Đánh giá tình hình thất nghiệp tại việt nam từ năm 2005 – 2013 - Pdf 13

MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………… 39
1
LỜI NÓI ĐẦU 2
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ 4
1.1 Kinh tế học 4
1.2. Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô 5
1.3. Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc 8
1.4. Một số vấn đề kinh tế vĩ mô then chốt 8
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ THẤT NGHIỆP 11
2.1 Khái niệm thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp và phân loại thất nghiệp 11
2.2 Mô hình về tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên 15
2.3 Tìm việc và thất nghiệp tạm thời 16
2.4. Sự cứng nhắc của tiền lương thực tế và thất nghiệp chờ việc 18
CHƯƠNG 3. ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH THẤT NGHIỆP 22
(Từ năm 2005 – 2013) 22
3.1 Đánh giá về tình hình thất nghiệp qua các năm 22
3.2 Nguyên nhân và giải pháp 30
3.2.1 Nguyên nhân 30
3.2.2 Giải pháp 33
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………… 39
1
LỜI NÓI ĐẦU
Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế vĩ mô ảnh hưởng sâu sắc và trực tiếp
đến mọi người. Thất nghiệp đồng nghĩa với chất lượng cuộc sống giảm đi, đời
sống xã hội bất an. Vì vậy có lẽ không ngạc nhiên lắm khi thấy thất nghiệp
thường là chủ để tranh luận giữa các nhà kinh tế cũng như những người lập
chính sách kinh tế vĩ mô.
Việt Nam trong những năm gần đây nền kinh tế đang găp không ít khó

những hàng hóa, dịch vụ, nhằm thỏa mãn cao nhất nhu cầu của mọi thành viên
trong xã hội.
Các tính chất của một chuyên ngành khoa học xã hội nói chung và kinh tế
học nói riêng là:
- Không có sự chính xác tuyệt đối (vì những hàm số, con số, những quan
hệ định lượng trong kinh tế học đều mang tính ước lượng trung bình từ thực tế).
- Chủ quan (với cùng một hiện tượng kinh tế nếu đứng trên những quan
điểm khác nhau có thể đưa ra những kết luận khác nhau). Cho nên, trong thực tế
ta thường chứng kiến sự tranh cãi giữa các trường phái kinh tế, thậm chí có lúc
căng thẳng, đối chọi nhau.
Kinh tế học luôn nhấn mạnh đến sự lựa chọn của cá nhân và xã hội trong
việc sử dụng những nguồn tài nguyên có giới hạn để đáp ứng nhu cầu ngày càng
tăng của con người.
Trong hầu hết các xã hội, việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm không
phải do một người duy nhất nào, mà không có sự phối hợp hoạt động của hàng
triệu hội gia đình, doanh nghiệp và chính phủ. Các thành viên (hộ gia đình,
doanh nghiệp, chính phủ) của nền kinh tế xã hội thực hiện các quyết định kinh tế
dựa trên các nguyên tắc sau: Đánh đổi, chi phí cơ hội, những thay đổi biên,
những khuyến khích.
Tài nguyên có hạn, nhu cầu của con người thì không có giới hạn, nên con
người luôn phải tính toán, lựa chọn sao cho việc sử dụng tài nguyên đó hiệu quả
nhất và đó cũng chính là lý do để kinh tế học tồn tại và phát triển.
4
1.2. Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Căn cứ theo đối tượng và phạm vi nghiên cứu kinh tế học được phân
thành kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô.
a. Kinh tế học vi mô:
Nghiên cứu cách thức mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp ra quyết định
và tác động lẫn nhau trong một thị trường nào đó. Nó nghiên cứu nền kinh tế ở
góc độ chi tiết, riêng lẻ.

Trường phái cổ điển cho rằng, thị trường biết những gì phải làm, Chính
phủ không nên can thiệp vào nền kinh tế. Trường phái Keynes cho rằng, Chính
phù có thể và nên can thiệp vào nền kinh tế nhằm cải thiện hoạt động của nền
kinh tế.
Những nhà kinh tế học vĩ mô thường sử dụng các mô hình để giải thích và
tiên liệu các hiện tượng kinh tế. Trước hết họ khái quát những chi tiết phức tạp
của nền kinh tế bằng những biến số cần thiết có thể kiểm soát được. Dựa vào
những biến số này, hỗ nỗ lực xây dựng các mô hình kinh tế bằng cách sử dụng
một giả thiết nào đó. Mô hình này mô tả mối quan hệ giữa các biến số đó bằng
các hệ phương trình hay hệ phương trình.
Các biến số trong mô hình kinh tế vĩ mô có hai loại biến là biến nội sinh
và biến ngoại sinh. Biến nội sinh hay biến được giải thích, là những biến được
giải thích bằng mô hình. Biến ngoại sinh hay biến không giải thích là biến không
được giải thích bởi mô hình, nó được dùng để giải thích biến nội sinh.
Mục đích của mô hình là chỉ ra biến ngoại sinh ảnh hưởng đến biến nội
sinh như thế nào. Giá trị tiên nghiệm của các biến xác định ở thời điểm trong
tương lai, hiện thời giá trị của nó mới chỉ ước lượng chứ chưa xác định. Giá trị
hậu nghiệm của các biến được xác định trong quá khứ. Hiện thời giá trị của nó
đã được xác định.
6
Các mối quan hệ trong mô hình kinh tế gồm có đồng nhất thức và quan hệ
hành vi giữa các biến. Đồng nhất thức được sử dụng để định nghĩa các biến, nó
luôn luôn đúng, ví dụ: GDP = C + I + G + X – I. Quan hệ hành vi giữa các biến
phản ánh hành vi mà mô hình muốn giải thích, ví dụ: I = I
0
– h.r.
Xét ví dụ mô hình kinh tế đơn giản của thị trường hàng hóa X:
- Giả thiết: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
- Cầu hàng hóa X: Q
d

hàng hóa X trên đồ thị với trục tung là P, trục hoành là Q.
Như vậy, trong mô hình này các biến nội sinh là P, Q; các biến còn lại sẽ
là các biến ngoại sinh trong mô hình.
Trong kinh tế học vĩ mô, không có mô hình nào giải thích được tất cả các
sự kiện mà chúng ta quan tâm (ví dụ mô hình cung cầu hàng hóa X không giải
thích được tại sao thu nhập tăng). Chúng ta sẽ nghiên cứu nhiều mô hình khác
nhau cho những vấn đề khác nhau (như lạm phát, thất nghiệp, tăng trưởng…).
Mỗi mô hình chúng ta nên quan tâm tới những vấn đề sau: Giả thiết của mô
hình; Biến nào là biến nội sinh; biến nào là biến ngoại sinh; Mô hình này giúp
chúng ta hiểu những vấn đề gì?
Trong phân tích kinh tế vĩ mô, khung thời gian nghiên cứu được chia
thành ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, nhiều mức giá cứng nhắc, tức là giá
được điều chỉnh một cách chậm chạp khi có sự thay đổi của cung và cầu. Khi
giá cứng nhắc, lượng cung không luôn bằng lượng cầu. Vì vậy, có thể giải thích
tại sao lại có thất nghiệp, tại sao lại thừa hàng hóa. Trong dài hạn. giá cả linh
hoạt tức là thị trường cân bằng liên tục, nền kinh tế ở trạng thái sử dụng toàn bộ
nguồn lực, điều này có thể giải thích tăng trưởng do sự cải thiện công nghệ, tích
lũy vốn.
7
1.3. Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
Căn cứ vào phương pháp nghiên cứu, kinh tế học có thể phân thành: kinh
tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc.
- Kinh tế học thực chứng: Bàn về những giải thích khách quan hay khoa
học sự vận động của nền kinh tế, nó trả lời cho câu hỏi: Như thế nào? Tại sao?
Ví dụ, kinh tế học thực chứng nghiên cứu tỷ lệ thất nghiệp thực tế là bao nhiêu?
Mức thất nghiệp cao sẽ ảnh hưởng thế nào đến lạm phát? Nếu chính phủ tăng
thuế đối với mặt hàng sữa tươi sẽ ảnh hưởng đến việc sản xuất và tiêu thụ sữa
tươi như thế nào? Để giải quyết những vấn đề như vậy, các nhà kinh tế học bắt
buộc phải đối chiếu với thực tế. Bằng cách khảo sát thực tế, các nhà kinh tế học
sẽ giải quyết được hai vấn đề: Lý giải tại sao nền kinh tế lại hoạt động như nó

bắt nguồn từ các lực lượng nội tại có thể dự tính trước được? Liệu chính sách
của Chính phủ có thể sử dụng để làm dịu bớt hay triệt tiêu những biến động
ngắn hạn trong nền kinh tế hay không? Đây là những vấn đề lớn đã đươc đưa ra
và ít nhất cũng đã được giải đáp một phần bởi kinh tế vĩ mô hiện đại.
Thất nghiệp là biến số then chốt thứ hai mà kinh tế học vĩ mô quan tâm
nghiên cứu. Tỷ lệ thất nghiệp đo lường số người không có việc làm và đang tích
cực tìm việc tính theo tỷ lệ % so với lực lượng lao động. Sự biến động ngắn hạn
của tỷ lệ thất nghiệp liên quan đến những dao động của CKKD. Những thời kỳ
sản lượng giảm thường đi kèm với tăng thất nghiệp và ngược lại.
Lạm phát là biến số then chốt thứ ba mà kinh tế học vĩ mô quan tâm
nghiên cứu. Lạm phát là hiện tượng phổ biến trên thế giới trong những thập kỷ
gần đây. Vấn đề đặt ra là cái gì quyết định tỷ lệ lạm phát (TLLP) dài hạn và
những biến động ngắn hạn của lạm phát trong một nền kinh tế? Tại sao lạm phát
ở Việt Nam đã rất cao năm 1980 và có xu hướng giảm trong những năm gần
đây? Sự thay đổi TLLP có liên quan như thế nào đến CKKD? Phải chăng là
ngân hàng trung ương cần theo đuổi mục tiêu lạm phát bằng không?
Vấn đề quan trọng thứ tư mà kinh tế học vĩ mô quan tâm đến là cán cân
thương mại (CCTM). Việt Nam thường có thâm hụt thương mại (THTM). Tầm
9
quan trọng của THTM là gì và điều gì quy định sự biến động của nó trong ngắn
hạn và dài hạn? Để hiểu CCTM, vấn đề then chốt cần nhận thức là mất cân bằng
thương mại liên quan chặt chẽ với dòng chu chuyển vốn quốc tế. Nhìn chung,
khi một nước nhập khẩu nhiều hàng hóa hơn từ thế giới bên ngoài so với xuất
khẩu, nước đó cần phải trang trải cho phần nhập khẩu dôi ra đó bằng cách vay
tiền từ thế giới bên ngoài, hoặc giảm lượng tài sản quốc tế hiện đang nắm giữ.
Ngược lại, khi có xuất khẩu ròng dương, thì nước đó sẽ tích tụ tài sản của thế
giới bên ngoài. Như vậy, nghiên cứu về mất cân bằng thương mại liên quan chặt
chẽ đến việc nghiên cứu tại sao các công dân một nước lại đi vay tiền hoặc cho
các công dân nước khác vay tiền.
Để nghiên cứu các vấn đề cơ bản trên, các nhà kinh tế học vĩ mô gặp

khoảng thời gian trước và giữa các công việc. Chính vì vậy, chúng ta luôn quan
sát thấy một số thất nghiệp trong các nền kinh tế.
2.1 Khái niệm thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp và phân loại thất nghiệp
2.1.1 Khái niệm thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp
Thất nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người lao động muốn có việc
làm mà không tìm được việc làm.
11
Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên
tổng số lực lượng lao động xã hội.
2.1.2 Phân loại
a. Phân theo đặc trưng của người thất nghiệp.
Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phận
dân cư nào, ngành nghề nào… Cần biết được điều đó để hiểu được đặc điểm,
tính chất, mức độ tác hại… của thất nghiệp trong thực tế. Với mục đích đó có
thể dùng những tiêu thức phân loại dưới đây:
- Thất nghiệp chia theo giới tính.
- Thất nghiệp theo lứa tuổi.
- Thất nghiệp chia theo vùng, lãnh thổ.
- Thất nghiệp chia theo ngành nghề.
- Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc.
b. Phân loại theo lý do thất nghiệp.
Trong khái niệm thất nghiệp, cần phân biệt rõ thất nghiệp tự nguyện và
thất nghiệp không tự nguyện. Nói khác đi là những người lao động tự nguyện
xin thôi việc và những người lao động buộc phải thôi việc. Trong nền kinh tế thị
trường năng động, lao động ở các nhóm, các ngành, các công ty được trả tiền
công lao động khác nhau (mức lương không thống nhất trong các ngành nghề,
cấp bậc). Việc đi làm hay nghỉ việc là quyền của mỗi người. Cho nên, người lao
động có sự so sánh, chỗ nào lương cao thì làm, chỗ nào lương thấp (không phù
hợp) thì nghỉ. Vì thế xảy ra hiện tượng:
Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào

13
Thất nghiệp có tính cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung- cầu
lao động (giữa các ngành nghề, khu vực…). Loại này gắn liền với sự biến động
cơ cấu kinh tế và gây ra do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc là sự thay
đổi công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, ai không đáp
ứng được sẽ bị sa thải. Chính vì vậy, thất nghiệp loại này còn gọi là thất nghiệp
công nghệ. Trong nền kinh tế hiện đại, thất nghiệp loại này thường xuyên xảy
ra. Khi sự biến động này là mạnh và kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng
và chuyển sang thất nghiệp dài hạn. Nếu tiền lương rất linh hoạt thì sự mất cân
đối trong thị trường lao động sẽ mất đi khi tiền lương trong những khu vực có
nguồn cung lao động hạ xuống, và ở trong khu vực có mức cầu lao động cao
tăng lên.
Thất nghiệp do thiếu cầu: Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu chung
về lao động giảm xuống. Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu. Loại này
còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền
với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh. Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của
loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi ngành
nghề.
Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Loại thất nghiệp này còn được gọi
theo lý thuyết cổ điển. Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực
lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao
động. Vì tiền lương không chỉ quan hệ đến sự phân phối thu nhập gắn với kết
quả lao động mà còn quan hệ đến mức sống tối thiểu nên nhiều nhiều quốc gia
(Chính phủ hoặc công đoàn) có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự
không linh hoạt của tiền lương (ngược với sự năng động của thị trường lao
động), dẫn đến một bộ phận mất việc làm hoặc khó tìm việc làm.
Tóm lại, thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ
phận riêng biệt của thị trường lao động (có thể diễn ra ngay cả khi thị trường lao
động đang cân bằng). Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi xuống,
toàn bộ thị trường lao động bị mất cân bằng. Còn thất nghiệp theo lý thuyết cổ

này chưa thể giải đáp được. Thứ nhất, chúng ta muốn biết tại sao thất nghiệp là
điều không thể trành khỏi – hoặc theo ngôn ngữ của mô hình này, tại sao tỷ lệ
mất việc không phải rất nhỏ hay tỷ lệ tìm được việc làm nhỏ hơn một. Thứ hai,
chúng ta xem liệu các nhà hoạch định chính sách có nên thay đổi tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên hay không và nếu có thì nên sử dụng chính sách nào.
Có hai lý do giải thích tại sao tỷ lệ thất nghiệp không thể bằng không.
Chúng ta đã đề cập đến lý do thứ nhất, công nhân có thể cần một khoảng thời
gian thất nghiệp trong quá trình tìm việc làm. Thứ hai, vì nhiều lý do, thị trường
lao động không thể ở trạng thái cân bằng tại điểm mà cung bằng cầu. Sau đây
chúng ta sẽ xem xét các nguyên nhân này.
2.3 Tìm việc và thất nghiệp tạm thời
Công nhân và doanh nghiệp cần có thời gian để gặp được nhau. Các mô
hình của chúng ta cho đến nay đã giả thiết rằng tất cả công nhân và doanh
nghiệp là như nhau nhưng trên thực tế có nhiều loại công việc khác nhau. Một
nền kinh tế vận hành tốt là nền kinh tế đảm bảo sự ăn khớp giữa việc làm và kỹ
năng. Trong một nền kinh tế phức tạp, chúng ta không thể hy vọng những sự ăn
khớp như vậy xuất hiện tức thì. Hơn nữa, các doanh nghiệp và công nhân đôi
khi cần thời gian để hiểu nhau. Ví dụ, có thể một công nhân phải thử làm vài
công việc để lựa chọn một công việc phù hợp nhất.
Ngoài những vấn đề này, còn có một thực tế là sự ăn khớp giữa công nhân
và doanh nghiệp là một quá trình động. Theo thời gian công nhân mới gia nhập
lực lượng lao động, những người hết tuổi lao động rời khỏi lực lượng lao động
và kỹ năng của người lao động thay đổi. Đồng thời nhu cầu về công nhân cũng
thay đổi khi cầu về hàng hóa thay đổi.
Như vậy, chúng ta cần phải dự tính và phải coi một mức thất nghiệp nhất
định là cần thiết và đáng mong muốn trong xã hội hiện đại. Công nhân thường
không nhận ngay công việc đầu tiên được yêu cầu và doanh nghiệp không thuê
người công nhân đầu tiên nộp đơn xin việc. Trái lại, họ cần bỏ ra thời gian và
16
sức lực cần thiết để tạo ra sự ăn khớp tốt nhất giữa công nhân và doanh nghiệp.

định về thu nhập của công nhân và đảm bảo cho người và việc làm ăn khớp với
nhau tốt hơn.
2.4. Sự cứng nhắc của tiền lương thực tế và thất nghiệp chờ việc
Một nguyên nhân khác góp phần giải thích tại sao chúng ta quan sát thấy
có một số thất nghiệp ngay cả trong dài hạn là sự cứng nhắc của tiền lương thực
tế. Mô hình cổ điển giả thiết tiền lương thực tế điều chỉnh để cân bằng thị trường
lao động, Điều này phù hợp với cách tiếp cận bằng thị trường: Giá cả điều chỉnh
để đảm bảo sự cân bằng giữa cung và cầu. Tuy nhiên, có một số nguyên nhân
giải thích tại sao tiền lương thực tế có thể bị mắc lâu dài cao hơn mức cân bằng
thị trường. Chúng ta xét ba lý do: Luật tiền lương tối thiểu; Công đoàn và Tiền
lương hiệu quả. Cả ba lý thuyết đều giải thích tại sao tiền lương thực tế có thể
“quá cao”, làm cho một số công nhân có thể bị thất nghiệp. Thất nghiệp tạo ra
trong trường hợp này thường được gọi là thất nghiệp chờ việc, bởi vì một số
công nhân phải chờ cho đến khi có việc làm mới dành cho họ.
2.4.1. Luật tiền lương tối thiểu
Luật tiền lương tối thiểu là một lý do giải thích tại sao tiền lương thực tế
không thể giảm xuống mức cân bằng thị trường. Nếu mức lương cân bằng thấp
hơn Chính phủ quyết định, thì tiền lương không thể điều chỉnh linh hoạt. Hình
vẽ phía dưới minh họa thị trường lao động khi có qui định về tiền lương tối
thiểu. Khi tiền lương tối thiểu cao hơn mức cân bằng như trường hợp này thì
lượng lao động cung ứng sẽ vượt lượng cầu. Kết quả là có thất nghiệp. Do đó,
tiền lương tối thiểu làm tăng thu nhập của người lao động có việc làm, nhưng
làm giảm thu nhập của người lao động không tìm được việc làm.
Thực tế cho thấy luật tiền lương tối thiểu không mang tính ràng buộc đối
với nhiều công nhân bởi vì họ được trả tiền cao hơn rất nhiều so với mức lương
tối thiểu. Tuy nhiên, đối với một số công nhân, đặc biệt là số công nhân trẻ chưa
được đào tạo, quy định này có thể mang tính ràng buộc.
18
Các nhà kinh tế thường chống lại luật tiền lương tối thiểu, không phải vì
họ chống lại sự cải thiện thu nhập cho nhóm công nhân nghèo mà vì họ cho rằng

xuống mức thấp nên công đoàn là đối tượng cần thiết để cân bằng với sức mạnh
của doành nghiệp. Nhận định này chắc chắn đúng với các “thành phố công ty”,
nơi mà một doanh nghiệp thuê hầu hết công nhân trong vùng. Những người ủng
hộ công đoàn còn lập luận rằng tổ chức công đoàn sẽ mang lại hiệu quả bởi vì
các doanh nghiệp không cần phải thương lượng với từng công nhân về tiền
lương và các khoản phúc lợi khác. Nghĩa là công đoàn góp phần cắt giảm chi phí
giao dịch.
Thất nghiệp chờ việc do tiền lương tối thiểu
2.4.3. Lý thuyết tiền lương hiệu quả
Lý thuyết tiền lương hiệu quả cho rằng các doanh nghiệp có thể chủ động
giữ cho tiền lương ở mức cao hơn trạng thái cân bằng cạnh tranh, bởi vì khi làm
như vậy có thể họ được lợi hơn. Tiền lương hiệu quả có tác dụng tương tự như
luật tiền lương tối thiểu và công đoàn vì trong cả ba trường hợp này, thất nghiệp
phát sinh là do tiền lương được duy trì ở mức cao hơn trạng thái cân bằng. Tuy
nhiên, tiền lương hiệu quả đặc biệt ở chỗ nó được doanh nghiệp tự nguyện trả.
Dưới đây chúng ta nêu ra bốn nguyên nhân lý giải tại sao các doanh nghiệp cho
rằng có thể được lợi khi trả tiền lương cao hơn mức cân bằng cạnh tranh:
20
Dư cung
LD (TN)
W
L
D
L
S
L
W
E
W
min

động đang làm việc trong khu vực Nhà nước chiếm 9,6%; ngoài Nhà nước
chiếm 88,8% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 1,6%. Theo ngành
kinh tế, tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 56,8%; khu
vực công nghiệp, xây dựng 17,9% và khu vực dịch vụ 25,3%.
Tỷ lệ thất nghiệp năm 2005 tiếp tục giảm; tính đến giữa năm 2005, tỷ lệ
thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị là 5,3%, giảm 0,3
điểm phần trăm so với năm 2004, đồng thời đạt mục tiêu kế hoạch 5 năm 2001-
2005 về giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị xuống dưới 6% vào cuối năm
2005.
Năm 2006
Năm 2006: Số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế
tại thời điểm 1/7/2006 ước tính là 43,44 triệu người, tăng 2,1% so với cùng thời
điểm năm trước. Tỷ trọng lao động đang làm việc trong khu vực nông, lâm
nghiệp và thuỷ sản tiếp tục giảm từ 57,2% trong năm 2005 xuống 55,7% trong
năm 2006 để chuyển dịch sang các khu vực có năng suất lao động cao hơn, phù
hợp với chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tương ứng, tỷ trọng
khu vực công nghiệp, xây dựng tiếp tục tăng từ 18,3% lên 19,1% và khu vực
dịch vụ từ 24,5% lên 25,2%. Trong các thành phần kinh tế, lao động thuộc khu
vực nhà nước vẫn tăng nhẹ so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động khu
vực thành thị tiếp tục giảm, đạt 4,4%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp của nam là
4,8%, của nữ là 3,9%.
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị
22
%
Năm 2005 Năm 2006
CẢ NƯỚC 5.3 4.4
Đồng bằng sông Hồng 5.6 5.6
Đông Bắc 5.1 3.8
Tây Bắc 4.9 3.0
Bắc Trung Bộ 5.0 5.2

tính 45 triệu người, tăng 2% so với năm 2007, trong đó lao động khu vực nhà
nước 4,1 triệu người, tăng 2,5%, lao động ngoài nhà nước 39,1 triệu người, tăng
1,2%, lao động khu vực đầu tư nước ngoài 1,8 triệu người, tăng 18,9%.
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi chung cả nước là 2.38%,
trong đó tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 4.65%, nông thôn là 1.53%.
Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của
lực lượng lao động trong độ tuổi năm 2008 phân theo vùng
(*)
%
Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làm
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
CẢ NƯỚC 2.38 4.65 1.53 5.10 2.34 6.10
Đồng bằng sông Hồng 2.29 5.35 1.29 6.85 2.13 8.23
Trung du và miền núi
phía Bắc 1.13 4.17 0.61 2.55 2.47 2.56
Bắc Trung Bộ và duyên
hải miền Trung 2.24 4.77 1.53 5.71 3.38 6.34
Tây Nguyên 1.42 2.51 1.00 5.12 3.72 5.65
Đông Nam Bộ 3.74 4.89 2.05 2.13 1.03 3.69
Đồng bằng sông Cửu
Long 2.71 4.12 2.35 6.39 3.59 7.11

26,01 triệu người, chiếm 29,9% tổng dân số, tăng 2,04% so với năm trước; dân
số khu vực nông thôn là 60,92 triệu người, chiếm 70,1%, tăng 0,63%. Tỷ lệ giới
tính của dân số năm 2010 ở mức 97,7 nam trên 100 nữ (Năm 2009 tỷ lệ này là
97,6/100).
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2010 là 50,51 triệu người, tăng
2,68% so với năm 2009, trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là
46,21 triệu người, tăng 2,12%. Tỷ lệ dân số cả nước 15 tuổi trở lên tham gia lực
lượng lao động tăng từ 76,5% năm 2009 lên 77,3% năm 2010. Tỷ lệ lao động
khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 51,9% năm 2009 xuống 48,2%
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status