1
MỞ ĐẦU
Những năm gần đây du lòch Bình Thuận ngày càng phát triển và trở thành
một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, thu hút nhiều nhà đầu tư, du khách trong
và ngoài nước. Từ một vùng đất ven biển còn hoang sơ cách đây không lâu, đến
nay Bình Thuận đang được biết đến như một trung tâm du lòch nghỉ dưỡng nổi
tiếng trong cả nước, có sức thu hút mạnh mẽ du khách trong nước và quốc tế.
Để đẩy mạnh tốc độ phát triển du lòch Bình Thuận ngày càng tăng, thực
hiện Nghò quyết 19-NQ/TU ngày 25/3/2004 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình
Thuận (khoá X) về phát triển du lòch đến năm 2010, ngày 15/3/2005 UBND tỉnh
Bình Thuận đã ban hành “Chương trình hành động của UBND tỉnh về phát triển
du lòch đến năm 2010”. Chương trình hành động này đã đề ra các quan điểm, mục
tiêu, yêu cầu, nội dung chương trình và các chính sách, giải pháp phát triển du
lòch Bình Thuận đến năm 2010 để thực hiện mục tiêu đưa du lòch trở thành một
ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đòa
phương và làm dòch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, góp phần thực
hiện chiến lược phát triển ngành mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã vạch
ra: " Phát triển du lòch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn; nâng cao
chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự
nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lòch sử, đáp ứng nhu cầu du lòch trong
nước và phát triển nhanh du lòch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lòch của
khu vực. Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lòch trọng
điểm, đẩy mạnh hợp tác và liên kết với các nước."
Thời gian qua, mặc dù Bình Thuận đã đạt được những kết quả khả quan
trong việc thu hút vốn cho đầu tư phát triển du lòch, thể hiện qua số lượng vốn
đầu tư tăng nhanh, các kênh huy động vốn từng bước được đa dạng hoá, thu hút
nhiều thành phần tham gia đầu tư. Tuy nhiên công tác huy động và sử dụng vốn
đầu tư phát triển du lòch Bình Thuận cũng còn khó khăn, chưa đáp ứng yêu cầu
Ngành du lòch hiện đại hình thành trong thế kỷ XIX cùng với sự phát triển
của nền văn minh công nghiệp, và từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đã trở
thành một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng mạnh và chắc chắn của kinh
tế thế giới. Khái niệm về du lòch cũng đã có những thay đổi theo sự phát triển
của ngành. Nếu xem xét du lòch như là một hiện tượng xã hội, hiện tượng nhân
văn làm phong phú thêm nhận thức và cuộc sống con người, Tổ chức du lòch thế
giới (WTO : World Tourism Organization) đã đưa ra đònh nghóa :”Du lòch bao
gồm những hoạt động của những người đi đến một nơi khác ngoài nơi cư trú
thường xuyên của mình trong thời hạn không quá một năm liên tục để vui chơi, vì
công việc hay vì mục đích khác không liên quan đến những hoạt động kiếm tiền
ở nơi mà họ đến”. Nếu xem du lòch không chỉ đơn thuần là hiện tượng xã hội mà
còn là hoạt động kinh tế, nó được coi là toàn bộ các hoạt động mà mục tiêu là kết
hợp hoạt động của các đối tượng tham gia vào quá trình, kết hợp giá trò của các
tài nguyên du lòch thiên nhiên và nhân văn với các dòch vụ, hàng hóa để tạo ra
sản phẩm du lòch đáp ứng nhu cầu của khách.
Với tư cách là đối tượng nghiên cứu của du lòch học, theo tôi khái niệm du
lòch phản ảnh các mối quan hệ bản chất bên trong, làm cơ sở cho việc nghiên
cứu các xu hướng và các quy luật phát triển của nó ; theo góc độ này du lòch là
những hoạt động và mối quan hệ phát sinh do sự tác động qua lại lẫn nhau giữa
khách du lòch, người kinh doanh du lòch, chính quyền và cộng đồng dân cư đòa
phương trong quá trình thu hút, tiếp đón và phục vụ khách du lòch.
- Du khách: Cũng theo đònh nghóa của Tổ chức Du lòch Quốc tế, khách viếng
(visistors) là những người rời khỏi nơi cư trú của mình đến nơi khác không quá
một năm và không vì mục đích kiếm tiền ; du khách (tourists) là những khách
viếng có lưu trú qua hơn một đêm tại nơi đến ; khách viếng trong ngày (same-day 4
visistors) không có lưu trú qua đêm tại nơi đến. Khách du lòch quốc tế là những
khách mà nơi cư trú là một quốc gia khác với quốc gia nơi đến du lòch ; khách du
khuyến khích phát triển. Với yêu cầu phải ngày càng phát huy các tác động tích 5
cực, hạn chế những tác động tiêu cực của du lòch lên các yếu tố môi trường, nội
dung cơ bản của du lòch sinh thái không đơn thuần là những hoạt động du lòch
diễn ra ở những vùng giàu tiềm năng về sinh thái tự nhiên, về giá trò văn hóa mà
tập trung vào mức độ trách nhiệm của con người đối với môi trường ; không chỉ
dừng lại ở mức độ thụ động là hạn chế tối đa các suy thoái môi trường do du lòch
tạo ra, mà còn phải chủ động đóng góp vào sự phát triển môi trường của các
vùng du lòch : “Du lòch sinh thái là loại hình du lòch dựa vào thiên nhiên và văn
hóa bản đòa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát
triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng đòa phương”.
Giữa thập niên 90, xuất hiện khái niệm mới là phát triển du lòch bền vững.
WTO cho rằng :”Phát triển du lòch bền vững thỏa mãn những nhu cầu hiện tại
của du khách và các vùng đón khách trong khi vẫn bảo vệ và nâng cao các cơ hội
cho tương lai. Phát triển du lòch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các nguồn
tài nguyên theo một cách nào đó để vừa đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và
thẩm mỹ trong khi vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, sự
đa dạng sinh học và các hệ thống đảm bảo sự sống”.
1.1.2 CHIẾN LƯC PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA VIỆT NAM
Với mục tiêu tổng quát là đưa ngành du lòch thành một ngành kinh tế mũi
nhọn trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái,
truyền thống văn hóa, lòch sử, huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ
sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế ; từng bước đưa Việt Nam trở thành một trung tâm du
lòch có tầm cỡ của khu vực ; chiến lược phát triển du lòch của nước ta giai đoạn
2001 – 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết đònh số 97/2002/QĐ-
TTg ngày 22/7/2001 đã đề ra một số nội dung chính :
Tốc độ tăng trưởng GDP của ngành du lòch bình quân trong thời kỳ này đạt
từ 11 – 11,5%/năm. Đến 2005 khách quốc tế vào Việt Nam du lòch từ 3 – 3,5
du lòch đặc trưng của vùng là du lòch tham quan, nghỉ dưỡng biển và núi để khai
thác thế mạnh du lòch của dải ven biển Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, du lòch
sông nước, du lòch sinh thái đồng bằng châu thổ sông Cửu Long.
Là một trong các khu du lòch trọng điểm của quốc gia ; một trong những
đòa bàn tăng trưởng du lòch của Á vùng du lòch Nam Trung Bộ, du lòch tỉnh Bình
Thuận được khẳng đònh là cần phải tập trung tạo ra sự phát triển nhanh, trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn vào sau năm 2010, góp phần quan trọng vào việc thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn tỉnh, thúc đẩy chuyển dòch cơ
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ ,CÁC CÔNG
CỤ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ
1.2.1 Vốn đầu tư và các công cụ huy động vốn đầu tư
1.2.1.1 Khái niệm về vốn đầu tư 7
Tài sản của một quốc gia bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài sản được sản
xuất ra và tích luỹ lại trong suốt quá trình hình thành và phát triển, nguồn nhân
lực và tri thức. Quá trình phát triển của mổi nước luôn đặt ra yêu cầu phải tạo ra
tài sản mới nhằm bù đắp những tài sản tiêu hao trong quá trình sử dụng, đồng
thời không ngừng tăng thêm khối lượng tài sản quốc gia. Để tạo ra tài sản mới
phải đầu tư những yếu tố cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh như công
cụ, máy móc, nguyên vật liệu, lao động, công nghệ… tất cả các yếu tố đó được
xem là nguồn vốn đầu tư để tạo ra thu nhập, tài sản cho quốc gia.
Vốn đầu tư hiểu theo nghóa rộng là toàn bộ nguồn lực đưa vào hoạt động
của nền kinh tế - xã hội, gồm máy móc thiết bò, nhà xưởng, lao động, tài nguyên,
đất đai, khoa học công nghệ ...Vốn hiểu theo nghóa hẹp là nguồn lực được thể
hiện bằng tiền của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và của quốc gia.
Hoạt động đầu tư là việc sử dụng vốn để phục hồi và tạo ra năng lực sản
xuất kinh doanh mới. Đó là quá trình chuyển hoá vốn thành các yếu tố phục vụ
- Đầu tư cho giáo dục và đào tạo: Đầu tư cho giáo dục và đào tạo nhằm
phát triển tiềm năng con người có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của
nền kinh tế . Vì vậy, những nước có thành công nổi bật trong kinh tế thường là
những nước chú trọng đầu tư lớn cho giáo dục đào tạo. Nhận thức được tầm quan
trọng của giáo dục đào tạo đối với sự phát triển kinh tế , chính phủ các nước
thường dành một phần đáng kể ngân sách để chi cho giáo dục đào tạo. Cùng với
sự đầu tư của chính phủ, các nước còn cho phép huy động thêm các nguồn đầu tư
khác như tư nhân, viện trợ, các tổ chức phi chính phủ … để phát triển giáo dục và
đào tạo.
- Đầu tư cho khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ đóng vai trò nền
tảng và động lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Việc đầu tư vốn
cho khoa học công nghệ sẽ tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự phát triển nhanh
và bền vững. Phát triển khoa học công nghệ là hoạt động đòi hỏi phải đầu tư vốn
lớn, lâu dài, phải có đủ vốn và chấp nhận rủi ro trong quá trình nghiên cứu, triển
khai. Hoạt động khoa học công nghệ chủ yếu dựa vào các nguồn: Vốn do ngân
sách nhà nước cấp; Kinh phí thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học; Vốn
do liên doanh, liên kết với các tổ chức khác và Vốn viện trợ của các tổ chức
chính phủ, phi chính phủ, tài trợ của cá nhân trong và ngoài nước.
1.2.1.3 Các nguồn huy động vốn đầu tư
Trong tổng thu nhập của mỗi nước, sau khi trừ đi phần tiêu dùng, còn lại là
phần để bù đắp và tích luỹ. Quỹ bù đắp và quỹ tích luỹ chính là nguồn gốc hình
thành vốn đầu tư , trong đó quỹ tích luỹ là bộ phận quan trọng nhất.
Quỹ tích luỹ được hình thành từ các khoản tiết kiệm. Nền kinh tế càng
phát triển thì tỉ lệ tích luỹ càng cao. Đối với các nước đang phát triển, do thu 9
nhập còn thấp nên quy mô và tỉ lệ tích lũy đều thấp, trong khi nhu cầu về vốn
đầu tư rất cao, do đó rất cần đến nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Mặt khác,
trong xu hướng chu chuyển vốn quốc tế và toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, ngay cả
10
đònh kinh tế vó mô…
Tiết kiệm của dân cư là phần tiết kiệm của các hộ gia đình và các cá
nhân, tổ chức đoàn thể xã hội. Đây là phần còn lại của thu nhập sau khi đã đóng
thuế và sử dụng cho mục đích tiêu dùng. Mức độ tiết kiệm của dân cư phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như: mức thu nhập bình quân đầu người, chính sách lãi suất,
chính sách thuế và sự ổn đònh kinh tế vó mô. Tiết kiệm của dân cư giữ vai trò
quan trọng trong hệ thống tài chính, do khả năng chuyển hoá nhanh chóng thành
nguồn vốn cho đầu tư thông qua các hình thức gởi tiết kiệm, mua chứng khoán,
trực tiếp đầu tư... Tiết kiệm dân cư cũng dễ dàng chuyển thành nguồn vốn đầu tư
của Nhà nước bằng cách mua trái phiếu chính phủ, hoặc chuyển thành nguồn vốn
đầu tư của doanh nghiệp qua việc mua trái phiếu, cổ phiếu của các công ty phát
hành.
Tóm lại, tiết kiệm là một quá trình nền kinh tế dành ra một phần thu nhập
ở hiện tại để tạo ra nguồn vốn cung ứng cho đầu tư phát triển, qua đó nâng cao
hơn nữa nhu cầu tiêu dùng trong tương lai. Tuy vậy, đối với những nền kinh tế
đang chuyển đổi, bước đầu thực hiện chính sách công nghiệp hóa do nguồn tiết
kiệm trong nước thấp không đáp ứng đủ nhu cầu vốn nên cần phải thu hút nguồn
vốn nước ngoài để tạo ra cú hích cho sự đầu tư phát triển nền kinh tế.
2) Nguồn hình thành vốn đầu tư nước ngoài
So với nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có ưu thế là mang lại
ngoại tệ cho nền kinh tế. Tuy vậy, nguồn vốn nước ngoài lại luôn chứa ẩn những
nhân tố tiềm tàng gây bất lợi cho nền kinh tế, đó là sự lệ thuộc; nguy cơ khủng
hoảng nợ; sự tháo chạy đầu tư; sự gia tăng tiêu dùng và giảm tiết kiệm trong
nước…Như vậy, vấn đề huy động vốn nước ngoài đặt ra những thử thách không
nhỏ trong chính sách huy động vốn của các nền kinh tế đang chuyển đổi, đó là:
một mặt, phải ra sức huy động vốn nước ngoài để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn cho
công nghiệp hóa; mặt khác,phải kiểm soát chặc chẽ sự động vốn nước ngoài để
tiếp nhận. Nguồn vốn ODA bao gồm viện trợ không hoàn lại, các khoản cho vay
với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, khối lượng vốn vay và thời hạn thanh
toán, nhằm vào hổ trợ cán cân thanh toán, hổ trợ các chương trình, dự án…
Nguồn vốn ODA tuy có ưu điểm về chi phí sử dụng, nhưng các nước tiếp
nhận viện trợ thường xuyên phải đối mặt với những thử thách rất lớn đó là gánh
nặng nợ quốc gia trong tương lai, chấp nhận những điều kiện và ràng buộc khắt
khe về thủ tục chuyển giao vốn, đôi khi còn gắn cả những điều kiện về chính trò.
Bên cạnh đó, do trình độ quản lý của các nước đang phát triển còn thấp cho nên
hiệu quả sử dụng nguồn vốn này không cao, làm cho nhiều nước lâm vào cảnh nợ
nần chồng chất và nền kinh tế không phát triển được. Vì vậy, vấn đề quan trọng
là cần phải nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA để đạt được
những mục tiêu phát triển kinh tế đã đề ra. 12
+ Phát hành chứng khoán trên thò trường tài chính quốc tế. Ưu điểm của
phương thức này là huy động vốn trực tiếp , không phải thông qua các tổ chức tài
chính trung gian nên chi phí sử dụng vốn thấp hơn các khoản vay tín dụng. Người
đi vay có thể là doanh nghiệp và chính phủ. Tuy vậy, việc tìm kiếm vốn trên thò
trường tài chính quốc tế vẫn có nhiều khó khăn và thử thách, đặc biệt là các tiêu
chuẩn tín nhiệm của chứng khoán để được chấp nhận giao dòch tại các thò trường
tài chính quốc tế. Vì các mức tiêu chuẩn tín nhiệm đòi hỏi rất cao nên các
Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO: Non-Government
Organization) là các khoản viện trợ không hoàn lại. Trước đây loại viện trợ này
chủ yếu là vật chất, phục vụ cho mục đích nhân đạo như cung cấp thuốc men cho
các trung tâm y tế, chổ ở và lương thực cho các nạn nhân thiên tai… Hiện nay loại
viện trợ này lại được thực hiện nhiều hơn bằng các chương trình phát triển dài
hạn, có sự hỗ trợ của các chuyên gia như huấn luyện những người làm công tác
bảo vệ sức khỏe, thiết lập các dự án tín dụng, cung cấp nước sạch ở nông thôn…
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp được sử dụng có hiệu quả sẽ có tác dụng thúc
1.2.1.3.4 Các công cụ huy động vốn đầu tư
Huy động vốn đầu tư là quá trình tổ chức khai thác các nguồn lực tài chính
đưa vào phục vụ cho sự đầu tư tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội. Và do
vậy, suy cho cùng đối sách của chính sách huy động vốn là hướng vào nâng cao tỉ
lệ tiết kiệm và đầu tư từ các khu vực kinh tế để gia tăng thêm khối lượng vốn mới
cho nền kinh tế. Các công cụ huy động vốn thường được sử dụng là:
1) Các công cụ thuộc chính sách tài chính - tiền tệ
+Thuế: Thuế là công cụ để nhà nước huy động, tập trung các nguồn lực
tài chính của xã hội vào ngân sách dưới hình thức cưỡng chế, bắt buộc. Tạo lập
nguồn thu cho NSNN là chức năng cơ bản của thuế. Theo kinh nghiệm phát triển,
để có được nguồn thu từ thuế không những đáp ứng cơ bản các nhu cầu chi tiêu
dùng mà còn dành ra một phần thỏa đáng tạo nguồn vốn cho sự đầu tư phát triển,
thì đòi hỏi nhà nước phải thiết lập một hệ thống thuế có hiệu quả, được xây dựng
dựa trên các nguyên tắc cơ bản: Thuế phải thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của
quốc gia, Thuế phải có độ nổi và tính ổn đònh, Thuế phải đảm bảo tính trung lập
và đơn giản.
+ Tín dụng : Tín dụng được xem là chiếc cầu nối giữa các nguồn cung cầu
về vốn tiền tệ trong nền kinh tế. Bằng việc huy động các nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế để bổ sung kòp thời cho những doanh
nghiệp, cá nhân kể cả ngân sách đang gặp thiếu hụt về vốn trên nguyên tắc có
hoàn trả, các tổ chức tín dụng góp phần quan trọng trong việc điều tiết các nguồn
vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bò gián đoạn, đồng
thời còn giúp cho các doanh nghiệp bổ sung vốn đầu tư để mở rộng hoạt động
sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, cải tiến quản lý, từ đó thúc đẩy kinh tế
phát triển. Tín dụng bao gồm tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng. 14
Xét trên góc độ huy động vốn, tín dụng nhà nước là hoạt động đi vay do
nhà nước tiến hành nhằm cân đối ngân sách khi mà nguồn thu thuế và các nguồn
quan trọng thu hút vốn đầu tư từ trong nước mà còn là một nhân tố thúc đẩy huy
động vốn đầu tư từ nước ngoài. 15
+ Các quỹ hổ trợ tài chính nhà nước
Là công cụ tài chính năng động để đa dạng hóa sự huy động các nguồn lực
tài chính của xã hội vào nhà nước, qua đó tiến hành hỗ trợ đầu tư ở một số lónh
vực hay hoạt động có tính chất ưu tiên cần khuyến khích nhằm góp phần thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội. Trên góc độ này, quỹ hổ trợ tài chính của nhà nước
lại có tác dụng rất tích cực trong việc tăng cường thu hút vốn đầu tư của khu vực
kinh tế tư nhân. Như vậy, tính hợp lý việc thành lập và phát triển các quỹ hổ trợ
tài chính không những tạo cho nhà nước có thêm công cụ để gia tăng nguồn lực
tài chính, thực hiện tốt vai trò quản lý vó mô, mà còn góp phần hình thành và phát
triển thò trường tín dụng hỗ trợ của nhà nước để hướng vào khai thác nội lực,
nâng cao tỉ lệ vốn hóa các nguồn tích lũy đưa vào đầu tư phát triển.
2) Thò trường tài chính và các công cụ trên thò trường tài chính
Thò trường tài chính là nơi tập trung các quan hệ cung cầu về vốn và tại đó
các loại chứng khoán được các chủ thể thò trường sử dụng như là công cụ tài
chính để giải quyết nhu cầu giao lưu vốn. Nói một cách cụ thể hơn, trên thò
trường tài chính, đối với người cần vốn, chứng khoán là công cụ tài chính để huy
động vốn đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn, ngắn hạn; còn đối với người thừa vốn ,
thì chứng khoán là công cụ đầu tư để mang lại những khoản thu nhập nhất đònh.
Dựa vào khuôn khổ của luật pháp qui đònh, các chủ thể huy động vốn trên
thò trường tài chính phải chủ động xây dựng chiến lược phát hành chứng khoán
một cách có hiệu quả, trong đó cần minh chứng cho các nhà đầu tư phải thật hấp
dẫn; tạo ra nhiều tiện ích, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các nhà đầu tư…
Đối với nền kinh tế đang chuyển đổi, để thúc đẩy nhanh sự ra đời và phát
triển thò trường tài chính nhằm tạo vốn cho tiến trình công nghiệp hóa, nhà nước
phải chủ động tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự ra đời và vận hành của một
NHTƯ thực hiện thay đổi mức cung tín dụng của các TCTD theo hướng mở rộng
hay thu hẹp. Khi nền kinh tế mở cần mở rộng mức cung tiền tệ, NHTƯ thực hiện
nghiệp vụ mua chứng khoán và ngược lại. Ở một nền kinh tế phát triển công cụ
thò trường mở đã tô thêm vẻ đẹp cho thò trường tài chính và trở thành công cụ có
tính chủ đạo được NHTƯ sử dụng thường xuyên trong việc thực hiện chính sách
tiền tệ và góp phần nâng cao hiệu suất của chính sách huy động vốn. Còn đối với
nền kinh tế đang chuyển đổi, do hệ thống thò trường tài chính hoạt động còn yếu
kém và chứng khoán của nó yếu cả về số lượng và chất lượng, nên việc sử dụng
công cụ này ở mức rất hạn chế.
-Dự trữ bắt buộc: Là số tiền mà các TCTD phải gửi tại NHTƯ theo một tỉ
lệ phần trăm trên tổng số tiền gửi để thực hiện chính sách tiền tệ. Dự trữ bắt
buộc là công cụ có tính pháp đònh. Căn cứ vào các diễn biến tình hình kinh tế và
mục tiêu chính sách tiền tệ, NHTƯ có thể đặt ra yêu cầu dự trữ trong một khuôn
khổ giới hạn mà luật pháp cho phép. 17
- Tỉ giá hối đoái: Gắn liền với sự vận động của hai đồng tiền trong mối
tương quan so sánh sức mua của chúng, tỉ giá hối đoái thực hiện chức năng phân
phối lại thu nhập của những đối tượng có liên quan đến hoạt động thương mại
quốc tế. Do đó, sự tác động của tỉ giá hối đoái đến quá trình huy động vốn của
nền kinh tế được biểu hiện thông qua những ảnh hưởng của nó đến sự thay đổi
tiết kiệm -đầu tư, cán cân thanh toán và sự ổn đònh kinh tế vó mô.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và những nhân tố
ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Hiệu quả của họat động đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện mối quan hệ
so sánh giữa kết quả thực hiện các mục tiêu đặt ra của họat động đầu tư với các
chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kỳ nhất đònh.
Hiệu quả tài chính (Etc) của họat động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu
phát triển họat động SXKD dòch vụ và nâng cao đời sống của người lao động
RRi =
Wipv trên 1 đơn vò vốn đầu tư (1.000đ, 1.000.000đ,…) và mức thu
Iv0
nhập thuần thu được tính cho 1 đơn vò vốn đầu tư npv =
NPV
Iv0
Trong đó: Iv0 – Vốn đầu tư tại thời điểm hiện tại (dự án bắt đầu hoat động)
Wipv – Lợi nhuận thuần năm i tính chuyển về thời điểm hiện tại
NPV – Thu nhập thuần tính chuyển về thời điểm hiện tại.
c)
Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn tự có (rE). Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi
nhuận thuần từng năm tính trên 1 đơn vò vốn tự có bình quân của năm
đó. rE =
Wi
Ei
Trong đó, rE – Tỷ suất sinh lời vốn tự có năm i
Ei – Vốn tự có bình quân năm i
Wi – Lợi nhuận thuần năm i
Nếu tính cho cả đời dự án (npvE) chỉ tiêu này phản ánh mức thu nhập thuần của
cả đời dự án tính cho 1 đơn vò vốn tự có bình quân năm của cả đời dự án.
npvE =
NPV
Epv
d) Chỉ tiêu số lần quay vòng vốn của vốn lưu động:
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn đầu tư. Vốn lưu động quay vòng
càng nhanh, càng cần ít vốn và trong điều kiện khác không đổi, thì hiệu
quả vốùn càng cao.
Có công thức: Lwci =
Oi
Wci
chi phí phải bỏ ra. Điểm hòa vốn được biểu hiện bằng chỉ tiêu hiện vật (sản
lượng tại điểm hòa vốn) và chỉ tiêu giá trò (doanh thu tại điểm hòa vốn). Nếu
sản lượng hoặc doanh thu của cả đời dự án lớn hơn sản lượng hoặc doanh thu
hòa vốn thì dự án có lãi (có hiệu quả) và ngược lại nếu nỏ hơn, dự án bò lỗ
(không có hiệu quả). Điểm hòa vốn càng nhỏ càng tốt, mức độ an tòan của
dự án càng cao, thời gian thu hồi vốn càng ngắn.
Hiệu quả tài chính của họat động đầu tư
Lợi ích kinh tế - xã hội do thực hiện đầu tư được đánh giá từ góc độ nhà
đầu tư và góc độ quản lý vó mô của Nhà nước.
Xuất phát từ góc độ nhà đầu tư, tính các chỉ tiêu đònh lượng và thực hiện
các xem xét mang tính chất đònh tính sau: Mức đóng góp cho ngân sách; Số chỗ
làm việc tăng thêm; Số ngọai tệ thực thu; Mức tăng năng suất lao động; Mức
nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động; Tạo thò trường mới và mức độ
chiếm lónh thò trường của dự án; Nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất; Nâng
cao trình độ quản lý của lao động quản lý; Các tác động khác. 20
Từ thực tiễn của các nước có mức tăng trưởng cao cho thấy vốn là một
nhân tố đặc biệt quan trọng, là chià khoá của sự thành công về tăng trưởng. Nhật
Bản và các nước công nghiệp mới ( NIC) đã đạt được những thành quả vượt bậc
về kinh tế nhờ thực hiện tốt chính sách huy động và đầu tư vốn. Vốn đã đóng góp
hơn 50% mức tăng trưởng thu nhập của các nước này trong một thời gian dài. Vai
trò quan trọng của vốn thể hiện ở chỗ, muốn khai thác tốt các nguồn lực tự
Đứng trên góc độ vó mô, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế - xã hội gồm có:
- Giá trò gia tăng thuần túy. Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh
tế - xã hội của dự án. Chỉ tiêu này bao gồm 2 yếu tố chi phí trực tiếp trả cho
người lao động (Wg) và thặng dư xã hội (SS). Chỉ tiêu giá trò gia tăng thuần túy
được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư mới, dự án
hiện đại hóa hoặc mở rộng quy mô, tổ hợp nhiều dự án có mối liên hệ với nhau:
vốn - đầu ra, biểu thò hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư.
Như vậy bên cạnh việc sử dụng vốn đầu tư một cách hiệu quả thì việc tỷ lệ
vốn đầu tư tăng lên sẽ kéo theo tốc độ tăng trưởng tăng và ngược lại.
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chỉ là một điều kiện tiền đề để tạo ra sự
phát triển. Phát triển kinh tế là cả một quá trình làm biến đổi sâu sắc về mọi mặt
kinh tế xã hội của một đất nước cả về số lượng và chất lượng trong dài hạn. Phát
triển kinh tế đòi hỏi sự tăng trưởng phải được duy trì liên tục trong dài hạn, tạo
nên những chuyển biến trong cơ cấu kinh tế và cấu trúc xã hội theo hướng hiện
đại, nền kinh tế hoạt động với năng suất và hiệu quả cao, hàng hoá có sức cạnh
tranh cao trên thò trường quốc tế, môi trường được bảo vệ, đời sống vật chất và
văn hoá của người dân được cải thiện rõ rệt.
Ngoài những tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, việc duy trì lâu dài
nguồn cung cấp vốn đầu tư một cách hiệu quả sẽ góp phần quan trọng để đạt
được những mục tiêu phát triển kinh tế. Điều này thể hiện trước hết ở tác động
của vốn đầu tư đến việc phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển dòch cơ cấu kinh tế.
Đầu tư vốn vào cơ sở hạ tầng sẽ tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế một cách
vững chắc. Việc kiến tạo cơ sở hạ tầng luôn phải đi trước một bước để mở đường
cho nền kinh tế phát triển. Ngân hàng Thế giới đã nhận đònh rằng sự gia tăng
tổng sản phẩm quốc gia thường tương ứng với sự gia tăng vốn đầu tư vào cơ sở
hạ tầng. Vì vậy muốn phát triển kinh tế cần phải có một lượng vốn lớn để đầu tư
vào cơ sở hạ tầng. Mặt khác, để đạt được mục đích phát triển kinh tế nhanh và
bền vững, cần phải tạo cơ cấu kinh tế tối ưu phù hợp với đặc điểm tình hình của
mỗi nước. Một cơ cấu kinh tế tối ưu luôn bảo đảm sự phát triển cân đối, hài hoà
cả về cơ cấu ngành và cơ cấu vùng và lãnh thổ. Ở đây vốn đầu tư đóng vai trò
quan trọng trong việc khai thác hiệu quả các nguồn lực tiềm năng tạo ra động lực
đẩy mạnh chuyển dòch cơ cấu theo hướng tối ưu, từ đó tạo ra sự phát triển nhanh 22
và bền vững.
thác tốt các tiềm năng và bảo vệ cảnh quan môi trường.
23
1.4 KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH ĐỂ HUY
ĐỘNG VỐN CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NÓI CHUNG VÀ
NGÀNH DU LỊCH NÓI RIÊNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở
VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY
1.4.1 Kinh nghiệm sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn cho phát
triển kinh tế - xã hội nói chung và ngành du lòch nói riêng ở một số nước trên
thế giới
Chính sách huy động vốn thông qua các công cụ tài chính là có khác nhau
ở mỗi nền kinh tế. Tuỳ theo tình hình kinh tế-xã hội mà các nền kinh tế sử dụng
linh hoạt các công cụ tài chính để tạo lập chính sách huy động vốn có hiệu quả.
Tuy vậy, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực cho Việt Nam trong
tiến trình công nghiệp hóa:
+ Cải thiện môi trường kinh tế vó mô để huy động vốn có hiệu quả. Thông
thường các nền kinh tế tập trung vào giải quyết các vấn đề cơ bản như kiểm soát
lạm phát; giảm thâm hụt ngân sách; thu chi ngân sách minh bạch và phân quyền
rõ ràng; ổn đònh tỉ giá và tiền tệ để loại trừ những nhân tố bất ổn làm đẩy lùi tiết
kiệm và đầu tư của nền kinh tế.
+ Chú trọng sử dụng các công cụ tài chính kích thích tiết kiệm-đầu tư.
Chính sách tiết kiệm, chủ yếu tập trung vào cải cách hệ thống tài chính, xây dựng
chính sách lãi suất dương thích hợp với quan hệ cung cầu; nâng cao tiết kiệm của
chính phủ. Chính sách khuyến khích đầu tư, thường chú trọng đến các chính sách
cải cách thuế, đơn giản hệ thống thuế, lượng hóa cơ cấu thuế trực thu và gián thu,
áp dụng chế độ miễn, giảm thuế linh hoạt; thực hiện chế độ khấu hao nhanh;
tăng cường đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và
khoa học công nghệ; chú trọng sử dụng các quỹ hỗ trợ tài chính nhà nước trong
tượng đáng ghi nhận, nhưng cần lưu ý rằng, thời điểm bắt đầu bùng nổ là sau khi
hầu hết các nước NIEs và ASEAN-4 đã cất cánh. Như vậy, sự phát triển của
TTCK là kết quả chứ không phải nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng nhanh của
các nước này. Điều này cho thấy sự gia tăng tiết kiệm của các nước này trong
những thập kỷ 70-80 là có sự đóng góp rất tích cực của hệ thống các TCTD trong
quá trình phân bổ nguồn lực.
1.4.2 Kinh nghiệm sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn cho phát
triển kinh tế - xã hội nói chung và ngành du lòch nói riêng ở Việt nam từ năm
1986 đến nay
Cơ sở cho sự đổi mới: Tạo lập môi trường kinh tế và pháp lý cho việc vận
hành các công cụ tài chính theo cơ chế thò trường là yếu tố quyết đònh cho sự
thành công của quá trình đổi mới chính sách tài chính. Mở cửa kinh tế, từng bước
hòa nhập vào kinh tế thế giới là yếu tố hết sức quan trọng để tiếp cận các đònh
chế tài chính tiên tiến trên thế giới và vận dụng có chọn lọc vào thực tiễn kinh tế
Việt nam. 25
sách tài chính Việt nam được cải cách trong bối cảnh nền kinh tế thò trường đang
chuyển đổi sâu sắc với đặc trưng là vừa xác đònh mục tiêu, vừa cải tạo các công
cụ truyền thống và xây dựng các công cụ mới, vừa phải tạo môi trường cho các
công cụ đó phát huy tác dụng.
Cơ chế quản lý và điều hành chính sách Để kiềm chế và đẩy lùi lạm phát,
cùng với sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Nhà nước phải kiên trì phối hợp các
công cụ tài chính trên các phương diện, như quản lý chặt chẽ các nguồn tài chính
để tăng thu ngân sách đi đôi với các biện pháp thắt chặc chi tiêu; mở rộng tín
dụng theo cơ chế lãi suất thò trường; chấm dứt phát hành tiền để bù đắp bội chi
NSNN; thực hiện cơ chế tỉ giá thò trường và quản lý chặt chẽ ngoại hối; đồng thời
kiên trì phối hợp các công cụ tài chính khuyến khích mạnh mẽ các thành phần
kinh tế khai thác mọi tiềm năng về vốn, lao động để phát triển kinh doanh. Hình