Chuyªn ®Ò thùc tËp
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Tên đề tài: “các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng Ngân Hàng Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn khu công nghiệp Minh Đức đối với phát triển kinh tế
Hộ”
Lời nói đầu:
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Đối với một quốc gia có hơn 80% dân số là nông dân như Việt Nam, việc phát triển sản
xuất nông nghiệp chiếm giữ một vai trò cực kỳ quan trọng. Để thực hiện mục tiêu công
nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp- nông thôn, Hội nghị trung ương lần thứ VI đã
khẳng định “sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá và
hiện đại hoá có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, làm cơ sở để ổn định và
phát triển kinh tế xã Hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước theo định
hướng xã Hội chủ nghĩa”
Mọi hoạt động vừa cơ bản, lâu dài, vừa cần kíp trước mắt của quá trình công nghiệp hoá và
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn điều cần đến vốn tín dụng. Đương nhiên vốn và tín
dụng không quyết định hết thảy, nhưng không thể không nhấn mạnh rằng, để đưa nông
nghiệp nông thôn phát triển mạnh mẽ, nhất định phải có chính sách hỗ trợ có bài bản và cụ
thể vốn tín dụng; nhất định phải có sự đầu tư thích đáng của nhà nước, của các ngành, trong
đó không thể xem nhẹ vai trò của NHN0&PTNT Việt Nam.
Nhằm thực hiện có hiệu quả công cuộc đổi mới nền kinh tế, tạo điều kiện để hệ thống ngân
hàng cung ứng được đầy đủ, kịp thời vốn cho đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn;
ngày 30/3/1999, thủ tướng chính phủ đã ban hành quýêt định 67/1999/QĐ-TTg về “một số
chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn” cũng từ cuối
năm 1999 và trong năm 2000, chính phủ tiếp tục ban hành một lọat chính sách liên quan
đến tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn như: Nghị định 178/NĐ
về đảm bảo tiền vay, nghị quyết số 03 về kinh tế trang trại, nghị quyết số 09 về chủ trương
và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, nghị quyết 11
về giải pháp điều hành kế hoạch kinh tế- xã Hội 6 tháng cuối năm, quyết định 103 về
khuyến khích phát triển giống thuỷ sản….
Từ những chủ trương chính sách của chính phủ, đòi hỏi NHNN, NHNN&PTNT Việt Nam
Trong đề tài nghiên cứu này có sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp
thống kê tổng hợp, phương pháp so sánh và dự báo.
Bố cục của chuyên đề thực tập chia làm ba chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về vốn tín dụng Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển
Nông Thôn đối với phát triển kinh tế Hộ.
Chương II: Đánh giá thực trạng tín dụng cho phát triển kinh tế Hộ của Ngân Hàng Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn khu công nghiệp Minh Đức giai đoạn 2004-2006.
Chương III: Phương hướng và biện pháp chủ yếu hoàn thiện hoạt động tín dụng của Ngân
Hàng cho phát triển kinh tế Hộ của Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn khu
công nghiệp Minh Đức.
2
Chuyªn ®Ò thùc tËp
-Giải quyết vấn đề:
Chương I: Một số vấn đề luận về vốn tín dụng NHNN&PTNT đối với phát triển kinh tế
Hộ .
I) Lý luận cơ bản về kinh tế Hộ và các điều kiện phát triển kinh tế Hộ.
1)Khái niệm Hộ là gì?
Hộ là một trong các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông lâm, ngư nghiệp và
trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, trong đó lấy sản xuất nông lâm, ngư nghiệp là
hoạt động chính. Hộ có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu đời, hiện nay ở Việt Nam
Hộ vẫn là chủ thể kinh tế chủ yếu trong nông nghiệp, nông thôn.
Như vậy ta có thể trả lời được câu hỏi Hộ là gì?
Hộ là những Hộ mà các thành viên có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan
hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực
sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó.
Hay chúng ta có thể hiểu theo cách khác:
Hộ là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông lâm, ngư nghiệp và trong một số
lĩnh vực kinh doanh khác, bao gồm một nhóm người có cùng huyết tộc hoặc quan hệ huyết
tộc sống chung trong một mái nhà, có chung nguồn thu nhập, tiến hành các hoạt động sản
xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp với mục đích phục vụ cho các thành viên trong Hộ.
kinh doanh.
-Các điều kiện chủ quan: đây là những điều kiện cơ sở sản xuất kinh doanh và chủ cơ sở
sản xuất kinh doanh có thể tạo ra được, bao gốm các điều kiện chủ yếu sau:
+Chủ sản xuất kinh doanh phải là những người có trình độ chuyên môn phù hợp, nhạy bén
với thị trường, quyết đoán và linh hoạt trong xử lý các tình huống.
+Cơ sở sản xuất kinh doanh phải xác định cơ cấu bộ máy quản lý phù hợp với điều kiện và
nhiệm vụ kinh doanh. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị phải đảm bảo các yêu cầu: tối ưu
linh hoạt, độ tin cậy lớn và tính kinh tế cao. Các chức năng quản trị trong cơ cấu bộ máy
quản trị phải được xác lập rõ rang, không chồng chéo, không hạn chế tính năng động và
tinh thần trách nhiệm của từng nhà quản trị trong bộ máy quản trị.
+Phải có đội ngũ cán bộ quản trị có đủ các tri thức cần thiết phục vụ cho kinh doanh và
phát triển kinh tế Hộ. những tri thức phục vụ cho phát triển kinh tế Hộ bao gồm những kiến
thức chung về kinh tế và quản lý kinh tế, những kiến thức về nghiệp vụ theo từng chức
năng và nghiệp vụ để phục vụ cho việc phát triển kinh tế của Hộ nói chung.
+Phải tạo lập được hệ thống thông tin xử lý thông tin một cách nhanh, nhạy và chính xác.
Để đảm bảo điều kiện này, cở sở sản xuất kinh doanh phải có tiềm lực kinh tế, các đội ngũ
cán bộ cán bộ quản lý có năng lực và nhiệt tình trong công việc. Nhà nước cần có quy định
về chế độ thống kê, kế toán thống nhất, cơ sở sản xuất kinh doanh cần tuân thủ nghiêm ngặt
các chế độ do nhà nước ban hành.
+Phải bí mật trong kinh doanh: trong cơ chế thị trường, bí mật trong doanh là điều kiện
quan trọng để đạt những mục đích kinh doanh của cơ sở. Bí mật trong kinh doanh bao gồm
bí mật trong ý đồ kinh doanh, trong giá cả, trong phương hướng thị trường và công nghệ
sản xuất. Về hiệu quả xã Hội, bí mật về công nghệ làm cho các thành tựu khoa học và công
nghệ chậm được phổ biến rộng, nhưng đối với cơ sở sản xuất kinh doanh, đây là điều kiện
để cơ sở sản xuất kinh doanh cạnh tranh với các cơ sở sản xuất kinh doanh khác. Trên thực
tế nhiều hãng cạnh tranh với nhau đã tìm mọi cách nắm được các bí mật kinh doanh. Tình
báo kinh tế đã trỏ thành lĩnh vực thu hút sức của, sức người của mọi ngành, mọi cơ sở sản
xuất kinh doanh của mọi nước. Tuy nhiên trong lĩnh vực nông nghiệp tính chất cạnh tranh
chưa thật khốc liệt. Ở Việt Nam tính bí mật trong kinh doanh chủ yếu là bí mật về công
nghệ sản xuất cũng đã được chú ý và có nơi tuân thủ hết sức nghiêm ngặt. ví dụ, ở thái
2)Đặc điểm và vai trò của vốn tín dụng NHNN&PTNT đối với phát triển kinh tế Hộ.
2.1) Đặc điểm.
-Trong nền kinh tế hàng hoá, đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình sản xuất kinh
doanh của các đơn vị là không hoàn toàn giống nhau.
-Do nhu cầu về vốn của các đơn vị tập thể, cá nhân khác nhau làm nảy sinh hiện tượng chủ
yếu phổ biến là trong cùng một thời gian có những đơn vị kinh tế phát sinh nhu cầu về vốn
tiền tệ cần được đáp ứng và bổ sung với khối lượng và thời gian nhất định.
-Để đầu tư vốn cho nông nghiệp, nông thôn mang lại hiệu quả kinh tế cao, cần phải hiểu rõ
những đặc điểm của đầu tư vốn. Đặc điểm của vốn đầu tư cho nông nghiệp nông thôn trước
hết biểu hiện ở đặc điểm hoạt động của vốn. Do đặc thù của sản xuất nông nghiệp, vốn, sự
huy động của vốn và sự hoạt động của vốn tín dụng cũng có đặc điểm riêng:
+Nông nghiệp là ngành có nhiều đặc điểm mang tính đặc thù, trong đó tính nặng nhọc,
phức tạp của lao động, tính sinh lời thấp và tính rủi ro cao của sản xuất là những đặc điểm
có tính đặc trưng nhất. Với những đặc điểm này, nông nghiệp là ngành cần lượng vốn đầu
tư lớn, nhưng lượng vốn trong nội bộ ngành ít sức thu hút từ các ngành, lĩnh vực khác của
nền kinh tế quốc dân rất kém. Vì vậy nguồn vốn đầu tư qua ngân sách, nguồn vốn tín dụng
ưu đãi có ý nghĩa hết sức quan trọng.
+Nông nghiệp là ngành sản xuất sinh học, vì vậy ngoài những tư liệu lao động có nguồn
gốc kỹ thuật còn có những tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học( cây trồng, vật
nuôi..)những tư liệu lao động này, một mặt thay đổi gia strị sử dụng thưo quy luật sinh học,
5
Chuyªn ®Ò thùc tËp
mặt khác chúng không thể có sự khôi phục từng bộ phận như máy móc. Hơn nữa chu kỳ
sản xuất của cây trồng, vật nuôi khá phức tạp. Tuỳ thuộc từng loại mà chu kỳ sản xuất dài
ngắn khác nhau( loại ngắn cũng phải 3 tháng, có loại thời gian kiến thiết cơ bản dài tới 7
năm, chu kỳ kinh tế tới 40 năm như cây cao su) những yêu cầu về vốn theo đặc điểm trên
rất nghiêm ngặt. Vì vậy, chính sách đầu tư và cung cấp vốn phải tuân thủ và phù hợp với
từng loại cây trồng vật nuôi theo những đặc tính sinh học đó.
+Hoạt động sản xuất nông nghiệp, nông thôn lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Bởi vì
sự tác động của vốn vào quá trình sản xuất và hiệu quả kinh tế của nó không phải là trực
Đầu tư vốn qua tín dụng cho nông nghiệp, nông dân cũng mới đáp ứng 50%-60% nhu cầu,
hiện nay, đại bộ phận nông dân thiếu vốn sản xuất và có nhu cầu vay vốn,nhưng nguồn vốn
cấp cho ngân hàng nông nghiệp cho vay chủ yếu thoả mãn với các điều kiện của doanh
nghiệp nông nghiệp của nhà nước, nhiều nông dân ( kể cả các trang trại) chưa dám vay
hoặc chưa được nguồn vốn nay, hiện nay có 2 ý kiến tría ngược nhau, phía nông dân cho
6
Chuyªn ®Ò thùc tËp
rằng thủ tục vay còn phiền hà, nông dân khó vay vốn ngân hàng, phía ngân hàng cho rằng
nông dân không tiếp cận và không có nhu cầu vay vốn. Nguồn vốn ưu đãi chủ yếu phục vụ
cho các Hộ nghèo, mức thu hút thấp và việc sử dụng vốn rất kém hiệu quả, số vốn cho vay
dài hạn và trung hạn dành cho nông nghiệp, nông thôn ở mức thấp(5%-6% tổng vốn tín
dụng cho nông nghiệp) và chủ yếu cho các hoạt động phi sản xuất, thực thi các chính sách
ưu đãi như cho vay tôn cao nền nhà ở đồng bằng sông cửu long, xây dựng giao thông nông
nghiệp, nông thôn…Đây là những vấn đề rất bức xúc đòi hỏi chính sách đầu tư vốn phải
xem xét một cách thấu đáo và giải quyết một cách thoả đáng.
+Đa số Hộ vay vốn tín dụng với lượng vốn nhỏ, họ không giám vay khoản lượng vốn lớn
một phần là do phía ngân hàng nông nghiệp không dám cho các Hộ vay lượng vốn lớn do
lo sợ Hộ sẽ trả lãi và gốc chậm không đúng thời gian ảnh hưởng đến lượng vốn của ngân
hàng, một phần do tâm lý e ngại của người dân không dám vay lượng vốn lớn họ chỉ dám
vay lượng vốn nhỏ để sản xuất kinh doanh nhỏ ở nông thôn hay để đầu tư vào sản xuất
nông nghiệp nhưng với lượng vốn nhỏ, nhưng không phải Hộ nào cũng thế có những Hộ
sản xuất kinh doanh nhỏ muốn vay vốn lớn để mở rộng sản xuất kinh doanh, chẳng hạn ở
khu công nghiệp Minh Đức có Hộ làm nghề giấy tiền vay vốn ngân hàng nghiệp với lượng
vốn là 100-200 triệu để đầu tư mở rộng sản xuất .
+Vay vốn của ngân hàng nông nghiệp của các Hộ sử dụng vào nhiều mục đích, có Hộ đầu
tư để gieo trồng chăn nuôi, có Hộ đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhỏ chẳng hạn như: làm
giấy tiền và hàng mã, hay làm đồ gỗ truyền thống,vay vốn ngân hàng không nhất quyết là
phải đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp mà có thể đầu tư vào lĩnh vực phi nông
nghiệp vì vốn của ngân hàng nông nghiệp dùng để phát triển nông thôn làm sao để nông
thôn phát triển theo đúng định hướng của nhà nước, làm cho nông thôn ngày càng phát
Vốn là điều kiện cần thiết và không thể thiếu được thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh
của mọi ngành trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vì vậy, việc đầu tư vốn cho nông
nghiệp nông thôn có vai trò hết sức quan trọng, điều đó được biểu hiện:
-Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng và cơ bản của nền
kinh tế quốc dân. Khác với các ngành sản xuất khác, nông nghiệp là ngành sản xuất sinh
học, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên. Vì vậy, đây là ngành cần lượng vốn lớn,
nhưng lợi nhuận của ngành thấp, tính rủi ro cao. Trong điều kiện sản xuất hàng hoá chi
phối, những người sản xuất sẽ tập trung đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực có lợi
nhuận cao, dẫn đến một số ngành đầu tư mang hiệu quả thấp sẽ không được chú ý phát
triển. Nông nghiệp nông thôn là ngành và lĩnh vực rơi vào tình trạng đó, do vậy, nông
nghiệp nông thôn phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào việc đầu tư của nhà
nước, trong đó có đầu tư vốn.
Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn là yếu tố quyết định để phát huy tiềm năng về đất đai,
sức lao động và các nguồn lợi tự nhiên khác nhằm cải biến nông nghiệp, nông thôn từng
bước theo kịp với các ngành, các lĩnh vực khác trong phát triển kinh tế xã Hội.
-Ngoài những vấn đề trên, nông nghiệp, nông thôn còn là ngành, lĩnh vực chứa đựng nhiều
mối quan hệ kinh tế- xã Hội phức tạp. Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn còn giải quyết
các vấn đề xã Hội nan giải (xóa đói giảm nghèo, bài trừ các hủ tục lạc hậu…), thực hiện
các chính sách xã Hội, một vấn đề hết sức quan tâm ở hầu hết các nước và các tổ chức quốc
tế.
Đối với nước ta, đầu tư cho nông nghiệp nông thôn có vai trò hết sức quan trọng ngoài vấn
đề nêu trên còn do:
-Nông nghiệp nông thôn nước ta có vị trí rất quan trọng. Trong nhiều năm chúng ta chỉ chú
ý đến nông nghiệp, lãng quên địa bàn nông thôn: Vì vậy kinh tế nông thôn nước ta chủ yếu
là thuần nông với cơ sở vật chất nghèo nàn, kết cấu hạ tầng thấp kém, sự cách biệt giữa
nông thôn và thành thị, giữa nông nghiệp với các ngành ngày càng lớn.
-Những năm trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung khi chú ý đầu tư cho nông
nghiệp, chúng ta cũng có những sai lầm trong nội dung và phương thức đầu tư, vì vậy hiệu
quả của vốn đầu tư chưa cao. Những năm gần đây, nhờ có những thay đổi về nội dung và
phương thức đầu tư, nông nghiệp, nông thôn đã đạt được những kết quả đáng khích lệ và
-Chỉ tiêu phản ánh trình độ tổ chức sử dụng:
+Diện tích đất canh tác, đất nông nghiệp tính trên một nhân khẩu và một lao động nông
nghiệp, chỉ tiêu này phản ánh trình độ tổ chức sử dụng đất đai theo lao động của Hộ sản
xuất kinh doanh nông nghiệp.
+Tổng quỹ đất nông nghiệp và đất có khả năng nông nghiệp trong Hộ sản xuất kinh doanh
nông nghiệp.
+Hệ số sử dụng ruộng đất, chỉ tiêu này phản ánh việc sử dụng diện tích trồng trọt trên diện
tích canh tác, thể hiện ở việc thực hiện tăng vụ và có khả năng tăng vụ của Hộ sản xuất
kinh doanh nông nghiệp.
+Những chỉ tiêu phản ánh trình độ thâm canh, khai thác chất lượng của đất đai như: hao phí
lao động, mức độ bón phân vô cơ, hữu cơ, mức độ chủ động tưới tiêu nước…
+Ngoài ra, trong phân tích người ta sử dụng các chỉ tiêu phản ánh trình độ sử dụng đất đai
cho mục đích phục vụ sản xuất nông nghiệp như tỷ lệ đất đai sử dụng vào các hoạt động
thuỷ lợi( trong đó có diện tích kênh mương được kiên cố hoá…), giao thông, trồng rừng
phòng Hộ…
-Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của tổ chức sử dụng đất đai.
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp
+Năng suất đất đai: được tính bằng giá trị sản lượng hay sản lượng hàng hoá tính trên cơ sở
đất canh tác, hay đất gieo trồng nông nghiệp. Hiện nay người ta đang có phong trào cánh
đồng 50 triệu/ha/năm để đánh giá hiệu quả sử dụng đất đai.
+Năng suất cây trồng tính cho diện tích trồng từng loại cây trồng.
+Lợi nhuận tính trên cơ sở diện tích đất gieo trồng nông nghiệp hay đất canh tác.
Việc đánh giá kết quả và hiệu quả sử dụng đất đai được tính theo từng năm, từng vụ. Để
đánh giá người ta tính toán các chỉ tiêu xem xét các nhân tố ảnh hưởng và sử dụng các
phương pháp thống kê, phân tích hoạt động kinh tế để đánh giá. Các nhân tố ảnh hưởng đến
trình độ tổ chức và hiệu quả kinh tế của tổ chức sử dụng đất đai trong các Hộ sản xuất kinh
doanh nông nghiệp bao gồm:
+Đặc tính tự nhiên của đất đai: đó là các đặc điểm về thổ nhưỡng, nông hoá và địa hình gắn
liền với các yếu tố về thời tiết khí hậu và thuỷ văn…
10
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Để nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu quả đối với nhiệm vụ và công việc được giao
cần thực hiện tốt công tác khoán và hợp đồng lao động.
Hiện nay các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp đang thực hiện hai hình thức khoán cơ
bản là khoán công việc cho từng tổ nhóm, người lao động và khoán sản phẩm cuối cùng
cho tổ, nhóm, người lao động và Hộ gia đình.
Tuỳ theo tính chất công việc, sản phẩm, trình độ tổ chức quản lý của cán bộ mà các hình
thức khoán trong Hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp cũng rất khác nhau, tuy nhiên áp
dụng hình thức nào thì vẫn rất cần công tác quản lý, kiểm tra giám sát của các cán bộ quản
lý cơ sở sản xuất kinh doanh, không đề ra tình trạng khoán trắng mà thực chất là buông
lỏng quản lý.
Đối với hợp đồng lao động hiện nay của các cơ sở sản xuất kinh doanh cũng cần vận dụng
nhiều hình thức hợp đồng lao động, tuy nhiên xu hướng chung đều dài hạn và tăng loại
hình hợp đồng thời hạn.
-Tăng cường công tác quản lý nâng cao ý thức trách nhiệm và kỷ luật lao động.
Hiện nay rất nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công tác quản lý lao động chưa
tốt, nhất là ở các doanh nghiệp nhà nước vì vậy tình trạng người lao động chưa có ý thức
trách nhiệm và kỷ luật lao động chưa cao, hiện tượng làm việc tuỳ tiện, vô nguyên tắc
không phải là hiện tượng cá biệt. Tất cả những vấn đề nêu trên tất yếu dẫn đến sự lãng phí
về thời gian làm việc, tài sản, tiền của xã Hội và của các cơ sở sản xuất kinh doanh. Vì vậy
tăng cường công tác quản lý nâng cao ý thức trách nhiệm và kỷ luật lao động là một biện
pháp quan trọng nhằm sử dụng đầy đủ hợp lý lao động. Để tăng cường công tác quản lý và
kỷ luật lao động phải xác định rõ chức năng nhiệm vụ trong từng bộ phận, nhiệm vụ từng
cá nhân. việc bố trí và sử dụng cán bộ, người lao động phải đúng khả năng, tiêu chuẩn và
định mức lao động đề r, phải tăng cưòng công tác kiểm tra và cương quyết xử lý các trường
hợp vi phạm, đặc biệt là đối với cấp lãnh đạo, lãnh đạo cấp cao xử lý càng nặng, nếu cùng
một hành vi viphạm khuyết điểm. Kỷ luật phải gắn liền với khen thưởng, hoàn thành tốt
nhiệm vụ phải được thưởng( kể cả thưởng vật chất và tinh thần) tăng cường công tác giáo
dục chính trị, tư tưởng nhất là giáo dục về truyền thống.
+Mức tăng năng suất lao động tích luỹ.
+Mức tăng thu nhập và đời sống của người lao động…
Chú ý những chỉ tiêu trên đây là những chỉ tiêu gián tiếp và các chỉ tiêu này do rất nhiều
nguyên nhân tác động vào, không chỉ do việc tổ chức và sử dụng tài sản cố định.
-Đánh giá hiệu quả tổ chức sử dụng tài sản lưu động.
Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động thường được xem xét trên hai mặt:
+Mức độ đầu tư tài sản bằng hiện vật và bằng giá trị trên 1 ha gieo trồng như; phân bón, hạt
giống, thuốc trừ sâu, xăng dầu, mỡ…
+Kết quả sản xuất do đầu tư sử dụng tài sản lưu động mang lại( sự gia tăng của năng suất,
sản lượng trồng trọt, chăn nuôi, chế biến…)
*Đánh giá kết qủa và hiệu quả của tổ chức sản xuất kinh doanh trồng trọt.
Đánh giá kết quả và hiệu quả của sản xuất kinh doanh trồng trọt bao gồm đánh giá hiệu quả
kinh tế của từng loại cây trồng và hiệu quả kinh tế trồng trọt nói chung của cơ sở sản xuất
kinh doanh.
Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế của một loại cây trồng gồm:
Giá trị sản lượng, giá trị sản lượng hàng hoá tính trên một đơn vị diện tích trồng trọt.
-Giá thành đơn vị sản phẩm.
-Năng suất lao động( tính bằng hiện vật và giá trị)
-Lợi nhuận tính trên một đơn vị sản phẩm, một đơn vị diện tích trồng trọt, một người lao
động, một đồng chi phí.
để đánh giá kết quả và hiệu quả của kinh tế trồng trọt nói chung của cơ sở sản xuất kinh
doanh các chỉ tiêu chính thường được sử dụng là:
-Gía trị sản lượng, giá trị sản lượng hàng hoá ngành trồng trọt trên một đơn vị diện tích
trồng trọt, một người lao động, một đồng chi phí.
-Lợi nhuận ngành trồng trọt tính trên một đơn vị diện tích trồng trọt, một người lao động,
một đồng chi phí.
Khi đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh trồng trọt để việc đánh giá có cơ sở
khoa học cần chú ý vấn đề sau:
-Sử dụng số liệu và kết quả sản xuất trồng trọt nhiều năm của cơ sở sản xuất kinh doanh.
12
việc đánh giá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế, nhưng khi tính toán và
phân tích các chỉ tiêu cần lưu ý:
+Việc tính toán các yếu tố chi phí: nhiều yếu tố đầu vào của các hoạt động phi nông nghiệp
trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp là các sản phẩm( bao gồm cả săn phẩm
chính và các sản phẩm phụ) của hoạt động phi nông nghiệp. việc xác định giá cả yếu tố đầu
vào cần tuân theo các yêu cầu tính toán theo quy định hạch toán kê toán trong nông nghiệp.
+Khi phân tích các chỉ tiêu cần xem xét mối tương quan giữa kết quả và chi phí và mục
đích tổ chức các hoạt động phi nông nghiệp trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nông
nghiệp. Làm rõ sự tác động của các hoạt động phi nông nghiệp đến sự phát triển của các
hoạt động nông nghiệp, mức độ tận dụng các nguồn lực của các cơ sở sản xuất kinh doanh
nông nghiệp do sự tác động của các hoạt động phi nông nghiệp.
+Việc phân tích cũng phải tiến hành qua nhiều năm để thấy rõ xu hướng phát triển, sự tác
động của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các hoạt động phi nông nghiệp
13
Chuyªn ®Ò thùc tËp
trong cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp, cần so sánh các chỉ tiêu của cơ sở sản xuất
kinh doanh này với các cơ sở sản xuất kinh doanh khác để có kết luận khách quan.
-Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của việc tổ chức các hoạt động phi nông
nghiệp trong các Hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
+Gía trị sản lượng và giá trị sản lượng hàng hoá tính trên 1 lao động, 1 đồng vốn, 1 đồng
chi phí sản xuất của hoạt động hay nhóm hoạt động phi nông nghiệp. Việc tính toán giá trị
sản lượng các hoạt động sản xuất có phần đơn giản hơn(được quy định theo các nguyên tắc
của thống kê kinh tế). Tuy nhiên, hiện nay người ta dùng chỉ tiêu giá trị sản xuất ( giá trị
sản phẩm chính, sản phẩm phụ và sản phẩm dở dang), giá trị sản lượng hàng hoá ( giá trị
sản xuất trừ đi giá trị sản phẩm dở dang), giá trị sản lượng hàng hoá thực tế ( giá trị của
những hàng hoá thực tế bán ra). Vì vậy khi tính toán ta có thể sử dụng 2 chỉ tiêu: Gía trị
sản xuất và giá trị sản phẩm hàng hoá thực tế để tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế.
Đối với các hoạt động dịch vụ: việc tính toán giá trị sản lượng, giá trị sản lượng hàng hoá
có phức tạp hơn và được quy định cho từng loại hoạt động. Đối với hoạt động xây dựng, có
2 phương pháp tính( theo yếu tố và theo mức độ hoàn thành) Đối với hoạt động thương mại
-Vốn huy động trong cộng đồng người dân.
*Vốn đi vay.
-Vay các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước.
-Phát hành chứng chỉ ghi nợ( kỳ phiếu, trái phiếu).
-Vay của các ngân hàng thương mại trong nước.
*Vốn uỷ thác: là nguồn vốn của nhà nước.
*Các loại vốn khác: được hình thành trong quá trình hoạt động như vốn trong thanh toán,
chênh lệch thu nhập và chi phí nghiệp vụ.
Cùng với đầu tư tài chính, đầu tư qua quỹ tín dụng ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong
nông nghiệp, nông thôn, khac với các nguồn vốn tín dụng huy động từ các nguồn khác,
nguồn vốn tín dụng được hình thành từ ngân sách nhà nước sử dụng cho vay với lãi suất ưu
đãi, cho vay để xây dựng các kết cấu hạ tầng, kinh tế- xã Hội và cho vay thông qua các dự
án phát triển kinh tế- xã Hội, ở hầu hết các nước nguồn vốn ngân sách đầu tư cho nông
nghiệp, nông thôn ngày càng được sử dụng dưới hình thức tín dụng ưu đãi là chủ yếu. Ở
nước ta trước năm 1988, chính sách tín dụng chủ yếu phục vụ các tổ chức kinh tế quốc
doanh và kinh tế tập thể. Mô hình tín dụngchủ yếu theo hình thức nhà nước thông qua vụ
tín dụng nông nghiệp của ngân hàng nhà nước Việt Nam phân bố tín dụng theo mệnh lệnh
của chính phủ. Ngân hàng lấy nguồn vốn để cho vay và tiếp vốn cho các hợp tác xã tín
dụng nông thôn, sau năm 1988 cùng với sự đổi mới của nền kinh tế, tổ chức ngân hàng đã
có sự cải tổ, tiến hành thử nghiệm mô hình hai cấp, theo đó ngân hàng phát triển nông
nghiệp( cuối năm 1980 đổi thành ngân hàng nông nghiệp Việt Nam) được thành lập. Trong
thời gian này các hợp tác xã tín dụng ở các cơ sở bị tê liệt hoàn toàn. Vì vậy hoạt động tín
dụng ở nông thôn chủ yếu là ngân hàng nông nghiệp Việt Nam nhìn chung chính sách tín
dụng thời kỳ này là đã cởi mở hơn. Ngoài phần vốn ngân sách thông qua ngân hàng nông
nghiệp để thực hiện việc cho vay vốn tới Hộ, chính phủ còn yêu cầu một số ngân hàng
chuyên doanh thực hiện cho vay ưu đãi. Nhờ đó nhu cầu vốn của Hộ nông dân đã từng
bước được đáp ứng. Vốn tín dụng đã được chuyển giao tới Hộ nông dân qua nhiều hình
thức, từng bước xoá bỏ các thủ tục rườm rà, cụ thể:
+Cho vay qua tổ liên doanh, liên đới, tổ tự nguyện của nông dân là hình thức khá rộng rãi.
Ở 12 tỉnh thành trong 4 năm, ngân hàng đã cho vay qua 37048 tổ nhóm với 567096 thành
cư. Đây là hình thức đầu tư bình đẳng không ưu đãi. Lãi suất cho vay được tính toán trên
cơ sở lãi suất đi vay và chi phí của các hoạt động tín dụng…vì vậy, các thủ tục cho vay
được thực hiện chặt chẽ, nhằm bảo toàn vốn, duy trì ổn định lâu dài các hoạt động tín dụng.
trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, khi năng suất lao động trong nông nghiệp còn thấp,
hình thức đầu tư vốn này còn hạn chế. Tuy nhiên sự phát triển của kinh tế trang trại với
nhiều mô hình làm ăn giỏi đã mở ra khả năng rất lớn của chính sách đầu tư qua hình thức
tín dụng này, trên thực tế chúng ta đang khuyến khích các hình thức tín dụng nhân dân
nhằm huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân để tập trung cho nông nghiệp, nông thôn. Tuy
đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng thực tế cũng cho thấy những mặt hạn chế
trong tổ chức thực hiện và trong chính nội dung kinh doanh nó.
2)Cho vay tín dụng của NHNN&PTNT cho phát triển kinh tế Hộ.
*Mục đích cho vay
Hỗ trợ vốn cho phát triển sản xuất chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới nông nghiệp nông
thôn nói chung và hỗ trợ vốn cho Hộ ở nông thôn để sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập
cải thiện đời sống, xoá đói giảm nghèo.
-Phát triển mạnh nông nghiệp, nông thôn đặc biệt coi trọng công nghiệp chế biến, các
ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu tại nông thôn, các ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp, đầu tư công nghệ hiện đại, tận dụng công nghệ truyền thống, chú trọng công nghệ
tạo ra nhiều công ăn việc làm.
-Phát triển mạnh các dịch vụ nông thôn phục vụ trực tiếp thúc đẩy sản xuất phát triển cải
thiện đời sống ở nông thôn, phát triển mạnh các cây trồng có khả năng cạnh tranh và xuất
khẩu lớn. Mở rộng sản xuất các cây trồng thay thế.
-Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn coi đây là khoản đầu tư để tạo ra môi trường
kinh tế cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đây là nhân tố hết sức quan
trọng góp phần hình thành trung tâm, các tụ điểm giao lưu kinh tế và mở rộng sự trao đổi
buôn bán thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế
nông thôn sang sản xuất hàng hoá. Kết cấu hạ tầng trong nông thôn phát triển sẽ tạo ra một
16
Chuyªn ®Ò thùc tËp
cuộc cách mạng mới về sản xuất, về cơ cấu ngành nghề nông thôn theo hướng sản xuất
phải hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng theo như cam kết trước khi vay, sau khi hoàn
thành song bước này người tham gia vay vốn ở ngân hàng có thể được tiếp tục hoặc không
được vay tại ngân hàng nữa.
IV)Kinh nghiệm cho vay tín dụng để phát triển kinh tế Hộ Nông Dân ở một số địa
phương của NHNN&PTNT ở Hưng Yên.
Tại huyện Phù Cừ đồng vốn tín dụng cũng đang góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp
hóa và hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam, sự nghiệp công nghiệp hoá và
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn cần nhiều nguồn vốn tín dụng cùng các dịch vụ ngân
hàng hiện đại cho nhu cầu phát triển các doanh nghiệp ở nông thôn.
Năm 2004 mức tăng trưởng kinh tế của huyện Phù Cừ đạt 15,8% cao nhất từ trước đến
nay, người dân phù cừ đã biết cách sử dụng đồng vốn vay của ngân hàng đúng mục đích,
phát huy sức mạnh của một huyện đa nghề, tạo công ăn việc làm cho người lao động,
17
Chuyªn ®Ò thùc tËp
huyện phù cừ với nhiều ngành nghề đã thực sự phát huy tiềm năng của mình, chỉ tính riêng
số người chạy chợ búa đã lên tới con số 3000 người, gần khoảng 500 lao động trực tiếp làm
việc chạy chợ và buôn bán nhỏ, khoảng 400 người làm cơ khí, 100 lao động chuyên hàn
cửa sắt, cửa hoa, ngoài ra còn có 46 cơ sở chế biến gỗ tạo việc làm cho khoảng 1000-1200
lao động.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện phù cừ đã cho số Hộ sản xuất vay
năm 2004 là 64632,511002 triệu đồng, năm 2005 là 79026,747895 triệu đồng, năm 2006 là
99416,173175 triệu đồng, năm 2005 tăng so với 2004 là 14405,2 hay tăng 22,3%, năm
2006 tăng so với 2005 là 20389,4 hay tăng 25,8%.
Tóm lại tín dụng ngân hàng cho Hộ sản xuất cần được sự trợ giúp từ phía nhà nước vì cho
vay Hộ sản xuất ở nông thôn gặp rất nhiều rủi ro do phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, thời
hạn thu hồi vốn chậm. Trước hết là rủi ro về nguồn vốn sau đó là rủi ro về cho vay có nghĩa
là rủi ro về suất vốn.
Phát triển thị trường tài chính nông thôn và quản lý khách hàng cho những món vay nhỏ,
tiết giảm đầu mối quản lý, mở rộng các hình thức huy động vốn, từng bước tiến tới hoạt
động theo cơ chế lãi suất thực hiện.
Các Hộ nông dân ngoài sản xuất nông nghiệp còn có thể hoạt động trong một số lĩnh vực
kinh doanh khác,tại khu công nghiệp Minh Đức do sản xuất nông nghiệp chủ yếu phụ thuộc
vào điều kiện tự nhiên lên 3 xã ở khu công nghiệp Minh Đức do đặc thù tự nhiên khác nhau
lên các Hộ sản xuất tại 3 xã lại cũng làm nông nghiệp nhưng có ngành nghề khác nhau ví
dụ: xã Minh Đức có nghề làm giấy tiền hàng mã, xã Hoà Phong có nghề làm gỗ truyền
thống, xã Ngọc Lâm thì do có điều kiện tự nhiên thuận lợi lên làm sản xuất nông nghiệp
đặc thù và chăn nuôi phát triển.
Trong 3 xã thì xã Minh Đức là kinh tế Hộ nông dân phát triển nhất do nằm ngay ngoài gần
quốc lộ 5A là tuyến đường quan trọng lưu thông từ Hà Nội đến Hải Phòng thuận lợi cho
phát triển kinh tế Hộ nông dân
2)Đặc điểm kinh tế- xã Hội có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế Hộ.
Hưng Yên là tỉnh có đến 80% dân số là nông dân, có vùng nông thôn rộng lớn đất đai chứa
đựng nhiều tiềm năng kinh tế nông nghiệp đa dạng, là địa bàn có thế mạnh về phát triển
kinh tế nông nghiệp.
Nông thôn Hưng Yên rộng lớn có lực lượng lao động rồi dào, có truyền thống lao động cần
cù, năng động sáng tạo, giám nghĩ, giám làm, nhân dân Hưng Yên có truyền thống yêu
nước xây dựng quê hương, thẳng thắn trung thực, nhiều làng xã trong tỉnh có nghề thủ công
phát triển và rất cần vốn để làm ra sản phẩm hàng hoá phục vụ tiêu dùng cho xã Hội và
xuất khẩu.
19
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Năm 2006 vừa qua mặc dù sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn bất lợi, thiên tai hạn
hán rồi rét đậm, rét hại kéo dài, dịch cúm gia cầm xảy ra nhưng vẫn đạt được kết quả quan
trọng, đạt và vượt 17/23 chỉ tiêu chương trình phát triển nông nghiệp giai đoạn 2001-2006
đã đề ra giá trị sản xuất nông nghiệp tăng trưởng bình quân 6,95% trên năm, vượt chỉ tiêu
đề ra bình quân 0,95% trên năm và cao hơn mức trung bình cả nước(4,5% năm). Cơ cấu
kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, bền vững, chăn nuôi thực sự trở
thành ngành sản xuất chính chiếm 45% giá trị sản xuất nông nghiệp.
Tổng sản phẩm GDP tăng 15,6% nền kinh tế Hưng Yên phát triển tương đối đồng đều với
cơ cấu kinh tế.
hạn do ngân hàng nông nghiệp trung ương uỷ thác, mặt khác ngân hàng cũng tiếp nhận vốn
tài trợ và vốn uỷ thác đầu tư ngân sách nhà nước từ các tổ chức quốc tế, quốc gia và các cá
nhân ở trong và ngoài nước do các chương trình, các dự án đầu tư phát triển nông nghiệp và
nông thôn.
20
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Vốn huy động của các năm tăng lên qua các năm, năm sau cao hơn năm trước. Đây cũng là
dấu hiệu tốt chứng tỏ ngân hàng luôn có chính sách thu hút khách hàng đến gửi. Tạo niềm
tin cho khách hàng với chi nhánh của mình.
Công tác huy động nguồn vốn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong cả
năm. Toàn tỉnh đã tập trung chỉ đạo và có nhiều giải pháp huy động thiết thực đạt kết quả.
Nguồn vốn tăng trưởng cao ở hầu hết các loại tiền gửi có sự chuyển dịch tích cực có lợi cho
kinh doanh, tiền gửi có lãi suất thấp( tiền gửi không có kỳ hạn, tiền gửi các tổ chức kinh
tế).
-Vốn điều lệ được cấp.
-Vay ngân hàng nhà nước Việt Nam.
-Vốn vay nước ngoài.
-Vốn nhận dịch vụ uỷ thác.
Bảng so sánh kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng NN&PTNT khu công nghiệp
Minh Đức trong 3 năm 2004-2005-2006.
21
Chuyên đề thực tập
n v: Triu ng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
So sánh
2005/2004 2006/2005
+/- % +/- %
Vốn khả dụng và các khoản Đ.t
Trong đó: Tiền mặt + chứng từ
235,5541
Tổng TS cố đinh và TS có khác
Trong đó: TSCĐ
TS Khác
3306,973525
2586,219108
653,403506
9568,069347
3384,004938
1063,431396
14611,901911
4853,758479
1226,397849
6261,096
797,7858
410,0278
189,3
30,84
62,72
5043,208
1469,753
162,9664
52,7
43,4
15,3
Tổng nguồn vốn chủ sở hữu 6161,898331 10986,705612 7576 4824,8 78,3 -3320,2 -30,2
Thu nhập
Trong đó:TN về HĐTD.
-Thu từ lãi.
Thu từ bảo lãnh.
Thu từ DVTT và ngânquỹ
46,5
45,6
20,3
156
63,1
Chi phí.
Trong đó: CF HĐ huy động
vốn.
-Trả lãi TG.
CF TT và ngân quỹ.
CF nhân viên.
CF HĐ q.lí và công vụ.
12894,469785
8795,850598
8429,906852
21,423953
1709,397479
1075,193686
29763,476014
23464,112210
8496,772174
101,285941
2269,446834
1410,358717
42028,896745
33764,776626
16021,363027
135,274835
2857,894779
1619,032245
đã có nhiều nguồn huy động vốn.
Tiền mặt và chứng từ năm 2005 tăng so với năm 2004 là 220,187 triệu đồng hay tăng
97,2%, năm 2006 tăng so với năm 2005 là 994,1915 triệu đồng hay tăng 222,58%, lượng
tiền mặt và chứng từ của ngân hàng nông nghiệp tăng lên từng năm.
Tổng tiền gửi của khách hàng năm 2005 tăng so với năm 2004 là 51266,53 triệu đồng hay
tăng 38,8%, năm 2006 tăng so với năm 2005 là 83529,92 triệu đồng hay tăng 45,5%, lượng
tiền gửi của khách hàng tăng lên theo từng năm chứng tỏ ngân hàng đã tạo được niềm tin
đối với người gửi tiền tiết kiệm..
Tổng hoạt động tín dụng của ngân hàng nông nghiệp năm 2005 tăng so với năm 2004 là
17986,7 triệu đồng hay tăng 62,09%, năm 2006 tăng so với năm 2005 là 58344,47 triệu
đồng hay tăng 124,25%, ngân hàng nông nghiệp đã hoạt động tín dụng tăng theo từng năm.
Cho Hộ sản xuất vay năm 2005 tăng so với năm 2004 là 5553 triệu đồng hay tăng 23,76%,
năm 2006 giảm so với năm 2005 là –551 triệu đồng hay giảm –1,905%, có nhiều lý do
khiến số tiền cho Hộ sản xuất vay giảm có thể là do Hộ sản xuất giảm, Hộ sản xuất ngần
ngại không muốn vay vốn của ngân hàng nông nghiệp với nhiều lý do.
Tổng tài sản cố định và tài sản có khác năm 2005 tăng so với năm 2004 là6261,096 triệu
đồng hay tăng 189,3%, năm 2006 tăng so với năm 2005 là 5043,208 triệu đồng hay tăng
52,7%. điều đó cho thấy sự lớn mạnh của ngân hàng nông nghiệp khu công nghiệp Minh
Đức.
Trong đó tài sản cố định năm 2005 tăng so với năm 2004 là 797,7858 triệu đồng hay tăng
30,84%, năm 2006 tăng so với năm 2005 là 1469,753 triệu đồng hay tăng 43,4%. Tài sản
khác năm 2005 tăng so với năm 2004 là 410,0278 triệu đồng hay tăng 62,72%, năm 2006
tăng so với năm 2005 là 162,9664 triệu đồng hay tăng 15,3%.
Tổng nguồn vốn chủ sở hữu năm 2005 tăng so với năm 2004 là 4824,8 triệu đồng hay tăng
78,3%, năm 2006 giảm so với năm 2005 là –3320,2 triệu đồng hay giảm –30,2%, cho thấy
nguồn vốn chủ sở hữu giảm ngân hàng nông nghiệp đã huy động vốn từ bên ngoài tốt lên
giảm nguồn vốn sở hữu.
Thu nhập của ngân hàng nông nghiệp năm 2005 tăng so với năm 2004 là 21693,8 triệu
đồng hay tăng 113,8%, năm 2006 tăng so với năm 2005 là 8854,74 triệu đồng hay tăng
46,5%, thu nhập của ngân hàngtăng qua từng năm chứng tỏ ngân hàng làm ăn có hiệu quả
giải pháp đúng có hiệu quả.
Tăng cường củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của hệ thống mạng lưới
nâng cao chất lượng dịch vụ và phục vụ khách hàng, gắn kết quả huy động vốn với phân
phối tiền lương của bộ phận giao dịch lên đã thúc đẩy đơn vị, cá nhân nâng cao chất lượng
phục vụ khách hàng đến giao dịch, có chính sách thưởng vật chất kịp thời cho những tập
thể cá nhân có công trong việc vận động thu hút khách hàng mơi đến quan hệ tiền gửi và
vay vốn ngân hàng nông nghiệp.
Thường xuyên nghiên cứu thị trường có chính sách khuyến mãi đưa ra những sản phẩm lãi
suất phù hợp với thị trường như tiết kiệm bậc thàng, huy động vốn và chi trả tiền gửi tại
nhà khách hàng.
2) Hoạt động cho vay.
*Điều kiện cho vay.
Có Hộ khẩu thường trú đã trực tiếp sản xuất tại đại bàn ít nhất 1 năm có nhận khoán ruộng
đất, vườn, ao hồ…Người đứng tên vay vốn là chủ Hộ, có tuổi đời từ 20 tuổi trở lên, hoặc
người trong Hộ có đủ điều kiện có thể nhận đựơc chủ Hộ uỷ quyền.
-Có kinh nghiệm và kỹ năng sản xuất tổ chức quản lý.
-Có sản phẩm hàng hoá tiêu thụ được và có lãi.
-Có tài sản thế chấp đối với:
+Vốn vay trung hạn.
+Nhu cầu vay trên mức thu hoạch mùa vụ đối với cho vay ngắn hạn.
-Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước( thuế, phí…)
-Chấp hành thể lệ vay vốn của ngân hàng.
-Không có nợ quá hạn ngân hàng.
*Đối tượng cho vay và các hình thức cho vay.
24
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Nông nghiệp nông thôn là lĩnh vực hết sức rộng lớn và phức tạp. Bao gồm nhiều đối tượng,
nhiều lĩnh vực hoạt động cần vốn. Vì vậy, cần căn cứ vào nguồn vốn tín dụng, đặc điểm
của hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh để xác định đối tượng và hình thức
cho vay phù hợp. Trong điều kiện nguồn vốn hạn hẹp, yêu cầu đầu tư lớn, việc xác định
cấp cho toàn xã Hội. Tuy nhiên cần phải thấy rằng nhu cầu vốn của Hộ nông dân là cần
thiết và chính đáng. Nhưng tình trạng rủi ro trong tín dụng nông nghiệp, nông thôn lớn hơn
bất cứ tín dụng nào, vì vậy vấn đề thế chấp phải được đặt lên hàng đầu. Song đòi hỏi thế
chấp tài sản của nông dân là rất khó, nhất là nông dân nghèo. Để tháo gỡ vấn đề này, nhà
nước cần đẩy nhanh việc ban hành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nông dân, giấy
chứng nhận được chuyển nhượng và mua bán như một chứng khoán có giá trị và được coi
là một phương tiện thế chấp khi vay vốn. Ngoài ra cần mở rộng các hình thức vốn tín chấp
và cho vay tới các tổ nhóm. Những đơn vị có tài sản thế chấp đảm bảo những nguyên tắc
kinh doanh vốn, cần có sự liên kết giữa các tổ chức kinh doanh vốn, các chủ đầu tư với các
25