Phân tích môi trường kinh doanh ngành cà phê ở Việt Nam - Pdf 13

Bùi Văn Doành
- 1 -
ĐẠI HỌC SHU TE – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LỚP SD-MBA1
  
MÔN QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
BÀI TẬP CÁ NHÂN
Phân tích môi trường kinh doanh
ngành cà phê ở Việt Nam
Giảng viên: TS. Nguyễn Thanh Liêm
Sinh viên: Bùi Văn Doành
ID: 11752326, Email:
Bùi Văn Doành
- 2 -
MỤC LỤC
I. NGÀNH CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM
3
1. Lịch sử ngành cà phê Việt Nam
3
2. Một số đặc điểm ngành cà phê Việt Nam
4
II. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
5
1. Môi trường vĩ mô
5
1.1. Các nhân tố kinh tế
5
1.2. Các nhân tố về chính trị, pháp luật
6
1.3. Nhân tố về văn hoá xã hội và dân cư
7

1. Nâng cao tính cạnh tranh của mặt hàng cà phê
18
1.1. Hạ thấp giá thành sản xuất cà phê
18
1.2. Nâng cao chất lượng chế biến cà phê
19
1.3. Đa dạng hoá cải tiến mẫu mã, bao bì cà phê xuất khẩu, tăng cường
công tác quảng cáo, chào bán hàng
19
1.4. Đa dạng hoá cơ cấu và sản phẩm cà phê
20
2. Phát triển thị trường xuất khẩu cà phê
20
2.1. Tăng cường về vốn
20
2.2. Tăng cường sức mạnh cạnh tranh của mặt hàng cà phê trên thị
trường thế giới
21
2.3. Đa dạng hoá và mở rộng thị trường tiêu thụ cà phê
21
2.4. Củng cố và hoàn thiện các đầu mối xuất khẩu cà phê
21
2.5. Chính sách tín dụng và trợ cấp xuất khẩu
21
2.6. Hoàn thiện cơ chế quản lý xuất nhập khẩu
22
Bùi Văn Doành
- 3 -
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, nông nghiệp là ngành chiếm tỷ

)
Ngành cà phê nước ta có những bước phát triển vượt bậc, chỉ trong
vòng 15 – 20 năm chúng ta đã đưa sản lượng cà phê cả nước tăng lên hàng
trăm lần, thành tựu đó được ngành cà phê thế giới ca ngợi. Tuy nhiên, trong
vài năm trở lại đây do sự lên xuống t thường của thị trường giá cả, ngành cà
phêtừ chỗđã từng mang lại cho các nhà sản xuất lợi nhuận siêu ngạchthì nay
tình hình phát triển cà phê đã ra khỏi tầm kiểm soát của ngành cũng như của
(
1
) />2011013103066919ca39.chn
Bùi Văn Doành
- 4 -
nhà nước. Những năm được giá thì diện tích cà phê tăng lên đột biến nhưng
sau đó một thời gian, khi mà giá cà phê sụt giảm thì người dân lại sẵn sàng loại
bỏ cây cà phê để trồng các loại cây công nghiệp khác. Chính điều đó làm cho sự
phát triển ngành cà phê ở Việt Nam thiếu ổn định và khó kiểm soát.
2. Một số đặc điểm ngành cà phê Việt Nam
Việt Nam trồng hai loại cà phê chính: cà phê vối (Robusta) và cà phê chè
(Arabica), trong đó diện tích cà phê vối chiếm tới hơn 95% tổng diện tích gieo
trồng. Cà phê chủ yếu được trồng ở các vùng đồi núi phía Bắc và Tây Nguyên,
Nam Trung Bộ. Diện tích cà phê
tập trung nhiều nhất ở vùng Tây
Nguyên. Diện tích cà phê của khu
vực này chiếm tới 90% tổng diện
tích cả nước và sản lượng cũng
chiếm khoảng 80% tổng sản
lượng cả nước. Cà phê chè trồng
chủ yếu ở vùng Nam Trung Bộ,
vùng núi phía Bắc tập trung nhiều
ở các tỉnh Quảng Trị, Sơn La và

hưởng tốt đến hoạt động kinh doanh của ngành. Các nhân tố tác động tiêu cực
ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành. Để hoạch định
chiến lược (kế hoạch) hoặc đưa ra các quyết định kinh doanh, các nhà quản trị
doanh nghiệp không thể không chú ý đến việc nghiên cứu và dự báo môi
trường kinh doanh.
1. Môi trường vĩ mô
1.1. Các nhân tố kinh tế
Các nhân tố kinh tế có vai trò quan trọng hàng đầu và có tính quyết định
đến hoạt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành cà phê Việt Nam. Các
nhân tố kinh tế ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
ngành thường là trạng thái phát triển của nền kinh tế: tăng trưởng ổn định hay
suy thoái.
Nếu tính bằng đô la Mỹ theo tỷ giá hối đoái thực tế bình quân hàng năm
thì tổng sản phẩm trong nước (GDP) đã tăng từ gần 31,2 tỷ USD năm 2000 lên
trên 100,8 tỷ USD năm 2010, tức là gấp 3,23 lần. Tổng thu nhập quốc gia (GNI)
của nước ta năm 2000 mới đạt 30,8 tỷ USD với mức bình quânđầu người 396
USD; năm2007 đạt 68,8 tỷ USD với 817 USD/người, nhưng đến năm 2008 đã
tăng lên, đạt 86,7 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 1.018 USD; năm 2009 đạt
88,3 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 1.026,8 USD và năm 2010 đạt 96,8 tỷ
USD, bình quân đầu người đạt 1.113,6 USD
(2)
.
Giai đoạn 2000-2007, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên
tục, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,2%/năm, thu nhập bình quân đầu
người/năm đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640 USD.
Giai đoạn 2007-2009, tốc độ tăng trưởng kinh tế có chiều hướng đi
xuống do khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng Việt Nam
vẫn thu hút vốn đầu tư nước ngoài cao, GDP bình quân đầu người năm 2010
đạt 1.168 USD.
(

(
3
) Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ( />Bùi Văn Doành
- 7 -
Việc tạo môi trường kinh doanh lành mạnh hay không lành mạnh hoàn
toàn phụ thuộc vào yếu tố luật pháp và sự quản lý nhà nước về kinh tế, việc
ban hành hệ thống luật pháp có chất lượng và đưa vào đời sống là điều kiện
đầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng, thúc đẩy các doanh
nghiệp trong ngành cạnh tranh lành mạnh.
Nước ta hệ thống chính trị pháp luật ổn định, bên cạnh đó thì Việt Nam
có nhiều chính sách khuyến khích thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tạo điều
kiện thuận lợi về vốn và công nghệ giúp cho ngànhcà phê có thể mở rộng sản
xuất.
Tuy nhiên, thực tế thì chính sách pháp luật của Việt Nam hiện nay đang
có ảnh hưởng bất lợi đến tình hình xuất khẩu cà phê:
-Các quy định về thuế, giá cả, chủng loại cà phê, khối lượng cà phê nhập
khẩu… Việt Nam hiện nay chưa được hưởng ưu đãi từ tổ chức WTO, nên vẫn
chịu mức thuế cao. Vì thế khó khăn cho việc giảm giá thành để cạnh tranh với
đối thủ.
- Các quy định về chế độ sử dụng lao động, tiền lương, tiền thưởng, bảo
hiểm phúc lợi của Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế trong khi ngành cà
phê thu hút đội ngũ lao động khá lớn, bao gồm nhiều đối tượng khác nhau. Vì
vậy đòi hỏi chính sách tiền lương cũng đa dạng, thuỳ theo từng đối tượng
tham gia vào từng công đoạn của sản xuất cà phê xuất khẩu. Với người dân
trồng cà phê phải có chính sách cụ thể về giá cả, về chính sách bảo hộ, giúp họ
yên tâm hơn trong sản xuất. Với đội ngũ cán bộ tham gia công tác xuất khẩu cà
phê thì phải có chế độ tiền lương phù hợp, ngoài ra cung cấp các trang bị cần
thiết để họ nắm bắt được thông tin thị trường thế giới.
- Các quy định về giao dịch hợp đồng xuất khẩu cà phê như: giá cà phê,
số lượng cà phê, phương tiện vận tải sử dụng trong giao dịch xuất khẩu cà

doanh của ngành cà phê. Với trình độ khoa học kỹ thuật hiện tại của nước ta,
hiệu quả của hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ đã, đang và sẽ ảnh
hưởng trực tiếp, mạnh mẽ đến hoạt động của ngành.
Các yếu tố khoa học công nghệ có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động
kinh tế nói chung và với hoạt động sản xuất, chế biến cà phê nói riêng. Công
nghệ thông tin ngày càng phát triển làm cho việc trao đổi thông tin giữa các
đối tác ngày càng dễ dàng hơn. Khoảng cách không gian, thời gian không còn là
trở ngại lớn trong việc xuất nhập khẩu. Sự phát triển của mạng thông tin toàn
cầu Internet, giúp cho mọi thông tin thị trường thế giới được cập nhật liên tục
thường xuyên. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng có thể quảng cáo được
sản phẩm của mình mà mà tốn rất ít chi phí.
Như vậy, nếu như biết áp dụng khoa học kỹ thuật sẽ là điều kiện giúp
cho ngành cà phê nước ta có điều kiện cạnh tranh tốt hơn, hội nhập tốt hơn.
Nhưng nếu như không biết áp dụngkhoa học kỹ thuậtthìđó sẽ là mộtrào cản
lớn và chúng ta sẽ nhanh chóng bị tụt hậu xa hơn với các đối thủ.
1.5. Môi trường tự nhiên
Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, trải dài theo
phương kinh tuyến từ 8
o
30’ đến 23
o
30’ vĩ độ bắc. Điều kiện khí hậu, địa lý và
đất đai thích hợp cho việc phát triển cà phê đã đem lại cho cà phê Việt Nam
một hương vị rất riêng, độc đáo.
Về khí hậu: Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới, hàng năm khí hậu
nắng lắm mưa nhiều. Lượng mưa phân bố đều giữa các tháng trong năm nhất
là những tháng cà phê sinh trưởng. Khí hậu Việt Nam chia thành hai miền rõ
rệt. Miền khí hậu phía Nam thuộc khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thích hợp với cà
phê Robusta. Miền khí hậu phía Bắc có mùa đông lạnh và có mưa phùn thích
hợp với cà phê Arabica.

hoặc sẽ xuất hiện trên khu vực thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt động.
Tác động của các doanh nghiệp này đến hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp đang hoạt động đến đâu hoàn toàn phụ thuộcvào sức mạnh cạnh tranh
của các doanh nghiệp đó như về quy mô công nghệ, nguồn nguyên liệu… Sự
xuất hiện của các đối thủ mới này còn làm thay đổi sức cạnh tranh trong
ngành, dù thay đổi cục diện cạnh tranh kiểu nào thì sự xuất hiện của chúng
cũng làm gia tăng mức cạnh tranh của ngành. Vậy đối thủ cạnh tranh tiềm tàng
là những doanh nghiệp hiện tại chưa có mặt trong ngành nhưng có khả năng
tham gia vào ngành để dành giật thị phần của các doanh nghiệp đang hoạt
động. Đây là một thách thức nguy cơ đối với doanh nghiệp. Tác động đến quá
trình tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng bao gồm các
nhân tố như: các rào cản thâm nhập thị trường, hiệu quả kinh tế của quy mô,
Bùi Văn Doành
- 10 -
bất lợi về chi phí do các nguyên nhân khác, sự khác biệt hoá sản phẩm, yêu cầu
vốn cho sự thâm nhập, chi phí chuyển đổi, sự tiếp cận đường dây phân phối,
các chính sách thuộc quản lý vĩ mô. Những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của
ngànhcà phê Việt Nam là những doanh nghiệp nước ngoài ở trong khu vực và
trên thế giới, các doanh nghiệp này tập trung vào cải thiện chất lượngcà phê,
hướng sang trồng cà phê hữu cơ, cà phê sạch có chất lượng cao như: Mêhicô,
ấn Độ, Colombia sẽ xuất hiện nhiều trên thị trường dẫn đến nguy cơ giá cà phê
Viêt Nam sẽ giảm đi.
2.2. Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành
Trong tổng số 500.000 ha cà phê của các nông trường và các doanh
nghiệp nhà nước gồm các doanh nghiệp trung ương và doanh nghiệp địa
phương thì nhà nước chỉ nắm giữ 10-15% còn lại là 85-95% thuộc về các hộ
nông dân chủ trang trại. Quy mô trang trại không lớn lắm, bình quân mỗi hộ
chỉ có 2-5 ha cà phê. Trang trại lớn có từ 30-50 ha nhưng số nay chưa nhiều.
Vinacafe là tổng công ty nhà nước với 100% vốn của nhà nước và làhội
viên lớn nhất của Hiệp hội cà phê, ca cao Việt Nam. Đây là một doanh nghiệp

được sức ép trong lĩnh vực xuất khẩu cà phê cần phải nỗ lực hơn nữa trong
việc nâng cao chất lượng sản xuất, áp dụng những tiến bộ của khoa học công
nghệ trong việc chế biến sản phẩm cà phê và tìm kiếm mở rộngthị trường tiêu
thụ.
2.3. Năng lực thương lượng của người mua
Hiện nay trên thị trường Việt Nam, số lượng cà phênhân được cung cấp
bởi rất nhiều công ty nhỏ và các hộ gia đình trong khi chỉ có số ít các công ty có
khả năng chế biến cà phê đạt tiêu chuẩn để xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Các nước nhập khẩu hầu hết là các quốc giacó đòi hỏi rất cao vềtiêu chuẩn và
chất lượng cà phê. Bên cạnh đó, cà phê của Việt Nam luôn bị cạnh tranh gay
gắt bởi các nước Brazil, Colombia, Ấn Độ, Indonesia, Mexico, Ethiopia Các
nước nàycũng tìm mọi cách để nâng cao chất lượng và giảm giá thànhcà phê
nhằm nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Do vậy, có thể nói
năng lực thương lượng của những nhà nhập khẩu là rất cao. Họ có nhiều
quyền năng trong việc lựa chọn những nhà cung cấp có chất lượng tốt và giá
thành hạ.
Bùi Văn Doành
- 12 -
Bảng thống kê 17 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới (
4
)
Đơn vị tính: nghìn bao (01 bao = 60kg)
Quốc gia
Niên vụ
2002
2003
2004
2005
2006
2007

11.405
11.550
11.775
12.515
8.664
8.098
8.523
Indonesia
(R/A) T.4-T.3
6.785
6.571
7.386
6.750
7.483
4.474
9.612
11.380
9.129
Ấn Độ
(A/R) T.10-
T.9
4.683
4.495
3.844
4.630
4.563
4.319
3.950
4.794
5.033

4.100
3.785
3.835
3.950
Peru
(A) T.4-T.3
2.900
2.616
3.355
2.750
4.319
3.063
3.872
3.286
4.069
Uganda
(R/A) T.10-
T.9
2.900
2.510
2.750
2.750
2.700
3.250
3.197
2.797
3.290
Honduras
(A) T.10-T.9
2.497

El Salvador
(A) T.10-T.9
1.438
1.457
1.447
1.372
1.252
1.505
1.450
1.065
1.860
Ecuador
(A/R) T.4-T.3
732
767
938
720
1.167
1.110
691
813
854
Venezuela
(A) T.10-T.9
869
786
701
820
1.571
1.520

chọn khi mua sản phẩm.
Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất cà phê tại Việt Nam đang ngày càng trở
nên khốc liệt. Do đó, mỗi nhãn hiệu phải nỗ lực hết sức mình nhằm xây dựng
thương hiệu riêng và chiếm lĩnh thị trường. Những tên tuổi kinh doanh cà phê
hoà tan quen thuộc như NesCafe (Nestle), VinaCafe, G7 Coffee (Trung
Nguyên), Café Moment (Công ty CP Sữa VN-Vinamilk), Max Coffee (Singapore)
đã đưa ra thị trường các sản phẩm cà phê mới nhằm đa dạng hóa sản phẩm,
tăng khả năng cạnh tranh. Do đó, người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi nhiều
hơn từ sự cạnh tranh này, dễ dàng chọn lựa "gu" cà phê mà mình thích, đặc
biệt là đối với cà phê hòa tan.
2.4. Năng lực thương lượng của nhà cung cấp
Hiện nay trên thế giới, khoa học công nghệ phát triển rất nhanh chóng,
cùng với sự phát triển đó,ngành cà phê Việt Nam đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn
hơn.Tuy nhiên, công nghệchế biếncà phêcủa nước ta cònlạc hậuvà khá tuỳ
tiện trừ một số ít nông trường quốc doanh và các công ty xuất khẩucà phêlớn
đã quan tâm xây dựng trang thiết bị với những xưởng chế biến có quy mô lớn
và hiện đại còn lại khoảng từ 60-70% là được chế biến phân tán trong các hộ
gia đình, các chủ vườn nhỏ bằng các công cụ sản xuất thô sơ với công nghệ
phơi khô sát vỏ đơn giản rất dễ tạo ra sản phẩm có chất lượng thấp.
Nguồn nhân lực cung cấp cho ngànhcà phê:ViệtNam là một nước nông
nghiệp có 70% lực lượng lao động sống và làm việc trong lĩnh vực nông
nghiệp, số nhân lực này ước tính khoảng 32 triệu người, hàng năm bổ sung
thêm 10 triệu người bước vào tuổi lao động, đây là một sức ép lớn đối với xã
hội trong giải quyết việc làm. Tuy nhiên, xét về phương diện trong ngành cà
phêđó lại là một điều kiệnthuận lợi cho việc sản xuất cà phê.Nguồn lao động
trong ngành cà phê Việt Nam hiện nay, trình độ kỹ thuật chủ yếu là qua kinh
nghiệm của các bậc đi trước,trìnhđộ đã quađào tạo còn rất ít.Chúng ta đã có
những chính sách đầu tư đào tạo lao động nông nghiệp nhưng có hiệu quả ở
lao động gián tiếp, còn ở lao động trực tiếp hiệu quả còn rất thấp. Với tổng
diện tích trên 500.00ha và sản lượng hàng năm từ 650.000–800.000 tấn,

nghiên cứu lai tạo ra các giống cà phê có chất lượng cao đã được chú trọng.
Tuy nhiên, từ việc chế tạo thành công các giống cây trồng có chất lượng cao
đến việc nhân rộng diện tích giống cây chất lượng cao ấy tại các địa phương lại
là một khoảng cách khá xa.
Từ những phân tích trên đây có thể thấy năng lực thương lượng của
các nhà cung cấp trong ngành cà phê ở Việt Nam hiện nay là không cao.
2.5. Sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến
quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Kỹ thuật công nghệ càng phát
triển cao càngtạo ra khả năng tăng số loại sản phẩm thay thế. Càng nhiều loại
sản phẩm thay thế xuất hiện sẽ càng tạo ra sức ép lớn đến hoạt động tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp. Để giảm sức ép của sản phẩm thay thế doanh
nghiệp cần phải có các giải pháp cụ thể như: đầu tư đổi mới kỹ thuật công
nghệ nâng,cao chất lượng sản phẩm để cạnh tranh với các sản phẩm thay thế
và luôn chú ý đến sự khác biệt hoá sản phẩm hoặc tăng cường xúc tiến sản
phẩm các sản phẩm thay thế.
Sản phẩm thay thế là sản phẩm của các ngành khác nhau nhưng thoả
mãn nhu cầu người tiêu dùng giống như các sản phẩm khác của các doanh
nghiệp trong ngành. Đối với ngànhcà phêthì sản phẩm thay thế của ngành là
tương đối nhiều nhưngsức ép của các sản phẩm thay thế này tác động lên
ngành cà phê là không lớn lắm vì trên thực tế, những người đã quen sử
Bùi Văn Doành
- 15 -
dụng cà phê thường trung thành với loại sản phẩm nàyvà không thích chuyển
sang sử dụng các sản phẩm thay thế khác. Các loại sản phẩm thay thế cà phê
trên thị trương hiệnnay như: các loạitrà (trà gừng, trà lipton, trà cung đình )
và một số đồ uống giải khát khác hiên nay có mặt rộng rãi trên khắp thị trường
nhưng nó không làm giảm sức cạnh tranh của ngành cà phê.
III. PHÂN TÍCH SWOT
1. Điểm mạnh của ngành cà phê Việt Nam

chủ yếuquan tâm đến giá trị tài sản thế chấp hơn là khả năng sinh lợi của
dự án vay. Hơn nữa, việc quy định lượng tiền vay không vượt quá một tỷ lệ %
nhất định của giá trị tài sản cũng gây nhiều khó khăn cho người có nhu cầu vay
Bùi Văn Doành
- 16 -
vốn. Hiện nay, thiếu tài sản thế chấp là cản trở lớn nhất đối với những người
trồng cà phê và các doanh nghiệp qui mô nhỏ. Thứ hai, các thủtục hành chính
của các ngân hàng chưa thông thoáng, gây nhiều khó khăn cho người trồng,
các chủ đại lý cũng như doanh
Cơ sở hạ tầng: Nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng như giao thông,
truyền thông, thuỷ lợi, điện ở các vùng trồng cà phê còn nhiều hạn chế. Điều
đó sẽ làm tăng chi phí vận chuyển, giảm giá thu mua tại các điểm thu mua cà
phê khác nhau, đặc biệt là tại các vùng sâu, vùng xa, đường càng xấu thì giá
càng thấp.
Hệ thống kiểm tra, giám sát tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm còn yếu
kém và lạc hậu. Các nước có mức tiêu thụ cà phê lớn coi trọng vấn đề kiểm tra
và giám sát chất lượng, xuất xứ và thương hiệu của hàng hoá, trong khiở Việt
Nam hoạt động này chưa được chú trọng đối với ngành cà phê từ sản xuất đến
xuất khẩu. Hiện tượng bán hàng giả dưới tên các thương hiệu cà phê nổi tiếng
có xu hướng tăng lên trong thời gian gần đây. Điều này tạo nên những bất lợi
đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ do chi phí để bảo
vệ thương hiệu hàng hoá vượt quá sức của họ.
3. Cơ hội của ngành cà phê Việt Nam
Trong giai đoạn hiện nay, nhà nước đã ban hành nhiềuchính sách quan
tâm hỗ trợ ngành cà phê như: Chính sách thuế, chính sách cho vay và đầu tư
cho cà phê, chính sách xuất-nhập khẩu đãtạo điều kiện thuận lợicho ngành
cà phê Việt Nam phát triển.
Việcgia nhập WTO đãđem lại cho Việt Namnhững cơ hội mới, đó là gia
nhập vào thị trường của 149 nước, chiếm hơn 90% thương mại toàn cầu. Khi
gia nhập WTO, Việt Nam được tiếp cận với các công nghệ kỹ thuật hiện đại

những rào cản rất lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập trực
tiếp vào các thị trường này và buộc phải xuất khẩu qua các công ty trung gian
ở các nước được hưởng mức thuế quan ưu đãi hơn.
Thứ hai là về chiến lược phát triển ngành cà phê trong tổng thể ngành
nông nghiệp Việt Nam. Hiện nay, các mục tiêu đề ra đối với ngành cà phê Việt
Nam trong những năm tới chưa được đặt chung trong bối cảnh phát triển
chung của ngành nông nghiệp cũng như ngành kinh tế Việt Nam. Vì vậy, ngành
cà phê phát triển thiếu tính nhất quán và thống nhất chung với tổng thể ngành
nông nghiệp Việt Nam. Hậu quả là không nhận được sự hỗ trợ tích cực từ
chiến lược phát triển của ngành nông nghiệp cả nước.
Thứ ba là chủ trương cho các doanh nghiệp nước ngoài trực tiếp thu
mua cà phê nhân từ nhà sản xuất cũng đã tạo ra áp lực rất lớn cho các doanh
nghiệp trong nước vì hiện nay chúng ta còn thua kém họ rất xa về nguồn vốn,
kinh nghiệm, công nghệ
Thứ tư là thách thức về việc thiếu hụt lao động, chi phí sản xuất ngày
một tăng cao: Quá trình canh tác, chăm sóc và thu hoạch cây cà phê đòi hỏi rất
nhiều công lao động. Để thực hiện các khâu chăm sóc làm cỏ, bón phân, tưới
nước, phòng trừ sâu bệnh hại v.v… và thu hoạch trong một năm, trung bình 1
ha cà phê cần từ 300 – 400 công lao động, trong đó riêng công thu hái chiếm
tới trên 50%. Trước đây vào thời kỳ thu hoạch cà phê thường có hàng ngàn
lao động từ các tỉnh ven biển miền Trung và đồng bằng sông Cửu long đến
vùng Tây nguyên để tham gia thu hái cà phê, nhưng bắt đầu từ một hai năm
trở lại đây số lao động ở các vùng này đến Tây nguyên vào mùa thu hoạch cà
phê đã giảm đi rõ rệt. Do mangtính chất thời vụ rất khắt khe, trong khoảng
thời gian thu hái rất ngắn chỉ khoảng 2 tháng đòi hỏi số công lao động rất lớn
chiếm trên 50% số công trong năm đã làm cho tình trạng thiếu hụt lao động
càng trở nên trầm trọng, từ đó đẩy giá ngày công lên cao. Trước sức ép về
thiếu hụt lao động và chi phí ngày công tăng cao, để giảm chi phí công thu hái
Bùi Văn Doành
- 18 -

nước hiện nay đang thiếu nghiêm trọng do thiên nhiên gây ra cũng như do
chính sự huỷ hoại của bàn tay con người. Nguồn nước ngầm cũng đang bị cạn
kiệt cũng do các nguyên nhân trên. Bên cạnh đó các thiết bị phục vụ như máy
tưới, ống dẫn….rất thiều nên ảnh hưởng lớn đến năng suất cà phê.
- Tập trung phòng trừ sâu bệnh kịp thời cho cây cà phê. Thực tế cho
thấy sự phá hoại của cây cà phê có ảnh hưởng rất lớn đến năng xuất sản
lượng cũng như chất lượng câycà phê. Đặc biệt khi quy mô sản xuất được mở
rộng thì lại càng có sự quan đúng mức tới vần đề sâu bệnh và cỏ dại. Nếu vấn
Bùi Văn Doành
- 19 -
đề này được giải quyết một cách triệt để sẽ góp phần nâng cao năng suât, chất
lượng và sản xuất cà phê xuất khẩu.
- Hỗ trợ, tạo điều kiện giúp đỡ và khuyến khích các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh đẩy mạnh thâm canh sản xuất vì hiện nay cà phê ngoài quốc
doanh đã chiếm tới trên 80% diện tích cà phê của cả nước
1.2. Nâng cao chất lượng chế biến cà phê
Công nghệ chế biến phát triển sẽ làm tăng chất lượngcà phê xuất khẩu
từ đó tạo điều kiện nầng cao kim nghạch xuất khẩu. Cải tiến và nâng cao chất
lượng cà phê Việt Nam là môt chương trình tổng hợp từ khâu sản xuất - chế
biến- bảo quản đến tiêu thụ sản phẩm.Nó có liên quan mật thiết đến nguyên
liệu,thiết bị chế biến cũng như tổ chức bộ máy chỉ đạo và quản lý chất lượng
cà phê xuất khẩu cần phải có sự phối hợp nghiên cứu vàthực hiện đồng thời
các yếu tố có liên quan ở trên.
1.3. Đa dạng hoá cải tiến mẫu mã, bao bì cà phê xuất khẩu; tăng
cường công tác quảng cáo, chào bán hàng
Mẫu mã bao bìcà phê xuất khẩu cũng là một trong những yếu tố có ảnh
hưởng đến khả năng cạnh tranh. Như chúng ta biết cà phê là một trong những
đồ uống cao cấp do vậy rất cần cải tiến mẫu mã đa dạng phong phú cho phù
hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Nhiều khi chất lượng sản phẩm tương
đương nhau nhưng nếu mẫu mã đẹp hơn sẽ có sức thuyết phục hơn đối với

đất thích hợp có khả năng phát triển cây cà phê chè. Mở rộng diện tíchcà phê
chè sẽ cho phép chúng ta thay đổi được cơ cầu bất lợi về câycà phêđang tồn
tại như hiện nay, phấn đấu đạt cơ cấu sản lượng: 1/3 cà phê chè, 2/3 cà phê
Vối. Khi đó, cơ hội tăng sản lượng cà phê xuất khẩu là rất khả quan, kim ngạch
xuất khẩu cà phê tăng lên do giá trị cao của cây cà phê chè mang lại.
Bên cạnh việc đa dạng hoá chủng loại mặt hàng có chất lượng cao như
các loại cà phê Arabica giống chất lượng tốt, ngành cà phê cần quan tâm đến
việc đa dạng hoá sản phẩm cà phê không chỉ xuất khẩu đơn điệu một loại
hàngcà phênhân sống. Vì nhu cầu thị trường ngày càng cao nên sản phẩmcà
phê cần phải được chế biến một cách công phu để thoả mãn nhu cầu của họ.
Hiện nay, người ta tiêu dùng sản phẩm cà phê dưới nhiều hình thức như cà
phê rang xay, cà phê hoà tan, và các sản phẩm khác có sử dụng cà phê như
kem, bánh, kẹo…vì vậy, muốn có một thì trường tiêu thụ đa dạng và nguồn
ngoại tệ lớn, chúng ta cần tập trung nghiên cứu để ngay càng có nhiều sản
phẩm được chế biến từ cà phê của Việt Nam có mặt trên thị trường thế giới.
2. Phát triển thị trường xuất khẩu cà phê
Muốn phát triển nghành cà phê Việt Nam cần phải có những phương
hướng cụ thể mang tính hiệu quả cao, cụ thể:
2.1. Tăng cường về vốn
Cần có chính sách thu hút mọi nguồn vốn như vốn trong dân cư, vốn của
các tổ chức kinh doanh trong và ngoài nước quan tâm đến đầu tư trồng cà phê,
chuyển nhựơng một số diện tích cà phê của nhà nước đã đầu tư để ngành cà
phê có thêm vốn sản xuất kinh doanh, đồng thời dùng một phần vốn vay này
cho người dân vay để phát triển cà phê theo thu hoạch.
Tạo vốn thông qua việc tìm kiếm đầu tư nước ngoài, tạo môi trường
thông thoáng để đầu tư cho sản xuất và chế biến cà phê: Muốn có một thị
trường tiêu thụ lớn và ổn định thì chúng ta phải có chất lượng cà phê cao, để
đạt được điều đó thì đầu tư cho sản xuất là một yếu tố quan trọng. Cản trở lớn
đối với việc sản xuất và xuất khẩu cà phê ở Việt Nam là vốn cho sản xuất và
chế biến quá ít, không đủ tạo môt lực mạnh nhất định đẩy mạnh sản xuất và

2.4. Củng cố và hoàn thiện các đầu mối xuất khẩu cà phê
Sản xuất cà phê ở các nông trường cà phê chủ yếu do nông dân thực
hiện. Song đến mùa thu hoạch người sản xuất lại lo lắng là sẽ bán cà phê cho
ai. Nhà nước phải cấp giấy phép thu mua cho một số doanh nghiệp có uy tín,
có vốn để yên lòng người sản xuất. Trong điều kiện cà phê quá dư thừa như
hiện nay, giá thành xuống thấp hơn nhiếu so với chi phí sản xuất, người nông
dân không bán được sản phẩm gây cho họ sự hoang mang lo sợ. Vì vậy, Nhà
nước phải có những chính sách bảo hộ cho người sản xuất cà phê. Mặt khác,
quản lý tập trung các đầu mỗi thu mua và xuất khâu mang lại sự ổn định trong
sản xuất và xuất khẩu nâng cao hiệu của sản xuất cà phê.
2.5. Chính sách tín dụng và trợ cấp xuất khẩu
Chính sách tín dụng xuất khẩu: Trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu
nông sản nói chung vàxuất khẩu cà phê nói riêng, có rất nhiều trường hợp để
chiếm lĩnh thị trường nước ngoài các đơn vị kinh doanh phải thực hiện bán
Bùi Văn Doành
- 22 -
chịu, trả chậm hoặc tíndụng đối với khách hàng. Trong trường hợp này Nhà
nước nên đứng ra bảo hộ xuất khẩu nhằm đền bù và khuyến khích các đơn vị
kinh doanh đẩy mạnh xuất khẩu. Thông thường tỉ lệ đền bù là 60-70%, nhưng
có trường hợp là 100%. Khi Nhà nước đứng ra đảm bảo tín dụng xuất khẩu sẽ
giúp cho nhà xuất khẩu yên tâm hơn trong kinh doanh. Đây là một hình thức
khá phổ biến trong chính sách ngoại thương của nhà nước nhằm chiếm lĩnh
thị trường xuất khẩu và mở rộng thị trường. Cần áp dụng biện pháp cấp tín
dụng cho người sản xuất khẩu vì trước và sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu rất
cần có vốn để thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Loại tín dụng này rất cần cho
người sản xuất để đảm bảo thanh toán hết các khoản chi phí trong việc thu
mua nông sản cà phê, xuất khẩu đóng gói, vận chuyển hàng ra sân bay, bến
cảng… lãi suất tín dụng xuất khẩu là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến
sức cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu nói chung và của cà phê nói riêng.
Vì vậy, Nhà nước nên áp dụng tín dụng theo lãi suất ưu đãi hơn lãi suất thương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status