PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Ngày 3/2/1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời – chính đảng duy nhất của
giai cấp công nhân Việt Nam đã chấm dứt sự khủng hoảng kéo dài về đường lối
cách mạng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đảng ra đời là kết quả tất yếu cuả
cuộc đấu tránh dân tộc và đẫu tranh giai cấp ở Việt Nam thời đại mới. Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã từng nói : Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp
Chủ nghiac Mác- L êNin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt
Nam.
Đảng ra đời được vũ trang bởi hệ thống học thuyết chính trị tiến bộ nhất
của nhân loại là Chủ nghĩa Mác- LêNin . Nhờ đó mà Đảng đã lôi kéo , kêu gọi
được đông đảo quần chúng nhân dân lao khổ tập trung dưới ngọn cờ “ Độc lập
dân tộc và Chủ nghĩa xã hội”.
Đánh giá về vai trò của lý luận, sinh thời LêNin đã từng nói:
“Không có lý luận cách mệnh thì không có lý luận vận động....Chỉ có theo
lý luận cách mệnh tiên phong , Đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách
mệnh tiên phong”.
Có thể nói quá trình chuẩn bị về tư tưởng lý luận tiến tới thành lập
Đảng cộng sản gắn liền với những hoạt động yêu nước của Nguyễn ái Quốc,
đó là quá trình tìm đường cứu nước, tìm đến với chủ nghĩa Mác, là quá
trình học tập, nghiên cứu không mệt mỏi và truyền bá Chủ nghĩa Mác vào
Việt Nam.
Không có tham vọng lớn muốn trình bày toàn bộ quá trình chuẩn bị về tư
tưởng lý luận của Nguyễn ái quốc tiến tới thành lập Đảng cộng sản Việt Nam,
do sự hạn hẹp về hiểu biết và tài liệu tham khảo, tôi chỉ xin phép trình bày
những hiểu biết giới hạn của mình về quá trình chuẩn bị vế lý luận trên phương
diện sách báo, chủ yếu ở ba tác phẩm:
1. Bản án chế độ Thực dân Pháp
2. Tuần báo Thanh Niên
1
3. Đương kách mệnh
I.III “ Bản án chế độ Thực dân Pháp” xác định nhiệm vụ cách mạng,lực
lượng cách mạng , chỉ ra mối quân hệ , sự gắn bó giữa sự nghiệp giảI phóng
dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc với phong trào vô sản ở chính quốc
và trên toàn thế giới .
I.IV “ Bản án chế độ Thực dân Pháp” đã mở ra một tương lai tươI sáng
trogn đêm tối của cuộc đời lầm than đau khổ.
II. Ý nghĩa
B. Những đóng góp của hai tác phẩm:
1. Tuần báo Thanh Niên
2. Đương kách mệnh
I - Đặt vấn đề
“Sự vĩ đại của tác phẩm nảy sinh ngay trong thời đại sản sinh ra nó”.
II – Giá trị của hai tác phẩm:
II.I Quan niệm về cách mạng
II.II Quan niệm về Đảng cách mạng, về Đảng cộng sản
III. ý nghĩa
ChươngIII
Kết luận
Phần nội dung
3
CHƯƠNG I
Lịch sử tạo ra những yêu cầu thì chính lịch sử tạo ra những điều kiện vật
chất để giải quyết nó
Sáng 1/9/1858 Thực dân Pháp nổ súng chính thức xâm lược nước ta ở Đà
Nẵng . Đến năm 1896 về cơ bản chúng đã bình định và đặt xong bộ máy cai trị ở
Đông Dương trong đó có Việt Nam rồi từng bước tiến hành khai thác thuộc địa
với quy mô lớn. Sự bóc lột hết sức tàn ác, dã man của bọn tư bản độc quyền
Pháp cộng với sự bóc lột của lực lượng mà chúng dung dưỡng đó là bọn địa chủ
phong kiến làm cho đời sống của nhân dân ta vô cùng điêu đứng và cực khổ.
Nước mất, nhà tan, đời sống bần cùng, không có con đường nào khác
cờ “ Độc lập dân tộc” và “ Ruộng đất dân cày”; họ càng không thấy được lực
lượng cách mạng chủ yếu là Công- Nông trong đó giai cấp công nhân là lực
lượng lãnh đạo. Đồng thời những thất bại đó đã thể hiện sự bất lực của hệ tư
tưởng phong kiến cũng như hệ tư tưởng dân chủ tư sản đã lỗi thời không còn đủ
sức mạnh để phá vỡ thế lực kìm kẹp nó, đòi hỏi phong trào cách mạng càn được
trang bị bởi một hệ tư tưởng khác, tiến bộ hơn, đáp ứng nhu cầu của thời đại.
Do những hạn chế đó , lại bị những đòn roi tấn công rất ác liệt , man rợ
của kẻ thù nên các phong trào dần bị thất bại. ách áp bức của kẻ thù càng thêm
nặng nề, nỗi thống khổ của quần chúng càng thêmchồng chất, tiền đồ của dân
tộc ngày càng mù mịt.
Nhưng tất yếu là, càng bị đàn áp , càng thất bại , càng thống khổ thì quần
chúng càng thêm nung nấu lòng căm thù và ý chí chiến đấu, càng khát khao tìm
cách thoát khỏi kiếp sống trâu ngựa.Trong hoàn cảnh đó, yêu cầu mà lịch sử đặt
ra là phải có những con người ưu tú nhất , tiến bộ nhất trong đội ngũ những
người Việt nam yêu nước có khả năng vượt lên trên những hạn chế của lịch sử
để tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Rõ ràng, đúng như Lê-Nin lúc sinh thời đã từng nói:
“ Nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có
thể giải quyết được, vì khi xét kĩ hơn, bao giờ người ta cũng thấy rằng bản thân
nhiệm vụ ấychỉ nảy sinh khi những điều kiện để giải quyết nhiệm vụ đó đã có
rồi hay ít ra cũng đang ở quá trình hình thành.”
2
5
Giữa tình thế nóng bỏng đó, Nguyễn Tất Thành xuất hiện như một vị cứu
tinh của dân tộc. Vượt lên trên hạn chế của thời đại, người con trai thứ của cụ
Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - người thanh niên giàu lòng yêu nước đã nhận lấy
trách nhiệm nặng nề và vô cùng gian khổ trước lịch sử, Nguời quyết tâm ra đi
tìm đường cứu nước vào ngày 5/6/1911.
Xuất thân trong một gia đình trí thức yêu nước, lớn lên giữa quê hương
giàu tình thương và tinh thần quật khởi, từ thuở thiếu thời, Nguyễn Tất Thành
5
.
Như vậy hơn hẳn những bậc tiền bối đi trước, Nguyễn Tất Thành đã xác
định được một cách rõ ràng:
“Cái mà dân tộc cần trước tiên chưa phải là súng đạn, của cải, mà là cách
đuổi giặc cứu nước, là làm cách mạng hay nói cách khác là lý luận cách mạng và
phương pháp cách mạng”
6
.
Và Người đã tìm được hướng đi cho riêng mình , đó là đi về phương
Tây.Về phương Tây không phải vì Người bị thu hút và khuất phục bởi nước sơn
hào nhoáng cảu nền văn minh Tư bản chủ nghĩa. Nền văn minh đó đã tấn công ,
làm rung chuyển và buộc phải nhuợng bộ cho nó cái vương quốc phongkiến lâu
đời và hùng mạnh nhất châu á- Trung Quốc. Sự kiện này đã tác động và làm
lung lạc đến tư tưởng, ý thức của những nhân vật tiêu biểu cho giới thượng lưu
trí thức Trung Quốc dưới triều Mãn Thanh như Khang Hữu Vi, Lương Khải
Siêu… Chính nước sơn hào nhoáng của nền văn minh ấy cũng đã làm cho nhiều
sĩ phu yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỉ XX đã đi chệch đường trong việc tìm
kiếm bạn đồng minh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhưng lí do mà Nguyễn
Tất Thành đã chọn con đường đi cho riêng mình mà sau này Người đã tâm sự :
“ Vào trạc tuổi 13 lần đầu tiên tôi được nghe những tiếng Pháp : Tự do ,
bình đẳng, bác ái - đối với chúng tôi lúc ấy, mọi người da trắng được coi là
người Pháp – thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì
ẩn giấu đằng sau những từ ấy”
7
.
Nguyễn Tất Thành quyết định đi về phương tây vì mục đích cách mạng và
do sự nhạy cảm cách mạng khiến Người thấy chỉ có ở đó mới có thể phát hiện
ra cái nguồn gốc của mọi thảm hoạ đã trút lên đầu lên cổ dân tộc mình và tìm
ra cái đầu mối cho sự nghiệp giải phóng đồng bào mình.
Chính sự kiện đó đã tác động sâu sắc và làm bừng sáng lên trong nhận
thức của người thanh niên yêu nước rằng : Chủ nghĩa đế quốc, Chủ nghĩa thực
dân là cội nguồn của mọi sự khổ đau của quần chúng và ở đâu quần chúng lao
khổ cũng là người chung số phận, chung chiến tuyến với dân mình. Những nhận
biết căn bản , đúng đắn đó càng giục giã Người quyết tâm tìm con đường giải
phóng mà Người đã từng nung nấu, ấp ủ từ ngày rời Tổ Quốc.
8
Chính trong quá trình đó, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công
năm1917 – một nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới mà ở đó nhân dân lao
động được làm chủ đất nước, mọi gia cấp xã hội được giải phóng. Sự ra đời của
nhà nước Xô viết đầu tiên đitheo Chủ nghĩa xã hội giữa vòng vây của bọn đế
quốc chủ nghĩa đã ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến nhận thức của
Người về lựa chọn con đường cách mạng.
Tháng 7/1920, báo L
/
Humahité số ra hai ngày 16 và 17 tháng 7 năm 1920
đã đăng toàn bộ văn bản “ Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và
vấn đề thuộc địa” cảu V.I.LêNin. Luận cương ngay lập tức đã thu hút được sự
chú ý của Người :
“ Trong luận cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu. Nhưng cứ đọc đ
i đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của
LêNin làm cho tôI rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui
mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như
đang nói trước quần chúng đông đảo. Hỡi đồng bào bị đoạ đày gian khổ ! Đây là
cái cần thiết cho chúng ta , đây là con đường giải phóng chúng ta”
10
.
Như vậy từ chủ nghĩa yêu nước chân chính Nguyễn ái Quốc đã tìm
thấy con đường đúng đắn để giảiphóng dân tộc , đó là đi theo Chủ nghĩa
Mác- LêNin, theo Quốc tế vô sản, theo con đường Cách mạng vô sản.
mạng...trong các tác phẩm. Sự ra đời của các tác phẩm có ý nghĩa vô cùng lớn
lao, nhờ đó mà cách mạng Việt Nam đã tìm được con đường cách mạng đúng
đắn để giảiphóng dân tộc, cách mạng Việt Nam lúc này đã thoát ra khỏi cuộc
khủng hoảng về đường lối cũng như về tổ chức và từng bứơc có những đóng
góp lớn lao cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cho sự nghiệp đấu tranh chung
của loài người tiến bộ trên thế giới.
10
CHƯƠNG II
Sức sống mãnh liệt của các tác phẩm
1. Bản án chế độ Thực dân Pháp
2. Tuần báo Thanh Niên
3. Đương Kách Mệnh
A. Những đóng góp của tác phẩm “Bản án chế độ Thực dân Pháp”
Thời kì Nguyễn ái Quốc hoạt động ở PaRi (Pháp), Người hoạt động ở
Đảng Cộng Sản Pháp, ở các tổ chức cách mạng và trong “Hội liên hiệp thuộc
địa” do Người sáng lập cùng những người bị áp bức dưới chế độ thực dân Pháp
và đang hoạt động cách mạng ở Pháp. Thời kì này Người đã viết nhiều sách báo
tấn công vào Chủ nghĩa đế quốc, kêu gọi , thức tỉnh quần chúng lao khổ đấu
tranh, vạch phương hướng cho quần chúng ở các nước thuôc đia và phụ thuộc
đấu tranh.
Đây cũng là thời kì mà Người đã viết cuốn sách nổi tiếng “ Bản án chế
độ Thực dân Pháp”.
I. Giá trị của tác phẩm
Bản án chế độ Thực dân Pháp được coi là sản phẩm tổng hoà của tất cả
các tri thức : chính trị, triết học, xã hội , lịch sử...cùng với những kinh nghiệm
thực tiễn được tiếp thu và bồi bổ , phát triển trong quá trình đấu tranh đầy sóng
gió của Người.
Tác phẩm được viết bằng tiếng Pháp và những năm 1921- 1925 và được
xuất bản lần đầu tại Pari năm 1925. Ngay từ khi mới ra đời, tác phẩm đã được
lan truyền đi rất nhanh và đay là lần đầu tiên một cuốn sách chính trị viết bằng
nhục của mình, học thuyết ấy tất nhiên đã nhen nhói lên một niềm hi vọng.Song
vì một phần do chế độ kiểm duyệt ngặt nghèo, một phần vì báo chí phản động
tuyên truyền chống cộng ráo riết, phần nữa vì trong đầu óc của nhiều người xuất
thân từ tầng lớp Tiểu tư sản còn nhiều tàn dư của hệ ý thức cũ nên trong quan
niệm về Chủ nghĩa cộng sản còn nhiêù điểm mơ hồ, lộn xộn.
Chính vì vậy mà Bản án chế độ Thực dân Pháp có vai trò rất lớn
trong quá trình giác ngộ, chuẩn bị về tư tưởng, lý luận cho những người
12
cách mạng và cho quần chúng nhân dân lao động đặc biệt là tầng lớp thanh
niên ở nước ta.
Đánh giá vai trò của tác phẩm đối với nhân dân Việt Nam nói chung và
đối với thanh niên Việt Nam nói riêng, đồng chí Phạm Hùng kể lại rằng:
“Hồi ấy quyển “Bản án chế độ Thực dân Pháp” có một tác dụng rất lớn
đối với thanh niên, học sinh.
Hầu hết các trường trung học đều có tủ sách riêng cho học sinh tự tổ chức
hàng nghìn cuốn sách và tủ sách nào cũng có quyển “Bản án chế độ thực dân
Pháp”. Phong trào thanh niên, học sinh lúc bấy giờ lan rộng và khá mạnh mẽ.
Lập trường giai cấp tuy chưa rõ rệt lắm nhưng ý thức chống đế quốc rất cao, rất
sôi nổi nên tập Bản án chế độ Thực dân Pháp đã trả lời đúng vào ý nghĩ, nguyện
vọng và tâm tính thế hệ thánh niên úuc bấy giờ”.
12
Tác động to lớn của tác phẩm đã làm cho bọn Thực dân Pháp phải lo ngại:
“ Bằng chứng rõ ràng nhất về tuyên truyền cộng sản ở thuộc địa đang lan
rộng và nếu chúng ta không phản ứng thì có thể rồi đây noa sẽ lan rộng trên
khắp lãnh thổ hải ngoại rộng lớn của chúng ta...Chúng ta không thể và không
được để như vậy. Phải thực sự lo lắng trước khi đám cháy xảy ra”
13
.
I.I “ Bản án chế độ Thực dân Pháp “ là một bản cáo trạng đanh thép.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất , tuy Pháp là một nước thắng trận nhưng
bảo hộ của nước Pháp. Để che đậy cho bản chất xấu xa của bọn bóc lột “ Chủ
nghĩa tư bản luôn luôn trang điểm cho cái huy chương mục nát của nó bằng
những châm ngôn lý tưởng : Bác ái, bình đẳng....”
15
.
Và cái công lý , bình đẳng mà bọn Thực dân Pháp nghêu ngao đã bị
Nguyễn ái Quốc vạch trần bằng giọng điệu châm biếm:
“Công lý được tượng trưng bằng một bà đầm, một tay cầm cân , một tay
cầm kiếm. Vì đường từ Pháp đến Đông Dương xa quá, xa đến nỗi sang được tới
đó, đĩa cân đã chảy lỏng ra và biến thành những tẩu thuốc phiện hoặc những
chai rượu ty, nên bà đầm công lý tội nghiệp chỉ còn lại độc cái kiếm để chém
giết. Bà chém giết cả người vô tội và nhất là người vô tội”
16
.
Sức tố cáo của tác phẩm càng thêm mạnh mẽ khi mô tả nỗi thống khổ của
những người phụ nữ bản xứ....
Tóm lại dưới nanh vuốt của bọn thực dân , mọi tầng lớp người bản
xứ đều bị coi là đám người nô lệ. Từ những nỗi thống khổ mà người bản xứ
14
phải gánh chịu, tác phẩm là bản cáo trạng đanh thép đồng thời thức tỉnh
những người bản xứ do không nhận thức rõ bản chất của kẻ thù đã đi làm
tay sai cho chúng và đi chém giết chính đòng bào ta. Đứng trên lập trường
của những người vô sản và các dân tộc bị áp bức, tác phẩm một mặt bênh
vực quàn chúng lao khổ, mặt khác còn giáng đòn tấn công ác liệt vào bọn
Thực dân Pháp cùng bè lũ cơ hội mà đại diện của nó là Quốc tế II đang ra
sức tuyên truyền những luận điệu thực dân phản động, bênh vực Chủ
nghĩa đế quốc.
I.II “ Bản án chế độ Thực dân Pháp” đã vạch rõ kẻ thù của quần
chúng lao động và các dân tộc bị áp bức.
Chỉ rõ tội ác và những luận điệu lừa bịp của bọn Đế quốc thực dân mà đại