Tổng quan về ngành thép Việt Nam và sự cần thiết đầu tư phát triển ngành thép - Pdf 69

Tổng quan về ngành thép Việt Nam và sự cần thiết đầu
t phát triển ngành thép
1 Tình hình tài nguyên trong nớc phục vụ ngành thép
a) Quặng sắt
Đến nay ngành địa chất đã phát hiện đợc trên 200 điểm quặng sắt lớn nhỏ
trong cả nớc, trong đó 91 mỏ và điểm quặng đáng kể đã thăm dò ở các mức độ
khác nhau có tổng trữ lợng địa chất khoảng 1,2 tỷ tấn, trong đó trữ lợng đã thăm dò
trên 1 tỷ tấn. Có 6 mỏ và và khu vực chứa quặng sắt tơng đối lớn và tập trung là
Thạch Khê, Quý Xa, Trại Cau, Tiến Bộ, Cao Bằng, Hà Giang có trữ lợng địa chất
khoảng 850 triệu tấn, trong đó trữ lợng chắc chắn có thể khai thác đợc đánh giá đến
thời điểm hiện nay khoảng 400 triệu tấn. Trong đó tổng số các mỏ, điểm quặng sắt
đã đợc tính trữ lợng, mới chỉ có mỏ Trại Cau đợc khai thác ở quy mô công suất 7,5
triệu tấn quặng nguyên khai, thu gần 4 triệu tấn quặng tinh, đến any mỏ Trại Cau
đã đợc khai thác gần hết, trữ lợng còn lại khoảng 3,6 triệu tấn nhng nằm phân tán
rất khó khai thác. Các mỏ khác mới chỉ thăm dò sơ bộ, một số mỏ thăm dò chi tiết
nhng trữ lợng nhỏ, điều kiện khai thác, vận tải khó khăn, không đảm bảo hiệu quả
đầu t.
b) Than mỡ
Là nguyên liệu cha thể thay thế trong công nghệ sản xuất gang lò cao. Tuy nhiêkhai
thác nguồn than mỡ của Việt Nam rất hạn chế cả về tiềm năng và trữ lợng có thể
huy động vào khai thác. Mặt khác, chất lợng than mỡ trong nớc không cao, ảnh h-
ởng rất lớn tới khả năng sản xuất cốc luyện kim. Hiện nay, trữ lợng khai thác ở
vùng Thái Nguyêkhai thác chỉ còn 3,6 triệu tấn, không đủ cho các lò cao nhỏ của
công ty gang thép Thái Nguyêkhai thác sử dụng lâu dài. Trong tơng lai khi xây
dựng các nhà máy thép liêkhai thác hợp theo công nghệ truyền thống có sử dụng lò
cao luyện gang chúng ta sẽ phải nhập khẩu toàkhai thác bộ mỡ để đáp ứng nhu cầu
sản xuất.
c) Than Atraxit và các loại than gầy khác
Nớc ta có tiềm năng lớn về than Antraxit với trữ lợng chắc chắn vào khoảng
3,4 tỷ tấn, tổng trữ lợng địa chất khoảng 6,6 tỷ tấn. Hiện nay mới chỉ khai thác trên
10 triệu tấn/năm tập trung ở Quảng Ninh. Đây là tiềm năng to lớn cho ngành thép

nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu.
g) Nguồn nguyên liệu thép phế
Nguồn thép phế trong chiến tranh đã và sử dụng hết từ nhiều năm trớc.
Nguồn thép phế thải ra từ sản xuất và tiêu dùng trong xã hội rất hạn chế do
nền kinh tế còn kém phát triển, mức sống dân c còn thấp. Do vậy, hiện nay cả nớc
chỉ có khả năng thu gom đợc khoảng trên dới 300.000 tấn/năm. Lợng thép phế thải
ra sẽ tăng dần cùng với sự tăng trởng tiêu thụ thép của toàn xã hội, song trong 10
năm tới cha thể trở thành nguồn cung cấp đáng kể cho các lò điện hiẹn có và sẽ xây
dựng.
Từ năm 1995 đến nay, ngành thép sản xuất phôi thép chủ yếu bằng lò điện.
Tuy nhiên, do có khó khăn về nguồn thép phế nên chỉ huy động đợc khoảng 60%
tổng công suất các lò điện, hàng năm đều phải nhập khẩu một lợng lớn phôi thép để
cán. Để đáp ứng cho các lò điện, một mặt sẽ phải tăng cờng phá vỡ tàu cũ, mặt
khác phải đầu t sản xuất sắt xốp và nhập khẩu sắt phế. Về lâu dài, nguyên liệu chủ
yếu cho luyện thép vẫn là gang.
Tóm lại, nớc ta có tiềm năng đáng kể về quặng sắt, chất trợ dung, nguyên
liệu sản xuất Ferro và gạch chịu lửa, than Atraxit và khí thiên nhiên phục vụ phát
triển ngành thép Việt Nam.
Cơ sở tài nguyên trong nớc tuy khá phong phú và đa dạng song vẫn có những
hạn chế nhất định về trữ lợng, chất lợng, điều kiện khai thác và vận chuyển không
thuận lợi cho việc phát triển sản xuất thép đi hoàn toàn từ nguyên liệu trong nớc. Vì
vậy, việc nhập khẩu quặng sắt, than mỡ, thép phế, một số loại vật liệu cao cấp là
cần thiết để phát triển ngành thép một cách nhanh chóng và hiệu quả.
2 Hiện trạng ngành thép về trình độ công nghệ và trang thiết bị
Cho đến trớc năm 2000 các dây chuyền cán thép tại các nhà máy phần lớn đ-
ợc chế tạo từ Trung Quốc, Đài Loan với chất lợng thiết bị rất hạn chế và còn kém
xa so với các nớc công nghiệp tiên tiến nh Nhật, Đức, ý, Mỹ, Pháp... Do đó mà sản
phẩm thép của các nhà máy này khó có thể cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại
ngoại nhập.
Tại các nhà máy liên doanh ở Việt Nam, trong số 5 dây chuyền cán thép liên

Biện pháp đúc nối tiếp cha đợc áp dụng.
Trong tơng lai phải có biện pháp cụ thể để tăng sản lợng thép. Tuy nhiên việc
tăng năng suất này phải đi đôi với việc tăng thu mua thép phế là yếu tố chính hạn
chế sản lợng các nhà máy.
Công nghệ cán thép.
Về các sản phẩm thép thanh, thép hình:
Có 16 nhà máy sản xuất trên 95% khối lợng các sản phẩm thép thanh, thép
hình ở Việt Nam. Tuy vậy, chỉ có 2 nhà máy liên doanh là loại liên tục hiện đại, còn
lại các nhà máy khác thuộc loại nhỏ có công suất nhỏ và công nghệ bán liên tục.
Các sản phẩm dẹt:
Hiện tại vẫn cha có nhà máy cán sản phẩm dẹt đợc xây dựng ở Việt Nam,
chỉ có một vài liên doanh với các công ty nớc ngoài mới đi vào hoạt động để sản
xuất thép tấm, lá mạ kẽm, ống thép...
Hiện trạng các nhà máy sản xuất sản phẩm dẹt đợc mô tả dới đây:
Dây chuyền tôn mạ kẽm: Hiện có 3 liên doanh đã bắt đầu đi vào hoạt động
sản xuất từ năm 1996.
Dây chuyền mạ điện thiếc hiện đại cha có.
Nhà máy cán thép tấm, lá, nóng và nguội. Tại Phú Mỹ đã bắt đầu xây dựng
vào năm 2001.
Nhà máy sản xuất ống thép hàn có 2 liên doanh trong lĩnh vực xây dựng ống
thép hàn điện, còn về xây dựng ống thép hàn xoắn cha có nhà máy nào.
Nhìn chung, trang thiết bị trong toàn ngành thép đã có nhiều tiến bộ, tăng tr-
ởng khá nhanh về số lợng, chất lợng, cơ cấu sản phẩm cũng đa dạng hơn tuy nhiên
vẫn còn trong tình trạng kém phát triển so với một số nớc trong khu vực, các dây
chuyền sản xuất chủ yếu thuộc loại công suất nhỏ, sản xuất manh mún, hiệu quả
sản xuất không cao; nhiều liên doanh không sử dụng hết công suất( tỉ lệ sử dụng
công suất đạt thấp) gây lãng phí lớn.
3 Cơ cấu sản xuất ngành thép hiện nay
Hiện nay, ở Việt Nam có khoảng 50 doanh nghiệp tham gia sản xuất thép
xây dựng chỉ tính các dây chuyền cán có công suất trên 5.000 tấn/năm. Trong đó,

độ công nghệ thấp, thiếu đồng bộ. Chất lợng sản phẩm còn hạn chế, nhất là khu
vực t nhân.
Cơ cấu mặt hàng sản xuất hẹp, đơn điệu, mới cán đợc các sản phẩm dài, cha
có sản phẩm dẹt cán nóng, cán nguội. Sản xuất gia công sau cán mới có ống hàn,
tôn mạ kẽm và chế phẩm dây, đinh, lới
Năng lực sản xuất phôi thép quá nhỏ bé, các nhà máy và cơ sở cán thép còn
phụ thuộc nhiều vào phôi thép nhập khẩu. Toàn bộ sản phẩm cán dẹt trong nớc cha
sản xuất đợc, phải nhập khẩu.
Chi phí sản xuất còn cao, năng suất lao động thấp, giá thành không ổn định
do phụ thuộc vào phôi thép nhập khẩu, nên tính cạnh tranh cha cao. Khả năng xuất
khẩu của sản phẩm thép còn hạn chế.
Tóm lại, nhìn một cách khái quát, ngành thép Việt Nam vẫn còn trong tình
trạng sản xuất nhỏ, phân tán, nặng về gia công chế biến từ phôi và thành phẩm
nhập khẩu, cha có nhà máy lớn làm trụ cột đủ sức chi phối toàn ngành, chi phối thị
trờng và thu hút các vệ tinh. Để cải thiện vị thế của ngành nhằm đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ đặt ra trong thời kỳ mới, chủ động tham gia quá trình hội nhập quốc tế,
ngành thép cần phải đợc đầu t mạnh mẽ để hiện đại hoá, nâng cao năng suất và chất
lợng sản phẩm, tăng cờng sức cạnh tranh, tiến tới khắc phục sự mất cân đối trong
cơ cấu sản xuất hiện nay.
5 Vai trò của ngành thép trong nền kinh tế
Ngành thép là ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, sự
phát triển của ngành thép có tác động trực tiếp, quan trọng tới các ngành kinh tế
nh ngành xây dựng, ngành giao thông vận tải, ngành công nghiệp chế tạo, công
nghiệp đóng tàu, sản xuất ô tô xe máy, sản xuất đồ gia dụng, công nghiệp quốc
phòng, công nghiệp khai khoáng, công nghiệp điện. Ngoài ra, việc phát triển ngành
thép còn tác động gián tiếp đến sự phát triển của các ngành khác trong nền kinh tế.
Đối với ngành xây dựng, thép là vật liệu cấu tạo vào thực thể công trình.
Hoạt động kinh tế nào cũng cần có cơ sở vật chất tơng ứng nh văn phòng, máy móc
thiết bị, hoạt động xây lắp cũng đều đòi hỏi nguyên liệu thép. Trong thời gian qua
ngành xây dựng nớc ta rất phát triển, hàng loạt các cơ sở hạ tầng nh điện- đờng

xuất của ngành này.
Nh vậy, qua đó thấy đợc thép có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển
của một số các ngành công nghiệp nớc ta hiện nay.
6 Sự cần thiết đầu t phát triển ngành thép
Từ những phân tích trên ta thấy:
Về tài nguyên trong nớc phục vụ phát triển ngành thép, nớc ta có tiềm năng
đáng kể về quặng sắt, chất trợ dung, nguyên liệu sản xuất Ferro và gạch chịu lửa,
than Atraxit và khí thiên nhiên phục vụ phát triển ngành thép Việt Nam.
Cơ sở tài nguyên trong nớc khá phong phú và đa dạng song vẫn có những
hạn chế nhất định về trữ lợng, chất lợng, điều kiện khai thác và vận chuyển không
thuận lợi.
Về hiện trạng trình độ công nghệ và trang thiết bị, vẫn còn trong tình trạng
kém phát triển so với một số nớc trong khu vực, các dây chuyền sản xuất lạc hậu,
chủ yếu thuộc loại công suất nhỏ, sản xuất manh mún, hiệu quả sản xuất không
cao.
Đối với cơ cấu sản xuất của ngành thép hiện nay vẫn còn thiếu đồng bộ, mất
cân đối giữa sản xuất phôi với sản xuất thép cán, giữa cơ cấu mặt hàng và cơ cấu
chất lợng sản phẩm.
Ngành thép Việt Nam vẫn còn trong tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, nặng
về gia công chế biến từ phôi và thành phẩm nhập khẩu, cha có nhà máy lớn làm trụ
cột đủ sức chi phối toàn ngành, chi phối thị trờng và thu hút các cơ sở vệ tinh.
Ngành thép là ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, việc
đầu t phát triển của ngành thép có tác động hết sức quan trọng tới các ngành kinh tế
nh ngành xây dựng, ngành giao thông vận tải, ngành công nghiệp chế tạo, công
nghiệp đóng tàu, sản xuất ô tô xe máy, sản xuất đồ gia dụng, công nghiệp quốc
phòng, công nghiệp khai khoáng, công nghiệp điện. Ngoài ra, việc phát triển
ngành thép còn tác động gián tiếp đến sự phát triển của các ngành khác trong nền
kinh tế.
Vì vậy việc đầu t phát triển ngành thép mang tính chất tất yếu khách quan.
Chơng 2

Từ năm 1976 đến năm 1989 ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế
đất nớc lâm vào khủng hoảng. Mặt khác các nguồn thép nhập khẩu từ Liên Xô và
các nớc XHCN vẫn còn dồi dào, vì vậy ngành thép chỉ duy trì mức sản lợng 40.000
- 85.000 tấn/năm.
Từ năm 1989 đến năm 1995: Thực hiện chủ trơng đổi mới, mở của của
Đảng, ngành thép đã khắc phục đợc khó khăn và bắt đầu tăng trởng mạnh, sản lợng
thép trong nớc đã vợt qua ngỡng cửa 100.000 tấn/năm. Năm 1990 Liên Xô và khối
SEV tan rã, nguồn cung ứng thép cho Việt Nam bị cắt giảm cũng là nhân tố quan
trọng để thúc đấy ngành thép phát triển mạnh để bù đắp vào sự thiếu hụt. Năm
1990 Tổng công ty thép Việt Nam thuộc Bộ Công nghiệp nặng đợc thành lập, thống
nhất quản lý ngành sản xuất thép quốc doanh trong cả nớc. Đây là thời kỳ phát
triển mạnh, nhiều dự án đầu t chiều sâu và liên doanh với nớc ngoài đợc thực hiện.
Các ngành và các thành phần kinh tế khác đua nhau làm thép mini. Sản lợng thép
cán năm 1995 tăng gấp 4 lần năm 1990, đạt 4500.000 tấn/năm và bằng mức Liên
Xô cung cấp cho nớc ta hàng năm trớc 1990.
Thời kỳ 1996 - 2000 ngành thép vẫn giữ đợc tốc độ tăng trởng khá cao, tiếp
tục đợc đầu t mới và đầu t chiều sâu mạnh mẽ. Đã hoàn thành và đa vào hoạt động
13 dự án liên doanh, trong đó có 12 nhà máy liên doanh cán thép và gia công chế
biến sau cán. Sản lợng cả nớc năm 1999 đạt 1,4 triệu tấn/năm gấp 3 lần năm 1995
gấp 14 lần năm 1990. Lực lợng tham gia sản xuất và gia công chế biến thép trong
nớc đã đợc phát triển rất đa dạng, nhiều thành phần kinh tế ngoài Tổng công ty thép
Việt Nam và các cơ sở quốc doanh thuộc các ngành, địa phơng khác, còn có lực l-
ợng đáng kể của các doanh nghiệp và khu vực t nhân.
Từ năm 1990 đến năm 1999 riêng Tổng công ty thép Việt Nam đã đầu t
chiều sâu trên 650 tỷ đồng để cải tạo nâng cấp, đổi mới thiết bị các cơ sở hiện có và
góp vốn pháp định trị giá 33 triệu USD để liên doanh với nớc ngoài 14 dự án trong
đó có 12 nhà máy cán thép và gia công sau cán với tổng số vốn đầu t 233 triệu
USD.
2 Vị trí của Tổng công ty thép Việt Nam trong ngành thép
Tổng công ty thép Việt Nam là một pháp nhân kinh doanh, hoạt động theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status