Phân tích môi trường kinh doanh, ngành kinh doanh khách sạn 5 sao ở việt nam - Pdf 28

LỜI NÓI ĐẦU
Du lịch Việt Nam trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, bằng
chứng là lượng khách du lịch đến Việt Nam đang ngày một gia tăng. Đặc biệt
trong thời gian gần đây, lượng khách hạng sang đến Việt Nam tăng đáng kể,
chính vì thế nhu cầu về nơi ăn, chốn nghỉ ngày càng cao hơn. Kéo theo một xu
thế tất yếu xuất hiện ngày càng nhiều các khách sạn 5 sao tại các thành phố lớn,
các trung tâm thương mại và ở những điểm du lịch, nghỉ dưỡng. Từ lâu Việt
Nam đã được biết tới như một điểm đến an toàn, thiên nhiên, khí hậu ôn hòa,
cảnh quan tự nhiên còn giữ được nét hoang sơ. Bên cạnh đó, việc Việt Nam
đang hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, thu hút rất nhiều các đối tác nước
ngoài đến cũng đã và đang thu hút ngày càng nhiều các đoàn khách MICE, là
những đoàn khách doanh nhân, chuộng những khách sạn cao cấp, đầy đủ tiện
nghi về ăn nghỉ, tiện ích hội họp…Nhận ra xu hướng và tiềm năng lớn từ thị
trường Việt Nam, rất nhiều các doanh nghiệp trong và ngoài nước đã quyết định
đầu tư kinh doanh loại hình khách sạn cao cấp ở đây. Rất nhiều các thương hiệu
nổi tiếng đã thành công, nhưng không thể phủ nhận sự thật là cũng có một số
hãng khách sạn nổi tiếng đã thất bại tại thì trường Việt Nam và phải nhượng
quyền lại cho các hãng khác. Điểm khác nhau cơ bản giữa các doanh nghiệp
thành công và doanh nghiệp không thành công là chính ở việc am hiểu môi
trường kinh doanh. Phân tích môi trường kinh doanh là một bước cơ bản đầu
tiên trong một chiến lược đầu tư. Sau khi nắm rõ về các đặc điểm của thị trường
mình muốn tham gia, doanh nghiệp mới có thể tiến hành xây dựng chiến lược
phù hợp với thị trường đó.
Chính vì xu hướng gia tăng trong đầu tư ngành kinh doanh khách sạn, đặc
biệt là khách sạn 5 sao và tầm quan trọng của việc phân tích môi trường kinh
doanh như trên, nhóm chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “ PHÂN TÍCH MÔI
TRƯỜNG KINH DOANH, NGÀNH KINH DOANH KHÁCH SẠN 5 SAO Ở
VIỆT NAM”
1
Bài phân tích này bao gồm các phần chính như sau:
Phần I: Tổng quan về ngành

phổ biến và được nhiều người biết tới nhất vẫn là phân loại khách sạn chất lượng
và phạm vi kinh doanh của nó, hay nói cách khác chính là hệ thống xếp hạng
khách sạn theo số sao. Khách sạn được xếp hạng từ 1-5 sao thông qua các tiêu
chí về vị trí, kiến trúc, trang thiết bị, tiện nghi phục vụ, dịch vụ và mức độ phục
vụ, nhân viên phục vụ và vệ sinh. Trong khuôn khổ của bài phân tích này, nhóm
sẽ không nghiên cứu về tất cả những khách sạn thuộc 5 hạng nói trên mà chỉ tập
trung vào hệ thống các khách sạn 5 sao, hay còn gọi là hạng xa xỉ (Luxury).
Dựa theo tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn ban hành kèm theo Quyết định số
02 /2001/QĐ-TCDL ngày 27 tháng 4 năm 2001 của Tổng cục Du lịch, các khách
sạn được coi là đạt chuẩn 5 sao nếu thỏa mãn được các yêu cầu sau đây:
3
Vị trí, kiến trúc Trang thiết bị, tiện nghi Dịch vụ và phục vụ Nhân viên Vệ sinh
- Giao thông thuận
tiện
- Môi trường cảnh
quan sạch đẹp
- Đồng bộ, hiện đại, chất
lượng cao, trang trí nghệ thuật,
hấp dẫn
- Buồng ngủ trang trí nội thất
đẹp hài hòa đủ ánh sáng.
Phục vụ buồng:
- Thay ga, gối giường ngủ
1 lần/ 2 ngày.
- Thay khăn mặt, khăn
tắm 2 lần/ ngày
- Vệ sinh phòng 2 lần/
ngày
- Nhân viên trực buồng
24/24

thiết kế đẹp, trang
nhã, toàn cảnh được
thiết kế thống nhất
Thảm: Có thảm trải chất lượng
cao toàn bộ phòng ngủ, hành
lang, cầu thang
Nhân viên phục
vụ:
- Tỷ lệ được đào
tạo chuyên môn,
nghiệp vụ :
100%
- Ngoại ngữ:
+ Nhân viên trực
tiếp phục vụ: 1
ngoại ngữ ở mức
độ thông thạo
+ Tiếp tân viên,
điện thoại viên: 2
ngoại ngữ ở mức
thông thạo.
- Ngoại hình cân
đối, không có dị
tật, có khả năng
giao tiếp (đặc
biệt đối với nhân
viên trực tiếp
phục vụ)
Có ít nhất 100 buồng Điều hòa: Có điều hòa nhiệt
độ trung tâm ở các khu vực

Các loại phòng ăn
uống:
- Phòng ăn Âu, Á
- Phòng tiệc
- Phòng ăn đặc sản
- Các bar
- Bar đêm (có sàn
nhảy và dàn nhạc)
Ổ khóa điện từ dùng thẻ
Khu phục vụ hành
chính:
- Phòng làm việc của
giám đốc, PGD
- Phòng tiếp khách
- Các phòng nghiệp
vụ chuyên môn, kĩ
thuật
- Phòng trực tầng
- Phòng cho nhân
viên phục vụ:
+ Phòng thay đồ
riêng cho nam, nữ
+ Phòng tắm riêng
cho nam, nữ
+ Phòng ăn cho nhân
viên
- Khu giặt là
- Khu để đồ
- Khu bếp, kho bảo
quản thực phẩm :

- Đổi tiền ngoại tế
- Bưu điện và quầy thông
tin
- Đánh thức khách
- Chuyển hành lý
- Giặt là
- Dịch vụ y tế cấp cứu,
dịch vụ thẩm mỹ
- Điện thoại công cộng,
điện thoại trong phòng
- Quầy lưu niệm, mỹ
phẩm
- Lấy vé máy bay tàu xe
- Phòng chiếu phim hoặc
hòa nhạc
- Phòng hội nghị với các
thiệt bị phục vụ hội nghị
và thiết bị dịch thuật
Cán bộ quản lý
khách sạn:
- Văn hóa: đại
học
- Chuyên môn:
+ Đã qua khóa
học quản trị kinh
doanh khách sạn
hoặc quản lý
kinh tế du lịch
tối thiểu 1 năm
(nếu không phải

- Bể bơi
- Phòng tập thể thao
- Phòng cắt tóc nam nữ
- Dàn nhạc
- Đánh giầy, sửa giầy
- Chụp ảnh, quay video
- Hình thức:
không có dị tật,
phong cách giao
tiếp lịch sự, sang
trọng.
2. Hoạt động trong kinh doanh khách sạn: bao gồm 2 hoạt động chính
- Kinh doanh dịch vụ lưu trú: cung cấp cho khách những phòng đã được chuẩn
bị sẵn đầy đủ tiện nghi.
- Kinh doanh về dịch vụ bổ trợ: Trong thời giang khách hàng lưu trú tại khách
sạn, tùy theo quy mô cũng như vị trí, cấp độ mà các khách sạn tổ chức các dịch
vụ bổ sung khác nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng như ăn uống, giải trí,
bán hàng lưu niệm, tổ chức hội nghị…
II. Phân tích cấu trúc ngành
Hiện nay theo thống kê, cả nước có khoảng hơn hai nghìn khách sạn được
xếp hạng từ 1-5 sao. Trong đó tổng số khách sạn được xếp hạng 5 sao trên cả
nước là 40 khách sạn, tập trung chủ yếu ở 2 thành phố lớn là thủ đô Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh, trong đó nổi bật là Sofitel Legend Metropole, Hilton
Opera tại Hà Nội và Caravelle, Park Hyatt tại thành phố Hồ Chí Minh.
Danh sách các khách sạn 5 sao tại Việt Nam tính đến 2011:
Hà Nội Sheraton, Daewoo, Hanoi Horizon, Melia, Hilton, Nikko, Inter
Continental Hanoi Westlake, Metropole, Sofitel
TPHCM Sofitel Plaza Saigon, Windsor Plaza, Equatorial Hotel,
Parkroyal Saigon Hotel, Majestic Hotel Hochiminh City,
Newworld Hotel Saigon, Renaissance Riverside Hotel,

gay gắt nhưng cũng đang có xu hướng tăng lên trước tình hình ngành du lịch và
kinh doanh dịch vụ lưu trú ở Việt Nam đang ngày càng phát triển.
III. Các giai đoạn phát triển của ngành:
1. Từ 1960- 1992:
Ngành kinh doanh khách sạn và dịch vụ lưu trú ở Việt Nam mới bắt đầu
xuất hiện từ những năm 1960, khi Công ty Du lịch Việt Nam (nay là Tổng cục
6
Du lịch Việt Nam) được thành lập vào ngày 09/07/1960. Nói chung, trong giai
đoạn triển khai, từ năm 1960 đến năm 1992, ngành du lịch cũng như kinh doanh
khách sạn của Việt Nam không mấy phát triển do thiếu tính thống nhất về mô
hình tổ chức ở các địa phương. Trong vòng 32 năm từ năm 1960 đến năm 1992
đã có 6 lần chuyển đổi tổ chức bộ máy ngành Du lịch. Vì vậy sự chỉ đạo trực
tiếp của bộ máy quản lý nhà nước từ Trung ương xuống địa phương mất tính
liên tục, hạn chế hiệu quả khiến cho ngành Du lịch trong nước bị tụt hậu so với
các nước có điều kiện tương đồng. Đến thời điểm năm 1988, nghĩa là 28 năm
sau ngày Công ty du lịch Việt Nam được thành lập, Việt Nam chỉ đón lượng
khách du lịch quốc tế bằng 1/10 Philippines, 1/5 Indonesia và xấp xỉ 1/40
Malaysia, Thái Lan hoặc Singapare. Tổ chức bộ máy cũng chưa thực sự ngang
tầm với vị trí, vai trò và tiềm năng vốn có của du lịch Việt Nam. Cán bộ phân
tán, không có tính thừa kế và cơ chế quản lý không bao quát.
Sự kém phát triển của ngành du lịch nói chung làm cho ngành kinh doanh
khách sạn và dịch vụ lưu trú không mấy phát triển. Đa số các cơ sở lưu trú trên
cả nước vào giai đoạn này đều có quy mô nhỏ, không đạt chuẩn, phục vụ chủ
yếu cho nhu cầu nghỉ của cán bộ các ngành, một số chuyên gia và lượng khách
du lịch ít ỏi. Các khách sạn 5 sao thời kỳ này còn rất thưa thớt, chỉ có một số
khách sạn đã được xây dựng và tồn tại từ thời Pháp thuộc như Sofitel Metropole
Hanoi (khách sạn 5 sao đầu tiên) tại Việt Nam hay khách sạn Caravelle ở Sài
gòn. Hầu hết những khách sạn này đều được đầu tư xây dựng bởi các tập đoàn
hoặc chủ đầu tư quốc tế, với bộ máy quản lý và nhân viên đa số là người nước
ngoài.

Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam
Bảng 2. Khách sạn xếp hạng (tính đến tháng 6/2009)
Stt Hạng Số lượng Số buồng
1 5 sao 33 8.564
2 4 sao 90 10.950
3 3 sao 176 12.674
4 2 sao 850 31.450
5 1 sao 990 20.790
6 Đạt tiêu chuẩn tối thiểu 3.100 46.724
Tổng cộng 5.239 131.152
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam
Trong 2 năm gần đây, sau khi bị ảnh hưởng bởi suy thoái toàn cầu năm
2009, ngành kinh doanh khách sạn Việt Nam đã có nhiều dấu hiệu phục hồi và
tiến lên đà phát triển. Công suất thuê phòng, giá phòng cũng như doanh thu lợi
nhuận đều tăng trung bình 3,4%/năm. Dự báo trong thời gian tới, ngành nghề
kinh doanh khách sạn sẽ còn tiếp tục phát triển, do tiềm năng du lịch của ta
còn dồi dào, mức sống được cải thiện tạo ra nhiều nhu cầu hơn cùng với sự ra
đời của hàng loạt những khách sạn và khu nghỉ dưỡng mới với cơ sở vật chất
tiện nghi hiện đại nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng gia tăng đó.
8
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
I. Môi trường chính trị
1. Mức độ ổn định về chính trị
Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có mức độ ổn định về
chính trị cao. Theo đánh giá của Viện kinh tế vào hòa bình (IEP), năm 2011,
Việt Nam đứng thứ 30/153 về mức độ ổn định về chính trị, trong đó, bao gồm cả
sự đánh giá về rủi ro chiến tranh, độ an toàn chính trị.
Chỉ số GPI (chỉ số hòa bình thế giới) tại Việt Nam
Nguồn : IEP

Nguồn: Tổ chức minh bạch Thế giới ( Transparency International Organization)
Nhìn trên hình vẽ trên ta thấy, Việt Nam thuộc vào khu vực bị đánh giá là
có mức độ gian lận rất cao. Điểm số đánh giá của Việt Nam là 2.7 nằm vào top 3
điểm nóng về gian lận hành chính và đứng thứ 116/ 178 quốc gia về sự minh
10
bạch. Những con số trên đã cho thấy một điểm nóng trong pháp luật Việt Nam
đã tồn tại từ nhiều năm năm, đó là tình trạng quan liêu, tham nhũng, thiếu minh
bạch.
Minh bạch là yếu tố quan trọng cho một doanh nghiệp, đặc biệt là cách
doanh nghiệp tư nhân. Nếu như một môi trường mà doanh nghiệp tham gia vào
lại không minh bạch, khi đó doanh nghiệp khó có thể cạnh tranh một cách công
bằng. Ngoài ra, môi trường kinh doanh không minh bạch mang lại rủi ro lớn cho
nền kinh tế - xã hội. Chính vì thế, chúng tôi đánh giá, sự kém minh bạch và tình
trạng tham nhũng ở Việt Nam là một thách thức lớn cho ngành.
2. Về quản trị và bảo vệ thương hiệu
Việc bảo vệ thương hiệu ở Việt Nam được đẩy mạnh trong giai đoạn gần
đây, Bên canh đó, Việt Nam còn tham gia vào thỏa ước Madrid, cho phép các
doanh nghiệp đăng ký bản quyền thương hiệu quốc tế. Đây là một cơ hội cho
doanh nghiệp khi kinh doanh tại thị trường Việt Nam, đặc biệt là các doanh
nghiệp mới, chưa phát triển.
3. Hỗ trợ của pháp luật đối với hoạt động kinh doanh
- Thủ tục đăng ký kinh doanh:
Sự ra đời của Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005 cùng với việc áp dụng
chính sách thủ tục hành chính một cửa đã giúp cho việc thành lập doanh nghiệp
trở nên đơn giản và dễ dàng hơn rất nhiều.
Theo số liệu điều tra của Doing Business 2011, thủ tục đăng ký khởi sự
doanh nghiệp ở Việt Nam được xếp hạng thứ 100 toàn thế giới:
Nhân tố Việt Nam
Đông Nam Á
& TBD

III. Môi trường kinh tế:
Theo định hướng của Đảng và Nhà nước Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam là
nền kinh tế thi trường định hướng theo xã hội chủ nghĩa hay nói một cách khác
thị trường kinh tế Việt Nam là thị trường kết hợp giữa thị trường và chỉ huy.
Trên thực tế, thị trường kinh tế ở Việt Nam trong các giai đoạn gần đây đã có
những bước phát triển lớn. Nền kinh tế hội nhập hơn với thế giới. Bên cạnh đó,
thị trường dần bớt đi sự điều tiết của chính phủ. Tuy nhiên, sự tồn tại của bàn tay
chính phủ trong thị trường khiến cho thị trường méo mó, giảm bớt sự cạnh tranh.
Yếu tố
Xếp
hạng
Strength of
legal rights
index (0 -10)
Depth of credit
information index (0-
6)
Public registry
coverage (% of
adults)
Private bureau
coverage (% of
adults)
Việt Nam (2012) 24 8 5 29.8 0
Việt Nam (2011) 21 8 5 26.4 0
Indonesia 126 3 4 31.8 0
Lao PDR 166 4 0 0 0
Malaysia 1 10 6 49.4 83.4
Philippines 126 4 3 0 8.2
Thailand 67 5 5 0 41.7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status