổng hợp hoặc chuyên môn hóa từng loại .
SVTH: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp: NN45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đào Thị Ngân Giang
1.6 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng kinh tế trang trại là
con đường tất yếu ở nước ta trong những năm tới. Sự phát triển kinh tế
trang trại theo các xu hướng sau:
- Khuyến khích phát triển các hình thức kinh tế trang trại, nhưng
đặc biệt quan tâm đến hình thức kinh tế trang trại gia đình.
- Khuyến khích mọi hình thức kinh doanh của trang trại, nhưng tập
trung phát triển các lâm trại, các trang trại chuyên môn hoá cây công
nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc.... ở các vùng trung du và miền
núi. Đối với vùng đồng bằng, khuyến khích các trang trại chăn nuôi lợn,
gia cầm, gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến... Đối với vùng ven biển,
khuyến khích các trang trại nuôi trồng thuỷ hải sản.
- Khuyến khích các hình thức trang trại tư nhân phát triển ở các
vùng đất trống đồi núi trọc, đất hoang hoá ở trung du, miền núi và vùng
ven biển.
1.7 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở NƯỚC
TA
Ở nước ta hiện nay, phần lớn các nông hộ đều là các hộ tiểu nông,
tuy nhiên trên thực tế đã và đang hình thành và phát triển các hộ sản xuất
hàng hoá theo kiểu trang trại. Các trang trại xuất hiện không những ở
vùng sản xuất hàng hoá, mà cả ở vùng sản xuất hàng hoá chưa phát triển,
ở vùng có diện tích đất bình quân theo đầu người cao, mà cả ở vùng diện
tích đất bình quân đầu người thấp.
trang trại có quy mô nhỏ là chủ yếu. Quá trình chuyển kinh tế hộ sang
kinh tế trang trại đã trở thành xu hướng nhưng vẫn còn có những khó
khăn sau:
+ Vẫn còn có những nhận thức chưa đúng về trang trại và kinh tế
trang trại, băn khoăn về việc phát triển kinh tế trang trại ở nước ta.
+ Quỹ đất đai hạn hẹp đang là một trong các nguyên nhân hạn chế
phát triển kinh tế theo hướng trang trại.
+ Việc quy hoạch, định hướng phát triển các vùng sản xuất hàng
hoá tập trung chưa tốt.
+ Thị trường nông sản không ổn định, sản phẩm làm ra khó tiêu
thụ, quan hệ giữa nông dân với các tổ chức thương mại, các doanh
nghiệp chế biến chưa thoả đáng gây trở ngại cho sản xuất và sự đầu tư
theo hướng sản xuất hàng hoá.
+ Trình độ công nghệ thấp dẫn đến chất lượng nông sản kém, khả
năng cạnh tranh thấp và không thích ứng với nhu cầu ngày càng cao của
người tiêu dùng nên khó tiêu thụ.
+ Chính sách vĩ mô của nhà nước chưa thực sự tác động đồng bộ,
chưa theo kịp yêu cầu của sản xuất, nên chưa thực sự khuyến khích hộ
phát triển theo hướng trang trại.
+ Trình độ của chủ trang trại chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.
SVTH: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp: NN45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đào Thị Ngân Giang
Chương 2: thực trạng phát triển kinh tế trang trại
huyện Gia Lâm
I. Điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội của huyện gia lâm
1.Điều kiện tự nhiên:
1.1 Vị trí địa lý:
Gia Lâm là một huyện ngoại thành Hà Nội, là đầu mối giao thông
quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước nói chung và của
thành phố Hà Nội nói riêng.
Nam Đuống có địa hình lòng máng là hai xã ven đô sông Hồng và sông
Đuống. Các vùng này được bồi tích phù sa dầy, bề dày của phù sa trung
bình là 90,120m. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ngành
nông nghiệp.
1.3 Điều kiện khí hậu thuỷ văn
Huyện Gia Lâm nằm ở khu vực đồng bằng sông Hồng nên khí hậu
mang nét đặc trưng là nhiệt đới ẩm gió mùa, song lại có sự pha trộn khí
hậu ôn đới, chịu nhiều ảnh hởng của bão từ tháng 7 đến tháng 10. Bão
kéo theo mưa to gây lụt lội trên diện rộng hoặc cục bộ gây khó khăn cho
sản xuất .
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,5
o
C . Vào mùa hè có ngày
lên tới 34
o
C. Mùa đông nhiệt độ xuống thấp. Biên độ dao động nhiệt độ
trong năm khoảng 12- 13
o
C . Độ ẩm trung bình các tháng trong năm khá
SVTH: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp: NN45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đào Thị Ngân Giang
cao là 81%. Nguồn năng lợng mặt trời khá dồi dào, số giờ nắng trung
bình trong năm là 1550- 1700 giờ.
Lượng mưa bình quân là 136mm. Lượng mưa chủ yếu tập trung
trong các tháng 6,7,8. Chế độ thuỷ văn của huyện Gia Lâm chịu ảnh
hưởng của chế độ thuỷ văn của sông Đuống, đặc biệt là sông Hồng
Điều kiện khí hậu thuỷ văn của huyện rất phù hợp, thuận lợi cho
việc phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, phong phú, đặc biệt là phát
triển ngành chăn nuôi bò sữa vốn có truyền thống của huyện. Góp phần
vào phát triển kinh tế trang trại trong huyện. Tuy nhiên điều kiện thời
17431,
9
100,0 17431,
9
100,0 11479,
1
100,0
1.Đất nông
nghịêp
8742,0 50,2 8714,1 50,0 6548,5 57,1
- Đất trồng cây
hàng năm
8054,7 92,1 8021,4 92,1 6109,8 93,3
- Đất trồng cây
lâu năm
334,0 3,8 339,4 3,9 189,9 2,9
- Đất trồng cỏ
chăn nuôi
88,3 1,0 88,3 1,0 73,0 1,1
- Đất vườn tạp 265,0 3,0 265 3,0 175,8 2,7
2. Đất mặt nước
nuôi trồng thuỷ
sản
310,0 1,8 371 2,1 138,5 1,2
3. Đất lâm nghiệp 57,6 0,3 54,28 0,3 54,3 0,5
4. Đất chuyên
dùng
4337,8 24,9 4466,9 25,6 2333,3 20,3
5. Đất khu dân cư 1783,2 10,2 1785,1 10,2 1253,3 10,9
6. Đất chưa sử
tầng để phục vụ sản xuất, sinh hoạt của nhân dân trong huyện, mặt
khác do quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, nhu cầu dãn dân vì
khi dân số tăng thì nhu cầu tách hộ cũng tăng theo. Đặc biệt, diện tích
đất chưa sử dụng chiếm tỷ trọng khá cao, trên 10% tổng diện tích đất.
SVTH: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp: NN45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đào Thị Ngân Giang
Đây là diện tích đáng kể cho các trang trại phát triển sản xuất, nếu
được sự trợ giúp của chính quyền huyện Gia Lâm.
2 Đặc điểm về kinh tế xã hội
2.1 Dân số và nguồn lao động
Dân số huyện Gia Lâm là 379723 người (năm 2003) trong đó dân
số nông thôn là 294172 người, dân số thành thị là 85551 người. Cùng
với việc tăng lên về số lượng dân số của huyện, số lượng lao động cũng
được tăng qua các năm nhưng với tốc độ giảm dần do tỷ lệ dân số trẻ .
Nhìn chung Gia Lâm có nguồn lao động tương đối dồi dào với 214.709
người năm 2003 và 61,7% là lao động nông nghiệp.
2.2 Cơ sở hạ tầng
Trong những năm qua mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế
phát triển chưa đều, song đảng bộ và chính quyền từ huyện tới cơ sở vẫn
có nhiều cố gắng trong việc củng cố và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
phục vụ tốt nhất cho sản xuất và đời sống của nhân dân trong huyện.
- Về hệ thống điện: toàn huỵện có 257 trạm biến thế với tổng công
suất là 137780 KVA, tổng đường dây tải điện là 627,8 km; với 17,8km
là đường dây cao thế, 610 km dây hạ thế. Hiện nay huyện cung cấp
khoảng 99,7kwh/hộ/năm. Nhìn chung nhu cầu điện dùng cho sản xuất và
sinh hoạt đã được đáp ứng đầy đủ.
- Về giao thông
Ngoài hệ thống đường quốc lộ và tỉnh lộ khá hoàn thiện với nhiều
làn đường, trên địa bàn huyện Gia Lâm có hàng trăm km đường do
huyện và xã quản lý, đảm bảo 1,2km/1000dân. Hệ thống đường đều
Sài Đồng A ,B , Đài Tư trên địa bàn huyện.
Trong 3 ngành nông nghiệp là ngành có tốc độ tăng thấp nhất. Tuy
nhiên mức tăng 7,57% của năm 2002 so với năm 2001 là một tốc độ
tăng cao trong ngành nông nghiệp. Năm 2003 tốc độ tăng có giảm, chỉ
đạt 5,44% do nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên đây cũng là tốc độ cao
trong tổng thể nền kinh tế đất nước. để đạt được tốc độ cao như vậy,
Huyện Gia Lâm đã phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi cho có
hiệu quả để đạt giá trị kinh tế cao. điều này thể hiện trong tốc độ tăng
nhanh của tiểu ngành chăn nuôi năm 2002 so với 2001( 12,97%). Năm
2003 tình hình thị trường có nhiều biến động về giá, đặc biệt do bùng
phát dịch cúm gia cầm nên giá trị sản xuất ngành chăn nuôi có tăng nhng
tốc độ không cao ( 7,57% ). đóng góp vào giá trị sản xuất ngành chăn
nuôi của huyện bò sữa, bò thịt, lợn hướng lạc... ngoài ra, ngành nuôi
trồng thuỷ sản của huyện cũng tìm ra hướng đi và có tốc độ tăng đều
( 20,53% và 20,89% )
Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn huyện thời gian qua
cũng tăng. Mức thu nhập bình quân đầu người tăng đều với các lượng
tương ứng 1,230 triệu đồng/hộ/năm. 0,339 triệu đồng/ngời/năm vào năm
2002 và 1,469 triệu đồng/hộ/năm. 0,445 triệu đồng /ngời/năm vào năm
2003. Đến năm 2003, thu nhập bình quân đầu người đạt 4,403 triệu
đồng/người/năm. Chỉ tiêu này tuy tăng, nhng so với vị trí là một huyện
ngoại thành của thủ đô Hà Nội, huyện Gia Lâm cần nâng cao mức sống
của nhân dân hơn nữa.
SVTH: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp: NN45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đào Thị Ngân Giang
II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
HUYỆN GIA LÂM
1. VỀ SỐ LƯỢNG, QUY MÔ, LOẠI HÌNH TRANG TRẠI
Theo thống kê, đến 31/12/2005, toàn huyện có 37 trang trại trong
đó có 6 trang trại trồng trọt, 20 trang trại chăn nuôi, 3 trang trại thủy sản
2.1 CHỦ TRANG TRẠI:
Bảng 3: DANH SÁCH CÁC HỘ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN GIA LÂM năm 2005
TT
HỌ TÊN CHỦ
TRANG TRẠI
ĐƠN VỊ TUỔI
NGHỀ
NGHIỆP
MÔ
HÌNH
1 Đặng Đình Lộc Thị Trấn Trâu
Quỳ
54 Bác sĩ
TY
Chăn
nuôi
2 Ng. Văn Hồng TT Trâu Quỳ 36 ND CN
3 Ng. Văn Khánh TT Trâu Quỳ 32 KTNN TS
4 Trần Thị Tuyến TT Trâu Quỳ 41 Sơ cấp
quản lý
CLN
5 Lê Xuân Hoàng TT Trâu Quỳ 37 ĐHKT TT
6 Lê Quang Đảm Xã Kiêu kỵ 44 KTNN TS
7 Ng. Cát Điều Dương Xá 32 ND CLN
8 Ng. Đức Thiện Phú Thị 48 ND CLN
9 Ng. Hữu Đức Phú Thị 52 ND CN
10 Hg. Phúc Hiền Phú Thị 34 ND CN
11 Lê Huy Ngoan Phú Thị 42 ND TS
12 Đặng Văn Y Phú Thị 50 Sơ cấp