PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do lựa chọn đề tài
Ở bất kỳ lĩnh vực hay ngành nghề kinh doanh nào vốn luôn là một yếu tố vô cùng
quan trọng để thực hiện các hoạt động kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là
hàng hóa đặc biệt tuân theo quy luật cung cầu. Do đó, doanh nghiệp (DN) cần phải xác
định lượng vốn cần thiết, lựa chọn phương án đầu tư có hiệu quả, lựa chọn hình thức thu
hút vốn tối ưu. Tuy nhiên, yếu tố vốn mới chỉ là bước khởi đầu, vấn đề quản lý và sử
dụng vốn sao cho có hiệu quả cũng không kém phần quan trọng, vấn đề cốt yếu của DN là
đồng vốn đó được sinh lời và tăng trưởng bao nhiêu. Do vậy, sử dụng hiệu quả vốn kinh
doanh, cụ thể là vốn cố định - là một vấn đề quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh
doanh. Để đạt được mục tiêu trên, việc tăng cường công tác phân tích tình hình sử dụng
vốn cố định trong các DN là rất cần thiết.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, nắm được các nội dung lí luận cơ bản
cùng với quá trình tìm hiểu thực tế hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty sửa chữa
phương tiện thủy và dịch vụ VINAWACO 3, em đã tập trung nghiên cứu đề tài: “Nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty sửa chữa phương tiện thủy và dịch vụ
VINAWACO 3”
2.Mục đích nghiên cứu của đề tài
+ Về mặt lý luận: Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về phân tích hiệu quả
sử dụng vốn cố định trong DN.
+Về mặt thực tế: Vận dụng hệ thống lý luận đã nêu nghiên cứu tình hình sử dụng
vốn cố định tại Công ty sửa chữa phương tiện thủy và dịch vụ VINAWACO 3.
+ Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty sửa
chữa phương tiện thủy và dịch vụ VINAWACO 3.
3.Phạm vi nghiên cứu
+Thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2013.
+Đơn vị:Công ty sửa chữa phương tiện thủy và dịch vụ VINAWACO 3.
1
4.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp biện chứng duy vật: Tức là xem xét các sự vật, hiện tượng trong mối
liên hệ tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau trong sự vận động và phát triển không
1.1.1.2. Đặc điểm vốn cố định
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu. Chúng tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp vào nhiều chu kì của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản cố
định không thay đổi hình thái vật chất ban đầu trong suốt thời gian sử dụng, cho đến lúc
hư hỏng hoàn toàn. Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định hao mòn dần, phần giá trị hao
mòn sẽ chuyển dần vào giá trị mới tạo ra của sản phẩm và được bù đắp lại bằng tiền khi
sản phẩm được tiêu thụ. Tài sản cố định cũng là một loại hàng hoá có giá trị sử dụng và
giá trị. Nó là sản ph?ẩm của lao động và được mua bán, trao đổi trên thị trường sản xuất.
Giữa tài sản cố định và vốn cố định có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Tài sản cố định là hình thái biểu hiện vật chất của vốn cố định. Do vậy, vốn cố
định của Doanh nghiệp có đặc điểm tương tự như tài sản cố định. Như thế sau nhiều chu
3
kì sản xuất kinh doanh phần vốn cố định giảm dần và phần vốn đã luân chuyển tăng lên.
Kết thúc quá trình này, số tiền khấu hao đã thu hồi đủ để tái tạo một tài sản mới. Lúc này
tài sản cố định cũng hư hỏng hoàn toàn cùng với vốn cố định đã kết thúc một vòng tuần
hoàn luân chuyển. Do đó, có thể nói vốn cố định là biểu hiện số tiền ứng trước về những
tài sản cố định mà chúng có đặc điểm mất dần từng phần trong chu kì sản xuất và kết thúc
một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng.
Phân loại TSCĐ:
- Tài sản cố định hữu hình
Khái niệm: Tài sản cố định hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu có tính chất
vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận
từng tài sản liên kết với nhau để thể hiện một hay một số chức năng nhất định), có giá trị
lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kì kinh doanh nhưng vẫn giữ
nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị …
Là mọi tư liệu lao động, là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ
thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một
số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kì một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống
không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả hai tiêu chuẩn dưới đây thì được
coi là một tài sản cố định:
các chi phí vận chuyển bốc dỡ, chi phí lắp đặt, chạy thử, lãi tiền vay đầu tư cho tài sản cố
định khi chưa bàn giao và đưa tài sản cố định vào sử dụng, thuế và lệ phí trước bạ (nếu
có)
Đối với tài sản cố định loại đầu tư xây dựng thì nguyên giá là giá thực tế của công
trình xây dựng (cả tự làm và thuê ngoài) theo quy định tại điều lệ quản lý đầu tư và xây
5
dựng hiện hành, các chi phí khác có liên quan và lệ phí trước bạ (nếu có). Đối với tài sản
cố định là súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm, vườn cây lâu năm thì nguyên giá là toàn
bộ các chi phí thực tế, hợp lý, hợp lệ đã chi ra cho con súc vật, mảnh vườn cây từ lúc hình
thành cho tới khi đưa vào khai thác, sử dụng theo quy định tại điều lệ quản lý đầu tư và
xây dựng hiện hành, các chi phí khác có liên quan và lệ phí trước bạ (nếu có).
Đối với tài sản cố định loại được cấp, được điều chuyển đến thì nguyên giá tài sản
cố định loại được cấp, điều chuyển đến bao gồm: giá trị còn lại trên sổ kế toán của tài sản
cố định ở đơn vị cấp, đơn vị điều chuyển hoặc giá trị theo đánh giá thực tế của hội đồng
giao nhận, các chi phí tân trang; chi phí sửa chữa, chi phí vận chuyển bốc dỡ, lắp đặt,
chạy thử, lệ phí trước bạ (nếu có) mà bên nhận tài sản phải chi ra trước khi đưa tài sản
cố định vào sử dụng.
Riêng nguyên giá tài sản cố định điều chuyển giữa các đơn vị thành viên hạch toán
phị thuộc trong Doanh nghiệp là nguyên giá phản ánh ở đơn vị bị điều chuyển phù hợp
với bộ hồ sư của tài sản cố định đó. Đơn vị nhận tài sản cố định căn cứ vào nguyên giá, số
khấu hao luỹ kế, giá trị còn lại trên sổ kế toán và bộ hồ sơ của tài sản cố định đó để xác
định các chỉ tiêu nguyên giá, số khấu hao luỹ kế, giá trị còn lại trên sổ kế toán của tài sản
cố định và phản ánh vào sổ kế toán. Các chi phí có liên quan đến việc điều chuyển tài
khoản giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc không hạch toán tăng nguyên giá
tài sản cố định mà hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ.
Đối với tài sản cố định loại được cho, được biếu, được tặng, nhận góp vốn liên
doanh, nhận lại vốn góp do phát hiện thừa thì nguyên giá bao gồm: giá trị theo đánh giá
thực tế của Hội đồng giao nhận; các chi phí tân trang, sửa chữa tài sản cố định; các chi phí
vận chuyển, bốc dỡ, lắp đăt, chạy thử, lệ phí trước bạ (nếu có) mà bên nhận phải chi ra
trước khi đưa tài sản cố định vào sử dụng.
doạ bởi những rủi ro, những nguyên nhân chủ quan và khách quan làm thất thoát vốn như:
7
Do kinh doanh kém hiệu quả, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, do giá bán thấp
hơn giá thành nên thu nhập không đủ bù đắp mức độ hao mòn TSCĐ. Do sự phát triển
của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho mức độ hao mòn vô hình của TSCĐ vượt qua mức
dự kiến về mặt hiện vật cũng như về mặt giá trị. Do yếu tố lạm phát trong nền kinh tế. Khi
lạm phát xảy ra, giá trị thực của đồng vốn bị thay đổi, do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải
đánh giá và điều chỉnh lại giá trị tài sản để tránh tình trạng mất vốn kinh doanh theo tốc
độ lạm phát trên thị trường.
+ Vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển sau nhiều chu kỳ kinh doanh. Trong
các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng tương đối lớn
trong toàn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất kinh doanh nói chung. Quy mô của vốn
cố định và trình độ quản lý sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang
bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh. Do ở một vị trí then chốt và đặc điểm luân chuyển
của nó lại tuân theo tính quy luật riêng, nên việc quản lý vốn cố định có ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa vốn cố định đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Về mặt giá trị bằng tiền, vốn cố định phản ánh tiềm lực của Doanh nghiệp. Còn về
mặt hiện vật, vốn cố định thể hiện vai trò của mình qua tài sản cố định.
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh của Doanh nghiệp. Nó gắn liền với Doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại.
Doanh nghiệp có tài sản cố định có thể không lớn về mặt giá trị nhưng tầm quan trọng của
nó lại không nhỏ chút nào.
Thứ nhất, tài sản cố định phản ánh mặt bằng cơ sở hạ tầng của Doanh nghiệp, phản
ánh quy mô của Doanh nghiệp có tương xứng hay không với đặc điểm loại hình kinh
doanh mà nó tiến hành.
Thứ hai, tài sản cố định luôn mang tính quyết định đối với quá trình sản xuất hàng
hoá của Doanh nghiệp. Do đặc điểm luân chuyển của mình qua mỗi chu kì sản xuất, tài
8
sản cố định tồn tại trong một thời gian dài và nó tạo ra tính ổn định trong chu kì kinh
- Nguồn vốn liên doanh: gồm các khoản do các đơn vị tham gia liên doanh góp vốn
bằng TSCĐ và góp bằng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã hoàn thành.
- Nguồn vốn vay: gồm các khoản vay Ngân hàng, vay các tổ chức kinh tế khác để
đầu tư vào TSCĐ, hoặc các khoản huy động được từ phát hành cổ phiếu, trái phiếu
Thực tế trong điều kiện sản xuất chưa phát triển, hiệu quả kinh tế đạt được nhìn
chung còn thấp, trình độ quản lý còn non kém, quá trình sản xuất kinh doanh còn gặp
nhiều khó khăn thì việc bổ sung VCĐ bằng các quỹ của doanh nghiệp còn rất hạn chế.
Mặt khác, các doanh nghiệp làm ăn còn kém hiệu quả nên việc liên doanh liên kết và huy
động vốn liên doanh của các đơn vị khác sẽ rất khó khăn. Bởi vì khi đem đồng vốn đi góp
vốn liên doanh các nhà kinh tế phải phân tích hiệu quả kinh tế của đồng vốn đem đi góp,
phân tích tình hình sản xuất của doanh nghiệp định liên doanh làm ăn có hiệu quả hay
không? Chính vì vậy mà nguồn VCĐ huy động từ liên doanh hay các nguồn khai thác từ
bên ngoài cũng chỉ đạt được ở một mức độ nhất định. Vì vậy nguồn VCĐ của doanh
nghiệp chủ yếu là do nguồn vốn Ngân sách cấp. Theo quy định hiện hành thì doanh
nghiệp Nhà nước được cấp không VCĐ. VCĐ có vòng luân chuyển chậm (đối với máy
móc thiết bị trung bình từ 15 đến 20 năm) do đó làm cho doanh nghiệp không thấy căng
thẳng về tài chính dẫn đến tình trạng ít quan tâm đến việc tính toán hiệu quả đầu tư VCĐ
đưa đến tình trạng TSCĐ được trang bị một cách chắp vá, không đồng bộ theo một cơ
cấu bất hợp lý. Việc lắp đặt, sử dụng, bảo dưỡng và sửa chữa kém nên TSCĐ không phát
huy hết năng lực nên hiệu quả sử dụng TSCĐ thấp, làm thất thoát VCĐ.
1.2. Phân tích tình hình sử dụng vốn cố định trong doanh nghiệp.
10
1.2.1. Phương pháp phân tích.
- Phương pháp thu thập số liệu:
Bao gồm 2 dạng số liệu, thứ cấp và sơ cấp trong đề tài này.
+ Số liệu thứ cấp được thu thập từ các phòng ban để có được các báo cáo tài
chính của công ty, và tìm thêm thông tin trên Internet, báo chí…
+Số liệu sơ cấp: thu th ập được thông qua trao đổi trực tiếp với và quan
sát cách làm việc các nhân viên trong công ty.
- Phương pháp phân tích: dùng phương pháp so sánh liên hoàn, so sánh tương đối, so
Bảng 1.2 : Phân tích kết cấu vốn cố định
Chỉ tiêu
Kỳ gốc Kỳ phân tích Chênh lệch
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng ± Tỷ lệ Tỷ trọng
Vốn đầu tư
MMTB
Vốn đầu tư
PTVT
Vốn đầu tư nhà
cửa, VKT
Vốn đầu tư
thiết bị quản lý
Vốn đầu tư
12
TSCĐ khác
Vốn đầu tư
TCDN
Tổng vốn cố
định
Phân tích cơ cấu vốn cố định cho ta thấy được số tiền Vốn đầu tư MMTB, Vốn đầu tư
PTVT, Vốn đầu tư nhà cửa, VKT , Vốn đầu tư thiết bị quản lý , Vốn đầu tư TSCĐ khác ,
Vốn đầu tư TCDN, tổng vốn cố định giữa các kỳ và tỷ trọng của chúng trong tổng vốn cố
định. Ngoài ra còn cho ta biết chênh lệch tuyệt đối, tỷ lệ, tỷ trọng của các chỉ tiêu giữa kỳ
phân tích và kỳ gốc.
1.2.2.3. Tình hình sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp.
Tài sản cố định hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu có tính chất vật chất
(từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận từng tài
sản liên kết với nhau để thể hiện một hay một số chức năng nhất định), có giá trị lớn và
thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kì kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên
hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị …
của vốn sản xuất nói chung. Quy mô của VCĐ và trình độ quản lý, sử dụng nó là nhân tố
ảnh hưởng quyết định đến tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Do
ở một vị trí then chốt và đặc điểm vận động của nó lại tuân theo tính quy luật riêng nên
việc quản lý VCĐ được coi là một trọng điểm của công tác tài chính doanh nghiệp.
Như đã trình bày ở trên, phải trải qua một thời gian dài VCĐ mới hoàn thành được
một vòng luân chuyển. Vấn đề đặt ra thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý doanh
nghiệp ở đây là làm thế nào để VCĐ trong suốt thời gian dài tham gia vào quá trình sản
xuất tạo ra được nhiều sản phẩm mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hay nói
cách khác là làm thế nào để sử dụng VCĐ một cách có hiệu quả nhằm thực hiện được
14
mục đích kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy hiệu quả sử dụng VCĐ là gì ? Trong các
doanh nghiệp nó được đánh giá thông qua các chỉ tiêu nào ?
Trước hết nói về hiệu quả sử dụng VCĐ trong doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế của sản
xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng VCĐ nói riêng được biểu thị qua mối
quan hệ giữa kết quả đạt được trong quá trình sản xuất với chi phí về lao động sống và lao
động vật hoá bỏ ra để đạt được kết quả trên.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh phải bao gồm cả hai mặt: Hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội. Hai mặt này liên quan chặt chẽ với nhau và thể hiện nội dung cơ bản của hiệu quả
sản xuất. Trong đó hiệu quả kinh tế là cơ sở vật chất của hiệu quả xã hội, hiệu quả xã hội
tạo điều kiện tốt hơn để thu được hiệu quả kinh tế cao hơn.
Như vậy, ta có thể thấy rằng: Hiệu quả sử dụng VCĐ là mối quan hệ giữa kết quả đạt
được trong quá trình khai thác sử dụng VCĐ vào sản xuất với số VCĐ đã sử dụng để đạt
được kết quả đó.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp nào khi sử dụng vốn
vào sản xuất nói chung và VCĐ nói riêng đều phải quan tâm đến hiệu quả nó mang lại.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ trong các doanh nghiệp, người ta thường dùng một hệ
thống các chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu phân tích.
Các chỉ tiêu tổng hợp nhằm phản ánh về mặt chất của việc sử dụng VCĐ doanh
nghiệp. Thông qua các chỉ tiêu này, người quản lý có thể so sánh kết quả quản lý giữa kỳ
này với kỳ trước, giữa doanh nghiệp mình với các doanh nghiệp khác có quy mô tương tự
Htscd = Doanh thu sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ trong kì / NG bình quân TSCĐ trong
kì
NG bq TSCĐ trong kì = (Ng bq đầu kì + NG bq cuối kì) / 2
1.3.2.2. Kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp
16
Chỉ tiêu này phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa giá trị từng nhóm, loại TSCĐ trong tổng số
giá trị TSCĐ của doanh nghiệp ở thời điểm đánh giá. Chỉ tiêu này giúp cho doanh nghiệp
đánh giá mức độ hợp lý trong cơ cấu TSCĐ được trang bị ở doanh nghiệp, từ đó có biện
pháp đầu tư, điều chỉnh lại cơ cấu TSCĐ nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng vốn của doanh
nghiệp.
1.3.2.2. Hệ số hao mòn TSCĐ
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong doanh nghiệp so với thời
điểm đầu tư ban đầu.
Hệ số hao mòn TSCĐ = Số tiền khấu hao kuỹ kế / Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm
đánh giá
Trên đây là những chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu phân tích chủ yếu nhằm phục vụ cho
việc kiểm tra tài chính đối voíư việc sử dụng VCĐ của mỗi doanh nghiệp. Khi đánh giá
hiệu quả sử dụng VCĐ cần phải kết hợp các hai loại chỉ tiêu trên để rút ra được những kết
luận đúng đắn. Ngoài ra, vì TSCĐ gồm nhiều loại nên phải kết hợp xem xét các chỉ tiêu
kinh tế kỹ thuật của từng loại cụ thể về mặt hiện vật để đánh giá được toàn diện và chính
xác hiệu quả sử dụng VCĐ.
Qua phương pháp xác định hiệu quả sử dụng VCĐ trên đây chúng ta thấy rằng: Nâng
cao hiệu quả sử dụng VCĐ có nghĩa là khai thác một cách triệt để khả năng hiện có của
doanh nghiệp, phát huy hết công suất thiết kế của máy móc, thiết bị, tận dụng một cách
tối đa giờ máy để từ đó tạo ra nhiều sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp làm cho
kết quả thu được trên một đồng chi phí về TSCĐ (VCĐ) ngày một tăng. Điều đó có nghĩa
là khi hiệu quả sử dụng VCĐ được nâng lên thì với một đồng vốn bỏ ra sẽ cho kết quả
nhiều hơn, tốt hơn cho doanh nghiệp.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn cố định
1.4.1. Nhân tố chủ quan
+ Đối với công nhân trực tiếp sản xuất phải có tay nghề cao, có khả năng tiếp thu
công nghệ mới, tự chủ công việc, phát huy về tính sáng tạo, có ý thức giữ gìn và bảo quản
TSCĐ trong quá trình vận hành.
+ Đối với cán bộ quản lý có thể xem xét trên các góc độ sau:
Quản lý về nhân sự: Quá trình tuyển chọn công nhân ra sao, đã hợp lý chưa, sự sắp
xếp phân công lao động đã đúng người đúng việc hay chưa, có bị lãng phí lao động hay
không và qua đó năng suất lao động được nâng lên như thế nào?
Quản lý về tài chính: Quy trình hạch toán của doanh nghiệp có đúng theo quy định
hay không? Các số liệu kế toán có chính xác đảm bảo, đủ độ tin cậy để ra quyết định hay
không? Trong quá trình hoạt động việc thu chi phải rõ ràng, đúng việc, đúng thời điểm thì
mới có thể nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Quản lý các dự án: Là công việ rất quan trọng đối với doanh nghiệp xây dựng, vì nó
ảnh hưởng rất lớn tới các dòng thu nhập nà doanh nghiệp nhận được sau này. Công tác
quản lý dự án bao gồm cả việc khảo sát lập dự án và thẩm định dự án, đặc biệt là việc
thẩm định dự án. Đó là việc phân tích, đánh giá và xác định mức độ khả thi của dự án.
Khi thẩm định dự án phải xem xét trên cả ba mặt là kỹ thuật và công nghệ, xây dựng và
môi trường, kinh tế tài chính. Việc thẩm định dự án có ý nghĩa quan trọng vì nó cho phép
xác định tính hiệu quả, sự tồn tại, khả năng sinh lời, khả năng hoàn vốn và nguồn huy
động để xây dựng dự án.
- Công tác đầu tư, mua sắm máy móc thiết bị của doanh nghiệp. Nếu việc đầu tư
mua sắm máy móc thiết bị được tổ chức tốt trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng nhu cầu của
thị trường về khả năng tiêu thụ sản phẩm, khả năng tận dụng thời gian làm việc và công
suất của TSCĐ từ đó lựa chọn, mua sắm những máy móc thiết bị phù hợp với yêu cầu về
quy mô và chất lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp. Sản phẩm có chất lượng cao
với số lượng hợp lý để đáp ứng nhu cầu thị trường sẽ làm tăng doanh thu tiêu thụ sản
phẩm. Đồng thời doanh nghiệp có khả năng để tận dụng thời gian và công suất máy móc
thiết bị. Như vậy hiệu quả sử dụng VCĐ sẽ được nâng cao.
19
Công tác đầu tư, mua sắm TSCĐ được tổ chức tốt, còn được thể hiện ở việc nghiên
cứu, lựa chọn người bán, phương thức thanh toán và nguồn vốn đầu tư phù hợp để mua
mình, chú ý bảo quản TSCĐ sẽ hạn chế được hư hỏng, mất mát TSCĐ, nâng cao hiệu quả
sử dụng TSCĐ.
- Việc trích khấu hao và sử dụng quỹ khấu hao có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả
sử dụng VCĐ. Nếu trích khấu hao và sử dụng quỹ khấu hao hợp lý, theo đúng chế độ và
phù hợp với đặc điểm riêng của từng TSCĐ hoặc từng nhóm TSCĐ sẽ đảm bảo thu hồi đủ
vốn để tái sản xuất giản đơn TSCĐ. Bên cạnh đó, nếu quỹ khấu hao được sử dụng linh
hoạt sẽ có khả năng tái sản xuất mở rộng TSCĐ. Doanh nghiệp có thể dùng quỹ khấu hao
để đầu tư vào các hoạt động kinh doanh khác mà được xác định là có hiệu quả sẽ làm tăng
thêm thu nhập cho doanh nghiệp. Tất nhiên là việc sử dụng quỹ khấu hao đó phải hợp lý
và phải đảm bảo hoàn nhập quỹ để tái sản xuất TSCĐ khi đến thời hạn sử dụng quỹ khấu
hao.
1.4.2. Nhân tố khách quan
Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước: Trên cơ sở pháp luật kinh tế và các biện
pháp kinh tế, Nhà nước tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch kinh tế vĩ mô. Với bất cứ một sự thay đổi
nhỏ nào trong chế độ chính sách hiện hành đều cho phối đến các hoạt động của doanh
nghiệp. Đối với hiệu quả sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp thì các văn bản pháp luật về tài
chính, kế toán thống kê, về quy chế đầu tư Đều gây ảnh hưởng lớn trong suốt quá trình
kinh doanh của doanh nghiệp nhất là các quy định về trích khấu hao, tỷ lệ trích lập các
quỹ, các văn bản thuế
21
Thị trường và cạnh tranh: Vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp là phải có kế hoạch cải
tạo, đầu tư mới TSCĐ trước mắt cũng như lâu dài. Nhờ đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến
quy trình công nghệ thì những sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra mới có năng suất
cao, chất lượng đảm bảo, giá thành hạ và do đó mới có đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Ngoài ra việc đổi mới máy móc thiết bị đảm bảo an toàn cho người lao động, nhất là
ngành xây dựng phải chịu không nhỏ của thiên nhiên.
Bên cạnh đó lãi suất tiền vay cũng là một nhân tố ảnh hưởng quan trọng. Lãi suất
tiền vay ảnh hưởng tới chi phi đầu tư của doanh nghiệp. Sự thay đổi của lãi suất sẽ kéo
theo những biến động cơ bản của dự án đầu tư, đặc biệt là hiệu quả về mặt tài chính.
nhiều khó khăn, việc hoạt động của các doanh nghiệp theo hình thức kết hợp giữa nhiệm
vụ quản lý với kinh doanh đem lại hiệu quả kinh tế không cao nên Đảng và Nhà nước đã
có chỉ đạo yêu cầu tách công tác quản lý Nhà nước trong các doanh nghiệp ra khỏi hoạt
23
động sản xuất kinh doanh và cho phép thành lập các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế
thị trường có sự điều hành định hướng của Nhà nước.Vì vậy, ngày 21/12/1991 Bộ trưởng
Bộ Giao thông vận tải đã ký quyết định số 2726/QĐ-TCCB-LĐ về việc thành lập “Tổng
Công ty Xây dựng đường thủy”. Tổng Công ty là doanh nghiệp Nhà nước, là tổ chức kinh
doanh hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ. Chức năng và nhiệm vụ
kinh doanh chính là xây dựng công trình giao thông đường thủy trong phạm vi cả nước.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ về việc chuyển đổi công ty Nhà
nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu,
ngày 30/6/2011 Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải đã ký quyết định số 1845/QĐ-BGTVT
thành lập Công ty Mẹ - Tổng Công ty Xây dựng đường thủy. Công ty Mẹ - Tổng Công ty
Xây dựng đường thủy là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu
100% vốn điều lệ, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, con dấu,
biểu tượng.
Thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động liên danh, liên kết với
các nhà thầu trong và ngoài nước, trong thời gian qua, Tổng Công ty Xây dựng đường
thuỷ đã đạt được những thành tích đáng kể. Từ một đơn vị chuyên ngành nạo vét sông,
biển, đến nay Tổng Công ty Xây dựng đường thủy đã có các đơn vị xây lắp đủ các loại
hình công trình: Công trình thủy công, giao thông đường bộ, công trình dân dụng, công
nghiệp, công trình thủy lợi Năng lực thi công của Tổng Công ty cũng ngày được nâng
cao, đủ mạnh để thực hiện ở việc thi công các dự án có qui mô lớn, kỹ thuật phức tạp như
Cảng Hòn Chông (Kiên Giang), cảng Cát Lái, cảng Container Tân Thuận (TP. Hồ Chí
Minh), dự án Nâng cấp Cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), dự án Nâng cấp Cảng Hải Phòng, dự án
Mở rộng cảng Cái Lân (Quảng Ninh), dự án xây dựng Đường cao tốc Láng - Hoà Lạc (Hà
nội), dự án Đường Hồ Chí Minh, dự án đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Trung Lương,
dự án Nạo vét luồng ngoài cảng Cái Lân (Quảng Ninh) - đoạn từ Cửa Lục đến Hòn Một,
dự án Xây dựng luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu (Trà Vinh), dự án Xây
thợ máy, thuyền trưởng, máy trưởng, thuỷ thủ các tầu công trình.
Các kỹ sư, đốc công và công nhân đa số được đào tạo chính qui tại các trường Đại
học, trung học, trường đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề, hơn nữa lại được trưởng
25