Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
Trang
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong những năm chuyển đổi kinh tế vừa qua tình trạnh thất nghiệp ở
Việt Nam diễn biến phức tạp. Trong thời gian từ năm 1986 đến nay, Chính
phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ thất nghiệp cho người lao động
khi mất việc làm như: Quyết định 217/HĐBT, Quyết định 227/HĐBT hay
Quyết định 315/HĐBT của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Thủ tướng
Chính phủ )…những chính sách này đã áp dụng hình thức trợ cấp lấy
nguồn kinh phí từ Ngân sách Nhà nước và lập các quỹ hỗ trợ việc làm do
Bộ Tài chính quản lý. Tuy nhiên do việc từ trước đến nay Chính phủ ban
hành thực hiện các chế độ hỗ trợ mất việc làm cho người lao động vẫn
mang tính chắp vá, bị động và không đảm bảo lâu dài trong cuộc sống cho
người lao động, đặc biệt là đối với lao động trẻ không có tay nghề nên chưa
đáp ứng được yêu cầu của đại đa số người lao động. Như nhà kinh tế học
William Beverigde đã từng nói: “Trợ cấp thất nghiệp bản thân nó không
thể giải quyết được vấn đề thất nghiệp” Do vậy để giải quyết thất nghiệp
đòi hỏi phải có một chính sách tổng thể, được thiết kế để kích thích nền
kinh tế. Chính điều này đã tạo cơ hội cho sự ra đời của Bảo hiểm thất
nghiệp. Bảo hiểm thất nghiệp được ban hành sẽ nhằm: Bù đắp một phần
thu nhập thay thế cho người lao động khi mất việc làm; Tiến hành các biện
pháp giúp người thất nghiệp có được việc làm, hòa nhập thị trường lao
động. Hơn thế nữa đây còn là nhu cầu thiết thực đối với Chính phủ nhằm
ổn định Kinh tế - xã hội. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, em đã chọn
nghiên cứu Bảo hiểm thất nghiệp trong đề án môn học của mình.
Do sự hạn chế về tư liệu và thông tin nên trong đề án của em không
thể tránh khỏi sai sót. Em mong có được sự đóng góp của thầy cô để đề án
của em hoàn thiện hơn.
Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự kết
hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao
động theo mục đích của con người .
Theo Bộ luật lao động nước ta, khái niệm việc làm được xác định là
“Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được
thừa nhận là việc làm”.
Từ quan điểm trên cho thấy, khái niệm việc làm bao gồm nội dung
sau:
- Là hoạt động lao động của con người.
- Hoạt động lao nhằm mục đích tạo ra thu nhập.
- Hoạt động lao động đó không bị pháp luật ngăn cấm.
1.3. Thất nghiệp
Đã có nhiều khái niệm về thất nghiệp, xong định nghĩa thất nghiệp
của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) được nhiều nhà kinh tế và nhiều nước
tán thành. Theo định nghĩa của tổ chức này thì: Thất nghiệp là tình trạng
tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng
không tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành.
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao
động nhưng không có việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Như vậy, những người ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao
động có khả năng lao động nhưng không lao động, không có nhu cầu việc
làm thì không được coi là người thất nghiệp.
2. Phân loại thất nghiệp
Có nhiều hình thức thất nghiệp khác nhau, tuỳ theo mục đích nghiên
cứu và việc lựa chọn tiêu thức phân loại. Nhưng thông thường để phân loại
thất nghiệp người ta thường căn cứ theo những tiêu thức sau đây:
2.1. Căn cứ vào tính chất thất nghiệp
Theo tiêu thức phân loại này thì người ta phân ra làm các loại sau:
có việc làm hoặc thời gian làm việc thực tế một tuần dưới tám giờ và họ
vẫn có nhu cầu làm việc thêm.
Thất nghiệp bán phần: Có nghĩa là người lao động vẫn có việc làm
nhưng khối lượng công việc ít hoặc thời gian lao động thực tế chỉ đạt ba
đến bốn giờ trong một ngày.
Mỗi loại thất nghiệp có những tác động đến nền kinh tế một cách khác
nhau và những quan tâm giải quyết theo các phương thức khác nhau.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3. Nguyên nhân và hậu quả của thất nghiệp
3.1. Nguyên nhân
Trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều nguyên nhân gây ra thất
nghiệp và kèm theo nhiều tác động xấu đến sự phát triển kinh tế xã hội và
sự ổn định của đất nước. Dưới đây là một số nguyên nhân chính:
- Chu kì kinh doanh có thể mở rộng hay thu hẹp do sự điều tiết của thị
trường. Khi mở rộng thi thu hút thêm lao động làm cho cung cầu trên thị
trường co giãn, thay đổi phát sinh hiện tượng thất nghiệp.
- Do sự tiến bộ của khoa học công nghệ đặc biệt là sự tự động hoá quá
trình sản xuất diễn ra nhanh chóng nên trong một chừng mực nhất định
máy móc đã thay thế con người. Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận các nhà
sản xuất luôn tìm cách mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, đưa ra những
dây chuyền tự động hoá vào quá trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng
sản phẩm để cạnh tranh. Một cỗ máy, một dây chuyền sản xuất tự động hoá
có thể thay thế hàng chục, thậm chí hàng trăm công nhân. Số công nhân bị
máy móc thay thế lại tiếp tục bổ sung vào đội quân thất nghiệp.
- Sự gia tăng dân số và nguồn lao động cùng với quá trình quốc tế hoá
và toàn cầu hoá nên kinh tế cũng có nhiều mặt tác động tiêu cực đến thị
trường lao động làm một bộ phận người lao động bị thất nghiệp. Nguyên
nhân này chủ yếu diễn ra ở các nước đang phát triển. Ở những nước này,
dân số và nguồn lao động thường tăng nhanh, để hội nhập với nền kinh tế
Thất nghiệp gia tăng còn làm cho tình hình chính trị xã hội bất ổn,
hiện tượng bãi công, biểu tình có thể xảy ra. Người lao động giảm niềm tin
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vào chế độ, vào khả năng lãnh đạo của nhà cầm quyền. Tỷ lệ thất nghiệp là
một trong những chỉ tiêu đánh giá uy tín của nhà cầm quyền.
4. Chính sách và biện pháp khắc phục tình trạng thất nghiệp
Thất nghiệp tác động mạnh mẽ đến kinh tế xã hội, đến suy nghĩ và
hành động của con người. Khắc phục tình trạng thất nghiệp không những
tạo điều kiện để kinh tế phát triển mà còn thúc đẩy sự ổn định của xã hội.
Một xã hội có nền kinh tế phát triển, tỷ lệ thất nghiệp thấp, kỷ luật, kỷ
cương xã hội được thiết lập, duy trì và đẩy mạnh thì các tệ nạn xã hội cũng
bị đẩy lùi. Theo thực tế mà mỗi nước có chính sách và những biện pháp
giải quyết khác nhau. Dưới đây xin đưa ra một số chính sách và biện pháp
giải quyết tình trạng thất nghiệp mà các nước đã và đang áp dụng.
4.1. Chính sách dân số
Chính sách này đã và đang được áp dụng ở nhiều nước như: Ấn Độ,
Trung Quốc, Indonesia, Việt Nam...Thực hiện chính sách này có nghĩa là
thực hiện các chương trình kế hoạch hoá gia đình, can thiệp sức khoẻ giảm
tỉ lệ sinh để từ đó giảm được tỷ lệ gia tăng dân số, nguồn lao động. Hạ thấp
tỉ lệ gia tăng dân số có nghĩa là giảm được tỷ lệ tăng lực lượng lao động từ
đó tạo thêm cơ hội tìm kiếm việc làm.
4.2. Ngăn cản di cư từ nông thôn ra thành thị
Ta thường thấy tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị thường cao hơn nông thôn
do một bộ phận dân cư nông thôn vẫn có xu hướng di cư ra thành thị để
tìm việc làm. Bởi lẽ tâm lý người dân thường thích sống ở thành thị nơi có
quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng họ có thể kiếm thu nhập cao hơn.
Chính điều này cũng gây ra một số lượng lớn người dân ở thành thị lâm
vào tình trạng thất nghiệp. Bởi vậy với những vùng tập trung dân cư đông
đúc như: thành phố,các khu công nghiệp...cần có chính sách di dân và phân
Để góp phần giải quyết khó khăn và ổn định cuộc sống cho người lao
động khi họ thôi việc hoặc mất việc làm do doanh nghiệp phá sản, giải thể,
tinh giảm biên chế...doanh nghiệp sẽ trợ cấp cho người lao động một khoản
tiền để trợ cấp do họ có một quá trình đóng góp để tạo nên phúc lợi cho
doanh nghiệp, thực chất là phần lợi nhuận mà trước đây người lao động đã
tham gia tạo nên. Mức trợ cấp phụ thuộc vào thời gian mà người lao động
làm cho doanh nghiệp trước khi họ bị thôi việc,mất việc làm. Tuy vậy một
khó khăn gặp phải đó là khi doanh nghiệp có nhiều người thôi việc khi
doanh nghiệp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, do vậy sẽ gặp khó khăn
trong việc chi trả cho người lao động .
4.7. Trợ cấp thất nghiệp
Đây là một trong những chế độ của BHXH mà tổ chức lao động quốc
tế (ILO) đã khuyến cáo từ năm 1952 và cho đến nay đã có nhiều nước thực
hiện. Sau khi bị thất nghiệp người lao động được nhận một khoản tiền để
ổn định cuộc sống và xúc tiến tìm việc làm mới. Khoản trợ cấp này được
lấy từ quỹ bảo hiểm quốc gia, với điều kiện người nhận bảo hiểm trợ cấp
phải có quá trình đóng góp vào quỹ trước khi bị thất nghiệp. Thực hiện trợ
cấp thất nghiệp do Nhà nước thực hiện kết hợp với liên đoàn lao động. Liên
đoàn lao động thực hiện cho thành viên của mình là người lao động làm
trong các doanh nghiệp không may bị thất nghiệp, còn Nhà nước thực hiện
với những đối tượng còn lại. Số tiền trợ cấp từ phía Nhà nước được lấy từ
ngân sách .
4.8. Bảo hiểm thất nghiệp
Đây là một chính sách nằm trong hệ thống các chính sách kinh tế xã
hội của các quốc gia. Bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phận của BHXH
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhưng vì nhiều lý do khác nhau nó đã dần tách khỏi BHXH. Ngày nay,
BHTN được coi là một trong những chính sách có vai trò to lớn khắc phục
tình trạng thất nghiệp.
lao động.
Cùng với thiếu việc làm ở nông thôn, thất nghiệp ở thành thị là vấn đề
lớn và bức xúc hiện nay. Bởi vậy Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều
chính sách và đã có nhiều biện pháp giải quyết vấn đề này như: Đổi mới
giáo dục, đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động, tạo điều
kiện cho những người mới bước vào thị trường lao động, người thất nghiệp
thích nghi với môi trường .
2. Sự cần thiết phải Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Vấn đề lao động luôn là một trong những điểm nóng của doanh
nghiệp Nhà nước cũng như tư nhân nhiều nơi trên thế giới. Tại Việt Nam,
trong thời kỳ hội nhập kinh tế toàn cầu, doanh nghiệp nhà nước luôn bị áp
lực tài chính do có số lao động dôi dư từ trước để lại khá cao và do tay
nghề của lao động thấp hơn so với nhu cầu hiện tại của thị trường. Ở nhiều
nước theo nền kinh tế tập trung hay Xã hội chủ nghĩa, nhiều doanh nghiệp
nhà nước thường gặp khó khăn tài chính khó có thể đứng vững vì không
thể dễ dàng giảm thiểu số lao động dôi dư khi cần thiết. Nhu cầu ổn định xã
hội của Chính phủ thường không cho phép các doanh nghiệp nhà nước hoạt
động theo cơ chế thị trường.Trong trường hợp này tâm lý chung của người
đi làm, lao động trí óc hay lao động chân tay, đều muốn có công ăn việc
làm ổn định và được hưởng các phúc lợi xã hội. Sự vắng mặt của các quỹ
hay chương trình BHTN, các tổ chức thương mại thường đẩy nhiều người
đi tìm cơ hội làm việc trong các cơ quan công quyền hay các doanh nghiệp
nhà nước mặc dù lương có thể rất thấp so với khả năng và thị trường.
13