Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tỉnh Bình Thuận thời kỳ 2005-2010 - Pdf 29



-1-

PHẦN MỞ ĐẦU

1/ Tính cấp thiết của đề tài:
Bình Thuận nằm vào vị trí hết sức thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội,
nằm trên trục giao lưu kinh tế của vùng Nam Trung bộ và Tây nguyên và là cửa
ngỏ phía Đông của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là vùng động lực với tốc
độ tăng trưởng mạnh nhất của cả nước, gắn liền với một thị trường hết s
ức rộng
lớn và sôi động. Ngoài vị trí thuận lợi, Bình Thuận còn được thiên nhiên ưu đãi
rất giàu có tài nguyên tự nhiên, phong phú về tài nguyên du lịch…

Tuy nhiên, Bình Thuận là một tỉnh duyên hải lại có nhiều huyện, xã vùng
cao vùng sâu, địa hình phức tạp, cơ sở vật chất còn quá nghèo nàn, lạc hậu, điểm
xuất phát kinh tế thấp.

Những năm qua, trong công cuộc đổi mới Bình Thuận luôn luôn quan tâm
đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tạo tiền đề để hướng tới công
nghiệp hóa - hiện đại hóa, đầu tư và khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên
nhưng không làm cạn kiệt trữ lượng; đầu tư không chỉ tạo cơ sở vật chất phục vụ
cho phát triển kinh tế - xã hội mà còn là yế
u tố để thu hút đầu tư trong tỉnh, ngoài
tỉnh và quốc tế. Đặc biệt, để chuẩn bị cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và
khu vực, tỉnh Bình Thuận cũng đang ra sức đầu tư, khai thác mọi nguồn lực; đồng
thời, để kêu gọi đầu tư mà chủ yếu là các lĩnh vực dịch vụ - du lịch – giải trí, chế
biến nông sản – hải sản, ch
ế biến lương thực – thực phẩm, sản xuất hàng tiêu
dùng, sản xuất – gia công sản phẩm cơ khí, điện tử, dệt – may, giày da, khai thác

hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong tương lai.

* Nhiệm vụ nghiên cứu: nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là nêu lên
những lý luận và thực tiễn về nội dung đầu tư, vốn đầu tư. Trên cơ sở lý luận, đi
sâu phân tích đánh giá hiện trạng đầu tư của tỉnh Bình Thuận từ trước năm 2004,
từ đó luận văn tập trung đề xuất một số giải pháp theo định hướng phát triển đầ
u
tư tỉnh Bình Thuận trong thời kỳ 2005-2010.
3/ Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
* Phạm vi nghiên cứu: Về không gian đề tài giới hạn nghiên cứu toàn cảnh
hoạt động đầu tư xây dựng của tỉnh Bình Thuận trong khoảng thời gian từ 2000-
2004 và những năm tiếp theo.

* Phạm vi không gian: đề tài được giới hạn trong phạm vi địa giới của tỉnh
Bình Thuận nhưng cũng gắn kết với tình hình đầu tư của cả nước để các giải pháp
đưa ra có tính gắn kết và bao quát hơn.
Luận văn không giải quyết hết các nội dung liên quan đến đầu tư và cũng
không có điều kiện đi vào các lĩnh vực chuyên sâu thuộc về kỹ thuật xây dự
ng,
đầu tư công trình không phải của nhà nước…
4/ Phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở phương pháp luận của quá trình nghiên cứu đề tài là dựa trên thế giới
quan của chủ nghĩa Mác-Lênin, để nhận thức xem xét tình hình một cách hiện
thực khách quan từ đó đưa ra những giải pháp có tính khả thi cao. -3-

Ngoài ra, có các phương pháp được áp dụng như: Phương pháp khảo sát
hiện trạng tại địa bàn tỉnh Bình Thuận để thẩm tra, đánh giá tình hình và có giải

sau:
Chương 1: Lý luận chung về vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Chương 2: Thự
c trạng vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
tỉnh Bình Thuận - Thời kỳ 2001-2005
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tỉnh
Bình Thuận – Thời kỳ 2006-2010
-4-

CHUƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ

1.1.
KHÁI NIỆM VỀ ĐẦU TƯ VÀ VỐN ĐẦU TƯ
1.1.1. Khái niệm, phân loại, vai trò về đầu tư:
Thuật ngữ “đầu tư” có thể được hiểu đồng nghĩa với “sự bỏ ra”, “sự hy
sinh”. Từ đó, có thể coi “đầu tư” là sự bỏ ra, sự hy sinh những cái gì đó ở hiện tại
(tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ) nhằm đạt được những kết quả có lợi
cho người đầu t
ư trong tương lai.
Theo quan điểm của Chủ đầu tư (người chủ sở hữu vốn, người vay vốn
hoặc người được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện
đầu tư theo quy định của pháp luật) thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh, để
từ đó thu được số vốn lớn hơn số đã b
ỏ ra thông qua lợi nhuận.
Theo quan điểm của xã hội (Quốc gia) thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát

ựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và
lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi
phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm
lực hoạt động của các cơ sở đang hoạt động và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế
xã hội.

Phân loại đầu tư:
* Theo chức năng quản trị vốn đầu tư: có đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp. Đầu tư trực tiếp là phương thức đầu tư, trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham
gia quản trị vốn đã bỏ ra. Đầu tư gián tiếp cũng là phương thức đầu tư, trong đó
chủ đầu tư không tr
ực tiếp tham gia quản trị vốn đã bỏ ra.
* Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư: có đầu tư phát triển và đầu tư dịch
chuyển. Đầu tư phát triển là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn
nhằm gia tăng giá trị tài sản. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư phát triển
có vai trò quan trọng hàng đầu, là phương thứ
c căn bản để tái sản xuất mở rộng,
tăng thu nhập quốc dân, tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động.
Đầu tư chuyển dịch là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn
nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị tài sản. Đầu tư chuyển dịch có ý nghĩa
quan trọng trong hình thành và phát triển thị trường vốn, thị trườ
ng chứng khoán,
thị trường hối đoái… hỗ trợ cho hoạt động đầu tư phát triển.
* Theo ngành đầu tư: có 4 loại
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây
dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (năng lượng, thông tin liên lạc, giao thông, cấp thoát
nước…)và xã hội (trường học, bệnh viện, nhà trẻ, cơ sở v
ăn hóa, thể thao giải
trí…). Đối với các nước đang phát triển, cơ sở hạ tầng rất yếu kém và mất cân đối
nghiêm trọng. Cơ sở hạ tầng cần được đầu tư phát triển, đi trước một bước, tạo

được ưu tiên đối với các nước đang phát triển, trong điều kiện còn thiếu vốn-công
nghệ-quản lý.
Tận dụng năng lực sản xuất - d
ịch vụ là hình thức tận dụng 100% công suất
thiết kế của năng lực sản xuất đã có trên quan điểm tiết kiệm và hiệu quả.
* Theo nguồn vốn: vốn trong nước (ngân sách, tín dụng do nhà nước bảo
lãnh, doanh nghiệp nhà nước, các nguồn khác) và vốn ngoài nước.
Vai trò của đầu tư trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa:
Đầu tư là phương tiện để chuyển dịch và phát triển cơ cấu kinh tế
, giải
quyết quan hệ cung - cầu về vốn trong phát triển, góp phần xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật và nguồn lực mới cho phát triển. Đồng thời, đầu tư giải quyết quan
hệ cung cầu về sản phẩm, dịch vụ trên thị trường, cân đối quan hệ giữa sản xuất
và tiêu dùng trong xã hội; góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nhân dân, cả
i biến bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước.

1.1.2. Đặc điểm về đầu tư:
Thứ nhất, đầu tư được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản của sự phát triển và
sinh lời. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng và sinh lời, trong đó có -7-

yếu tố đầu tư. Nhưng để bắt đầu một quá trình sản xuất hoặc tái mở rộng quá trình
này, trước hết phải có vốn đầu tư. Nhờ sự chuyển hóa vốn đầu tư thành vốn kinh
doanh tiến hành hoạt động, từ đó tăng trưởng và sinh lời. Trong các yếu tố tạo ra
sự tăng trưởng và sinh lời này vốn đầu tư được coi là một trong những yế
u tố cơ
bản. Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng của đầu tư trong việc phát

đoạn này kéo dài mà không tạo ra sản phẩm. Đây chính là nguyên nhân của công
thức “Đầu tư mâu thuẫn với tiêu dùng”. Vì vậy, có nhà kinh tế cho rằng đầu tư là
quá trình làm bất động hóa một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời k
ỳ nối -8-

tiếp sau này, cho nên muốn nâng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cần chú ý tập trung
các điều kiện đầu tư có trọng điểm nhằm đưa nhanh dự án vào khai thác.
- Khi xét hiệu quả đầu tư cần quan tâm xem xét cả ba giai đoạn của quá
trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch, chỉ tập trung vào giai đoạn thực hiện dự
án mà không chú ý vào cả thời gian khai thác dự án.
- Do chú ý sản xuất kéo dài nên việ
c hoàn vốn được các nhà đầu tư đặc biệt
quan tâm, phải lựa chọn trình tự bỏ vốn thích hợp để giảm mức tối đa thiệt hại do
ứ đọng vốn ở sản phẩm dở dang, việc coi trọng hiệu quả kinh tế do đầu tư mang
lại là rất cần thiết nên phải có các phương án lựa chọn tối ưu, đảm bảo trình tự
XDCB. Thời gian hoàn vố
n là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đo lường và
đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
- Đầu tư là một lĩnh vực có rủi ro lớn. Rủi ro trong lĩnh vực đầu tư XDCB
chủ yếu do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài. Trong thời gian này, các yếu tố
kinh tế, chính trị và cả tự nhiên ảnh hưởng sẽ gây nên những tổn thất mà các nhà
đầu tư không lường định hế
t khi lập dự án. Các yếu tố liên quan đến đầu tư như:
sự thay đổi chính sách thuế, mức lãi suất, sự thay đổi thị trường, thay đổi nhu cầu
sản phẩm… đều có thể gây nên thiệt hại cho các nhà đầu tư, tránh được hoặc hạn
chế rủi ro sẽ thu được những món lời lớn và đây là niềm hy vọng kích thích các
nhà đầu tư. Chính vì xét trên phương diện này mà Samuelson cho rằng: đầu tư là

cơ sở hạ tầng, đầu tư cho giáo dục đào tạo, đầu tư cho tiến bộ kỹ thuật - khoa học
- công nghệ, đầu tư cho sản xuất kinh doanh. 1.1.4. Các nguồn hình thành vốn đầu tư:
Vốn đầu tư của nền kinh tế được hình thành từ hai nguồn chính: vốn trong
nước và vốn ngoài nước.
a) Vốn trong nước:
Là vốn hình thành từ nguồn tích lũy nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Cơ sở
vật chất kỹ thuật để có thể tiếp thu và phát huy tác dụng của vốn đầu tư nước
ngoài đối với sự phát tri
ển kinh tế của đất nước chính là khối lượng vốn đầu tư
trong nước. Tỷ lệ giữa vốn huy động được ở trong nước để tiếp nhận và sử dụng
có hiệu quả vốn nước ngoài tùy thuộc vào đặc điểm và điều kiện phát triển kinh tế
xã hội của mỗi nước.
Nguồn vốn đầu tư trong nước có ý nghĩa quyết đị
nh trong công cuộc phát
triển quốc gia. Xét về lâu dài thì nguồn vốn đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế
một cách liên tục, đưa đất nước đến sự phồn vinh một cách chắc chắn và không
phụ thuộc phải là nguồn vốn đầu tư trong nước.
- Vốn ngân sách nhà nước gồm: ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương. Vốn ngân sách được hình thành từ vốn tích lũy của nền kinh tế và được
nhà nước duy trì trong k
ế hoạch ngân sách để cấp cho đơn vị thực hiện các công
trình thuộc kế hoạch nhà nước. Vốn này được đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh, không có khả năng thu hồi vốn và được quản lý, sử
dụng theo phân cấp về chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển; hỗ trợ cho
các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước theo
quy
định của pháp luật; chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy

- Vốn đầu tư gián tiếp: là vốn của các Chính Phủ, các tổ chức quốc tế như:
viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi với lãi suất thấp và thời hạn dài, kể c
ả vay
theo hình thức thông thường. Một hình thức phổ biến của đầu tư gián tiếp tồn tại
dưới hình thức ODA-Viện trợ phát triển chính thức của các nước công nghiệp
phát triển. Vốn đầu tư gián tiếp thường lớn, cho nên tác dụng mạnh và nhanh đối
với giải quyết dứt điểm các nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của nước nhận đầu
tư. Vai trò đầu t
ư gián tiếp được thể hiện ở những thành tựu phát triển kinh tế-xã
hội của Hàn Quốc, Philipine những năm sau giải phóng và đối với Việt Nam
những năm chống Mỹ cứu nước. Tuy nhiên, tiếp nhận vốn đầu tư gián tiếp thường
gắn với việc trả giá bằng chính trị, nợ nần chồng chất nếu không sử dụng có hiệu
quả vốn vay và thự
c hiện nghiêm ngặt chế độ trả nợ vay. Các nước Đông Nam Á
và NICS Đông Á đã thực hiện giải pháp vay dài hạn, vay ngắn hạn rất hạn chế và
đặc biệt không vay thương mại. Vay dài hạn lãi suất thấp, việc trả nợ không khó
khăn vì có thời gian hoạt động đủ để thu hồi vốn. -11-

- Vốn đầu tư trực tiếp (FDI): là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân
nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý
quá trình sử dụng và thu hồi vốn bỏ ra. Vốn này thường không chỉ đủ lớn để giải
quyết dứt điểm từng vấn đề kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư. Tuy nhiên, với
vốn đầu tư tr
ực tiếp thì nước nhận đầu tư không phải lo trả nợ, lại có thể dễ dàng
có được công nghệ (do người đầu tư đem vào góp vốn sử dụng), trong đó có cả
công nghệ bị cấm xuất theo con đường ngoại thương, vì lý do cạnh tranh hay cấm
vận nước nhận đầu tư; học tập kinh nghiệm quản lý, tác phong làm việc theo lối

động đến hiệu quả vốn đầu tư theo những mức độ khác nhau. Để đánh giá hiệu
quả vốn đầu tư
ở tầm vĩ mô cần phải có nhiều chỉ tiêu nhằm đo lường hiệu quả -12-

từng mặt hoạt động này sẽ tác động đến hiệu quả vốn đầu tư theo những mức độ
khác nhau. Để đánh giá hiệu quả vốn đầu tư ở tầm vĩ mô cần phải có nhiều chỉ
tiêu nhằm đo lường hiệu quả từng mặt, từng giai đoạn đầu tư.
a) Hiệu suất tài sản cố định:
Hiệu suất tài s
ản cố định biểu hiện sự so sánh giữa khối lượng tổng sản
phẩm quốc nội được tạo ra trong kỳ (GDP) với khối lượng giá trị TSCĐ trong kỳ
(FA), được tính theo công thức:
H
(fa)
=
FA
GDP

Chỉ tiêu này cho biết, trong từng thời kỳ nào đó thì một đồng giá trị TSCĐ
sử dụng sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng sản phẩm quốc nội. Chỉ tiêu này phản ánh
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn có chỗ chưa chính xác vì sự biến động của
TSCĐ và tổng sản phẩm quốc nội không hoàn toàn phụ thuộc vào nhau.

b) Hiệu suất vốn đầu tư:
Hiệu suất vốn đầu tư biểu hiện quan hệ so sánh giữa mức tăng trưởng GDP
và vốn đầu tư trong kỳ, được xác định theo công thức:


-13-

Hệ số ICOR cho biết trong từng thời kỳ cụ thể muốn tăng thêm một đồng
GDP thì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư. Hệ số ICOR càng thấp thì hiệu quả sử
dụng vốn đầu tư càng cao.
ICOR = Vốn đầu tư/Tốc độ tăng GDP
Hệ số ICOR đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch kinh tế.

d) Hệ số trang bị TSCĐ cho lao động:
Hệ số trang bị TSCĐ cho lao động (H
L
) được xác định bằng tỷ số giữa giá
trị bình quân của tài sản cố định trong kỳ (FA) và số lượng lao động sử dụng bình
quân trong kỳ (L) được tính theo công thức:
H
L
=
L
FA

Hệ số này cũng là một chỉ tiêu hiệu quả vốn đầu tư quan trọng vì kết quả
vốn đầu tư được biểu hiện ở khối lượng tài sản cố định, yếu tố vật chất hóa sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật trong việc nâng cao mức độ trang bị kỹ thuật cho lao
động biểu hiện kết quả của việ
c tăng cường cơ giới hóa, tự động hóa và các
phương hướng phát triển khoa học kỹ thuật khác là tiền đề quan trọng đảm bảo
năng suất lao động, phát triển sản xuất, nâng cao mức sống của dân cư.

e) Hệ số thực hiện vốn đầu tư:
Hệ số thực hiện vốn đầu tư là một chỉ tiêu hiệu quả vốn đầu tư rất quan

t
) ).
+ Thời gian hoàn vốn không chiết khấu của dự án: là thời gian cần thiết để
thu hồi lại số vốn đầu tư đã bỏ ra bằng các khoản tích lũy hoàn vốn hàng năm. Chỉ
tiêu này được tính toán trong dự án tiền khả thi: khi chỉ tiêu tính toán càng nhỏ
hơn thời gian hoàn vốn không chiết khấu cho phép thì hiệu quả hoạt động của dự
án càng cao, càng hấp dẫn; ngược lại nế
u chỉ tiêu tính toán lớn hơn cho phép thì
dự án không đảm bảo thời gian hoàn vốn, cần phải điều chỉnh dự án.
Công thức tính: I =
()

=
+
n
t
tt
DNP
1Trong đó: I là tổng vốn đầu tư cho dự án
t = 1,2,3…n là số thứ tự năm thực hiện dự án
NP
t
là lợi nhuận sau thuế hàng năm của dự án
D
t
là giá trị khấu hao hàng năm của dự án


Là tỷ suất chiết khấu, mà với tỷ suất này hiện giá thu nhập thuần NPV của
dự án bằng 0. Tỷ suất sinh lời nội bộ của dự án IRR (% năm) là tỷ lệ lãi do dự án
đem lại lãi suất IRR thì:
- Nếu IRR < r dự án sẽ lỗ tức NPV < 0
- Nếu IRR = r dự án sẽ hòa vốn tức NPV = 0
- Nếu IRR > r dự án sẽ l
ỗ tức NPV > 0 -15-

Khi chỉ tiêu tính toán IRR càng lớn hơn tỷ suất sinh lời cho phép thì hiệu
quả tài chính của dự án càng cao, càng hấp dẫn; ngược lại nếu chỉ tiêu tính toán
nhỏ hơn cho phép thì dự án không đạt hiệu quả tài chính, cần phải điều chỉnh dự
án. IRR là một chỉ tiêu hiệu quả tài chính quan trọng nhất để xác định hiệu quả
đầu tư của một dự án. Đây là một chỉ tiêu bắt buộc trong thẩ
m định dự án.
IRR là tỷ lệ lãi mà nếu thay nó để xác định NPV thì NPV = 0 tức là:

NPV =
( )
()

=

+

n
t
t

1
1
1
= 0

Giải phương trình này dùng các phương pháp sau: phương pháp đồ thị, phương
pháp thử dần để xác định tỷ suất chiết khấu giả định và phương pháp nội suy.

c) Chỉ tiêu hiện giá thu nhập thuần của dự án (NPV):
NPV =
( )
()

=

+

n
t
t
tt
r
CB
1
1
1 Trong đó: B
t


=
=
n
t
tt
n
t
tt
axC
axB
1
1

Với a =
1
)1(
1

+
t
r
là hệ số chiết khấu tài chính của dự ánTrong đó: B
t
là lợi ích hàng năm của dự án
C
t

đồng dân cư và thiết lập một xã hội cộng đồng văn minh, biểu hi
ện của việc sử
dụng có hiệu quả vốn đầu tư. -17-

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được các nhà kinh tế tổng kết thành 2 mô
hình: mô hình thay thế nhập khẩu và mô hình hướng ra xuất khẩu. Mỗi mô hình
được hình thành trong những điều kiện lịch sử cụ thể, thời điểm nhất định và có
tác dụng tích cực nhất định. Thực tế đã chứng minh rằng, quốc gia nào lựa chọn
mô hình công nghiệp hóa đúng đắn, thích hợp thì sự nghiệp công nghiệp hóa sẽ

thành công, vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả.
Các nước công nghiệp mới là những nước đã thành công trong sự nghiệp
công nghiệp hóa theo mô hình ‘thay thế nhập khẩu’. Chẳng hạn Cộng hòa dân chủ
nhân dân Triều Tiên, đất nước được mệnh danh là “Thiên lý mã” thành công nhất
trong công nghiệp hóa theo mô hình này, nhưng sau đó và cho đến nay đã gặp rất
nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế, theo đó vốn đầu tư được sử d
ụng kém
hiệu quả. Bởi lẻ, mô hình ‘thay thế nhập khẩu’ phát triển cao sẽ đòi hỏi phải nhập
thiết bị và nguyên vật liệu, trong khi đó sức mua hạn hẹp và thiếu thị trường tiêu
thụ. Mặt khác, việc mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài, tư bản nước ngoài
vào đầu tư sẽ chiếm lĩnh thị trường và cạnh tranh với công nghiệp bản xứ
. Hậu
quả là kinh tế đình trệ, mức tăng trưởng suy giảm… nếu không chuyển sang mô
hình ‘hướng ra xuất khẩu’. Mô hình ‘hướng ra xuất khẩu’ chỉ áp dụng trong điều
kiện có mặt hàng chủ lực đủ sức cạnh tranh với thị trường quốc tế; mô hình này
có đặc trưng: thu hút tư bản nước ngoài, tận dụng nhân công rẻ trong nước, sản
xuất mặt hàng chất lượng cao, có sứ

Trong quá trình khai thác sử dụng các đối tượng đầu t
ư hoàn thành, các
chính sách kinh tế tác động làm cho các đối tượng này phát huy tác dụng tích cực
hay tiêu cực. Đó là điều kiện làm cho vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao
hay thấp. Khi đã lựa chọn mô hình chiến lược công nghiệp hóa đúng, nếu các
chính sách kinh tế được xác định phù hợp có hệ thống, đồng bộ và nhất quán thì
sự nghiệp công nghiệp hóa sẽ thắng lợi, vốn đầu tư sẽ mang l
ại hiệu quả sử dụng
cao.

1.3.3. Công tác tổ chức quản lý đầu tư xây dựng:
Tổ chức quản lý đầu tư xây dựng là một lĩnh vực rất rộng, bao gồm nhiều
nội dung nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh
phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong
từng thời kỳ, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo h
ướng công nghiệp hóa hiện đại
hóa, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần nhân
dân. Sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư do nhà nước quản lý,
chống thất thoát lãng phí. Bảo đảm xây dựng dự án theo quy hoạch xây dựng yêu
cầu bền vững mỹ quan, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo môi trường cạnh tranh
lành mạnh trong xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến, b
ảo đảm chất lượng và
thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý, bảo hành công trình xây dựng.
Việc tổ chức quản lý chặt chẽ theo đúng trình tự XDCB đối với các dự án
thuộc nguồn vốn ngân sách, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu
tư phát triển nhà nước và vốn do doanh nghiệp nhà nước. Phân định rõ quyền hạn
và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu t
ư, tổ chức tư vấn và nhà
thầu trong quá trình đầu tư và xây dựng nhằm sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư.
Theo đó, nội dung gồm:

điều kiện cho việc tiết kiệm hay thất thoát lãng phí vốn đầu tư, cũng tạo điều kiện
cho các kết quả đầu tư tăng hay giảm về mặt khối lượng và mang lại nhiều hay ít
các lợi ích kinh t
ế-xã hội khi khai thác sử dụng các kết quả đầu tư này. Do những
thiếu sót trong công tác quản lý đầu tư xây dựng đã làm cho vốn đầu tư bị thất
thoát lãng phí. Một số đối tượng đầu tư hoàn thành mang lại hiệu quả sử dụng
không như mong muốn làm cho số vốn đầu tư sử dụng kém hiệu quả.

1.3.4. Tổ chức khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành:
Nhân tố này thuộc mắt xích cuối cùng của sợi dây chuyền hiệu quả. Tổ
chức khai thác các đối tượng đầu tư hoàn thành sẽ mang lại một khối lượng cung
ứng hàng hóa, dịch vụ nhất định. So sánh khối lượng hàng hóa dịch vụ này với
nhu cầu hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế sẽ xác định lợi ích kinh tế củ
a vốn đầu
tư. Đây là một trong hai nhân tố cấu thành hiệu quả vốn đầu tư. -20-

Tổ chức khai thác các đối tượng đầu tư hoàn thành có kết quả tốt hay không
lại phụ thuộc vào nhiều nhân tố:
- Do tác động của việc chọn mô hình chiến lược kinh tế và tác động của
công tác tổ chức quản lý đầu tư xây dựng các nhân tố này tùy theo mức độ đúng
đắn, thích hợp của chúng mà tác động tích cực hay tiêu cực đến kết quả khai thác
các đối tượng đầu tư hoàn thành.
- Các nhân tố thuộ
c bản thân tổ chức khai thác, sử dụng các đối tượng đầu
tư hoàn thành như công tác quản lý, tổ chức sản xuất, công tác nghiên cứu triển
khai áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, công tác
tiếp thị chiếm lĩnh và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, công tác cải tiến mẫu

-21-

Bình Thuận là một trong 3 ngư trường lớn của Việt Nam, với trữ lượng
khoảng 240 nghìn tấn hải sản các loại, trong đó có nhiều loại hải đặc sản có giá trị
kinh tế cao, sản lượng cho phép khai thác vùng ven bờ hàng năm khoảng 130-150
nghìn tấn. Vùng ven biển diện tích trên 5.000 ha, thuận lợi cho nghề nuôi trồng
thủy sản phát triển, đặc biệt về sản xuất tôm giống.
Với trên 160.000ha đất trồng trọ
t, khoảng 100.000ha đất có khả năng nông
nghiệp cùng điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu đặc trưng; Bình Thuận có nhiều lợi
thế để phát triển các loại cây công nghiệp, cây thực phẩm và cây ăn quả nhiệt đới,
hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa như: bông vải, điều, cao su, nho, thanh
long… Các yếu tố trên cũng thuận lợi và thích hợp để đầu tư phát triển chăn nuôi
bò thịt, bò sữa, heo, đà điểu quy mô lớ
n. Một số khoáng sản của Bình Thuận có
trữ lượng lớn, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu khai thác và chế biến như: nước
khoáng thiên nhiên (8 mỏ), cát thủy tinh (trên 400 triệu tấn), cát đen (Imenite,
Zircon 4 triệu tấn), đá Granit, sét Bentonit, dầu khí…
Tiềm năng đa dạng cho phát triển du lịch là ưu điểm nổi bật của tỉnh Bình
Thuận. Tính đến nay, đã có 77 dự án du lịch đi vào hoạt độ
ng, trong đó có nhiều
khu du lịch đạt chuẩn phục vụ 3-4 sao; ngoài ra có khoảng 70 dự án du lịch đang
triển khai thi công xây dựng. Lượng khách đến tham quan, du lịch và nghỉ dưỡng
tăng bình quân hàng năm trên 30%, năm 2004 dự kiến có 1,5 triệu du khách đến
Bình Thuận, trong đó 10% là khách quốc tế…
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là lĩnh vực đang được tỉnh Bình
Thuận khuyến khích, vừa qua nhiều ngành nghề mới được đầu tư t
ại Bình Thuận
như: may mặc, cán thép, sản xuất phụ tùng và khung gầm ô tô, cán bông… Khu
công nghiệp Phan thiết giai đoạn 1 đã lấp đầy và đang mở rộng giai đoạn 2 (thêm

nông nghiệp tăng 64,3% trong đó giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng 76,68%,
chăn nuôi tăng 39,07%. Năng suất một số cây trồng tăng lên khá cao: cây lúa từ
34,5 tạ/ha tăng lên 42 tạ/ha (tăng 21,73%), cây bắp từ 28,8 tạ/ha tăng lên 50 tạ/ha
(tă
ng 73,61%), cây bông vải từ 7,3 tạ/ha tăng lên 14,6 tạ/ha (tăng 100%), cây điều
từ 2,2 tạ/ha tăng lên 8 tạ/ha (tăng 263,63%), cây cao su từ 3,5 tạ/ha tăng lên 11,8
tạ/ha (tăng 237,14%),…
Đàn gia súc, gia cầm phát triển mạnh, so với năm 2000 tổng đàn trâu, bò
tăng từ 125.641 con lên 178.100 con (tăng 41,75%), đàn gia cầm từ 3,5 triệu con
tăng lên 4,5 triệu con (tăng 28,57%), chất lượng đàn gia súc được cải thiện rõ nét,
tỷ lệ máu lai đàn bò ước đạt 50% vào n
ăm 2005.
Hoạt động lâm nghiệp chuyển dần sang lâm nghiệp xã hội hóa, trong 5 năm
2000-2005 đã trồng mới được 20.951 ha rừng tập trung. Công tác giao khoán rừng
được đẩy mạnh, đã tiến hành quy hoạch 3 loại rừng, hạn chế khai thác rừng tự
nhiên. Kinh tế trang trại phát triển cả về số lượng, quy mô, hình thức tổ chức đa
dạng, phát huy ưu thế của từng vùng. Phát triển kinh tế rừng gắn vớ
i giải quyết
cho lao động vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Kinh tế thủy sản tiếp tục phát triển cả khai thác, nuôi trồng và chế biến sản
phẩm. Giá trị sản xuất ngành thủy sản từ 652 tỉ đồng năm 2000 tăng lên 1.125 tỉ
đồng (tăng 72,5%). Sản lượng khai thác hải sản tăng bình quân hàng năm hơn
6,8% từ 128.096 tấn năm 2000 lên 140.000 tấn năm 2005. Nuôi trồng thủy sản có
bướ
c tăng trưởng nhanh. Đặc biệt, sản xuất tôm giống đã tạo bước nhảy vọt và -23-

đứng đầu khu vực Nam Trung bộ về sản lượng (đạt gần 4.000 triệu post năm

cụm công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp nông thôn.
- Thương mại, dịch vụ: phát triển khá, đáp ứng cơ bản yêu cầu phát triển
kinh tế-xã hội, đặc biệt là du lịch dịch vụ phát triển nhanh cả về cơ sở kinh doanh,
lượng khách, doanh thu và giải quyết việc làm, góp phần tă
ng trưởng chung.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân
hàng năm 18,5%, thương mại nội địa được sắp xếp lại theo hướng tạo nguồn hàng
bán buôn, mở rộng mạng lưới đại lý đến mọi miền, với sự tham gia của nhiều -24-

thành phần kinh tế, phương thức kinh doanh đa dạng… bước đầu đã có sự liên kết
giữa sản xuất và thương mại, nhất là các sản phẩm lợi thế của tỉnh.
Hoạt động xuất nhập khẩu phát triển về quy mô, đa dạng hơn về sản phẩm.
Một số doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư trang bị công nghệ hiện đại, tiên tiế
n và
quan tâm quản lý chất lượng, chất lượng từng bước ổn định và nâng cao; thị
trường xuất khẩu được mở rộng ra một số nước châu Á, châu Âu và châu Mỹ.
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2005 dự kiến 110 triệu USD tăng 2,35 lần so với
năm 2000. Sản lượng các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu tăng đáng kể, chủng loại
các sản phẩm xuấ
t khẩu ngày càng nhiều và đa dạng hơn. Hoạt động nhập khẩu có
nhiều cố gắng, bảo đảm cho nhu cầu đầu tư phát triển và vật tư nguyên liệu cho
các ngành sản xuất.
Dịch vụ du lịch phát triển nhanh, năm 2000 có 24 cơ sở kinh doanh du lịch
với 610 phòng nghỉ, đến năm 2005 có 140 cơ sở với trên 3.000 phòng nghỉ (trong
đó có khoảng 1.700 của 30 cơ sở được xếp hạng từ 2
đến 4 sao). Lượng khách du
lịch tăng bình quân 27%/năm. Doanh thu tăng bình quân hàng năm 29,6% đạt 450

- Thông tin liên lạc: hệ thống đã được hiện đại, được nối mạng với hệ th
ống
thông tin quốc gia và quốc tế. Các dịch vụ điện thoại di động, internet được sử
dụng rộng rải, đảm bảo các yêu cầu của khách hàng. Số lượng máy điện thoại
bình quân 4,59 máy/100 dân.
- Điện năng: Nguồn điện có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu về điện. Có 03
nguồn điện chính: từ nhà máy thủy điện Đa Nhim qua lưới truy
ền tải 110 KV, từ
nhà máy thủy điện Hàm Thuận-Đa Mi qua lưới truyền tải 110 KV, từ trạm phát
điện diesel 3800KWh. Hệ thống lưới điện tại thành phố Phan Thiết cũng đang
được nâng cấp cải tạo, đáp ứng đủ các nhu cầu khu dân cư và khu công nghiệp
Phan Thiết.
- Nước: nhà máy nước Phan Thiết có công suất 25.000 m
3
/ngày đêm, hiện
đang nâng cấp và mở rộng hệ thống đường ống bằng nguồn vốn ADB, đảm bảo
đáp ứng đủ các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất. Tại các huyện đều có trạm cấp
nước quy mô nhỏ 500-2000 m
3
/ngày đêm.
- Hệ thống dịch vụ khác: hệ thống ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục, khám
chữa bệnh, dịch vụ pháp lý, công chứng nhà nước, nhà đất, xây dựng, vận tải,
dịch thuật, dạy nghề, giới thiệu việc làm… khá phát triển đáp ứng đầy đủ các nhu
cầu của khách hàng.
Tóm lại: Trong giai đoạn 2000-2005, tình hình kinh tế-xã hội của tỉnh
tương đối ổn định, kinh tế tiế
p tục duy trì và phát triển với tốc độ khá , cao hơn
mục tiêu của kế hoạch 5 năm Nghị quyết Tỉnh Đảng bộ đề ra. Chất lượng tăng
trưởng và sức cạnh tranh của một số lĩnh vực và sản phẩm có chuyển biến. Giá trị
sản xuất của các ngành tăng nhanh. Cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ cấu lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status