Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạoBộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dânTrờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dân
PHan THị KIM OANH
PHan THị KIM OANH PHan THị KIM OANH
PHan THị KIM OANH VAI TRề CA NH NC V AN SINH X HI
I VI NễNG DN VIT NAM
kinh tế kinh tế
kinh tế
Ngời hớng dẫn khoa h
Ngời hớng dẫn khoa hNgời hớng dẫn khoa h
Ngời hớng dẫn khoa học:
ọc: ọc:
ọc: 1. GS.TS. mai ngọc cờng
1. GS.TS. mai ngọc cờng 1. GS.TS. mai ngọc cờng
1. GS.TS. mai ngọc cờng 2. PGS.TS. tô đức hạnh
2. PGS.TS. tô đức hạnh2. PGS.TS. tô đức hạnh
2. PGS.TS. tô đức hạnh
Hà Nội
Hà Nội Hà Nội
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, HÌNH, HỘP vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VAI TRÒ
CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN 5
1.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN
SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN 5
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước 9
1.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
1.2.1. Cách tiếp cận 16
1.2.2. Mô hình nghiên cứu 17
2.2.1.1. Bản chất vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân 40
2.2.1.2. Tầm quan trọng của vai trò nhà nước về an sinh xã hội đối với
nông dân 42
2.2.2. Nội dung vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân 44
2.2.2.1. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện môi trường luật pháp và thể chế
chính sách an sinh xã hội đối với nông dân 44
2.2.2.2. Nhà nước phối hợp thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông
dân với các chính sách kinh tế - xã hội khác 46
2.2.2.3. Nhà nước kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách về an sinh
xã hội đối với nông dân 49
2.2.3. Nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với
nông dân 50
2.2.3.1. Quan điểm của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân 50
2.2.3.2. Khả năng tài chính của Nhà nước và thu nhập của nông dân 52
2.2.3.3. Năng lực của hệ thống quản lý an sinh xã hội đối với nông dân 53
2.2.3.4. Nhận thức xã hội về an sinh xã hội đối với nông dân 55
2.3. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ VAI
TRÒ NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN VÀ
BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 55
2.3.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về vai trò Nhà nước về an
sinh xã hội đối với nông dân 55
2.3.1.1. Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức 55
2.3.1.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc 60
2.3.2. Những bài học rút ra cho Việt Nam từ nghiên cứu kinh nghiệm của
các nước 62
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 63
Chương 3: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ
HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 64
3.1. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN
SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 64
3.2.2.1. An sinh xã hội đối với nông dân còn là mô hình mới, nên các quan
điểm, chủ trương còn chưa theo kịp với thực tiễn 105
3.2.2.2. Thu nhập của nông dân thấp, khó có khả năng tham gia an sinh xã hội
theo nguyên tắc đóng - hưởng 105
3.2.2.3. Nguồn tài chính của Nhà nước và nguồn huy động từ cộng đồng để hỗ
trợ an sinh xã hội không theo nguyên tắc đóng - hưởng đối với nông
dân còn hạn hẹp 112
3.2.2.4. Năng lực tổ chức quản lý an sinh xã hội đối với nông dân còn nhiều
bất cập 113
3.2.3.5. Nhận thức xã hội về an sinh xã hội đối với nông dân và công tác tuyên
truyền, phổ biến thông tin về an sinh xã hội đến người dân còn hạn chế 115
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 118
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ
CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN
VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI 119
v
4.1. BỐI CẢNH TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH
XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI 119
4.1.1. Bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước tác động đến tăng
cường vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân những
năm tới 119
4.1.1.1. Cơ cấu ngành nghề trong khu vực nông thôn 119
4.1.1.2. Dân số và lao động nông thôn những năm tới 119
4.1.1.3. Thu nhập, tiêu dùng, tích lũy và đời sống của người dân nông thôn
120
4.1.2. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về an sinh xã hội đối
với nông dân 123
4.2. PHƯƠNG HƯỚNG TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA NHÀ
NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN NHỮNG
Chữ viết tắt Diễn giải
ASXH An sinh xã hội
ASXHTN An sinh xã hội tự nguyện
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHXHBB Bảo hiểm xã hội bắt buộc
BHXHTN Bảo hiểm xã hội tự nguyện
BHYT Bảo hiểm y tế
BHYTBB Bảo hiểm y tế bắt buộc
BHYTTN Bảo hiểm y tế tự nguyện
BHTN Bảo hiểm tự nguyện
BTXH Bảo trợ xã hội
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CTXH Cứu trợ xã hội
NCT Người cao tuổi
NSNN Ngân sách nhà nước
NTT Người tàn tật
KCB Khám chữa bệnh
TEMC Trẻ em mồ côi
TCXH Trợ cấp xã hội
TGXH Trợ giúp xã hội
TGXHTX Trợ giúp xã hội thường xuyên
TGXHĐX Trợ giúp xã hội đột xuất
ƯĐXH Ưu đãi xã hội
XĐGN Xóa đói giảm nghèo
XHCN Xã hội chủ nghĩa
vii
nông dân 103
Bảng 3.16: Đánh giá của nông hộ về khả năng tham gia vào hệ thống BHTN
từ khía cạnh tài chính tại 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh 106
Bảng 3.17: Tỷ lệ tham gia BHTN của nông dân tại 3 tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An
và Thanh Hóa 107
Bảng 3.18: Thu nhập của hộ gia đình có và không tham gia ASXH theo
nguyên tắc đóng - hưởng 108
viii
Bảng 3.19: Tổng hợp chi tiêu từ NSNN cho ASXH không đóng góp và một số
chính sách xã hội 112
Bảng 4.1: Ý kiến của nông hộ về khả năng tham gia vào hệ thống BHTN từ
khía cạnh tài chính của 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh 127
Bảng 4.2: Đề xuất điều chỉnh TGXHTX đến năm 2020 của 3 tỉnh Thanh
Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh 129
Bảng 4.3: Tổng số đối tượng sống tại cộng đồng năm 2012 và 2013 130
Bảng 4.4: Ý kiến về điều chỉnh các chế độ TCXH đột xuất đến năm 2020 132
Bảng 4.5: Ý kiến về phối hợp chính sách của 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và
Hà Tĩnh 136
Bảng 4.6: Các biện pháp tăng cường vai trò của Nhà nước trong xây dựng và
hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân những năm tới 142
Bảng 4.7: Mong muốn của người dân về mức đóng góp và nhận được hỗ trợ
của Nhà nước để tham gia vào hệ thống BHTN 144
Bảng 4.8: Đề xuất mức hỗ trợ tài chính để nông dân tham gia BHYTTN
những năm 2013-2015 145
Bảng 4.9: Dự báo nhu cầu kinh phí cho TGXH theo mục tiêu Nghị quyết 15-
NQ/TW 146
HÌNH:
Hình 2.1: Vòng đời và những rủi ro trong cuộc sống của con người 29
nước theo con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đòi
hỏi Nhà nước càng phải xây dựng và phát triển nhanh chóng hệ thống an sinh xã hội
(ASXH), thay cho nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, nhằm điều hoà các
quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân trong cộng đồng và qua đó điều hoà các
mâu thuẫn xã hội đã, đang và sẽ phát sinh.
Từ khi giành được độc lập, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu với
hơn 80% dân số là nông dân. Mặc dù hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, đất nước đang tiến nhanh trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(CNH, HĐH) nhưng trong một tương lai không gần tỷ lệ ấy cũng chưa thể giảm
xuống dưới 40%. Điều đó nói lên rằng, nông dân vẫn là một lực lượng lao động
hùng hậu và đặc biệt vẫn luôn luôn là lực lượng chính trị xã hội hết sức quan trọng,
bảo đảm ổn định xã hội và an ninh Tổ quốc.
Vì tính chất đặc thù của lao động và sản phẩm lao động nông nghiệp nước ta
chưa cao nên tỷ trọng đóng góp của khu vực này vào GDP còn thấp, phải chăng vì
vậy mà trong một thời gian dài các nhà hoạch định chính sách đã để quên, để chậm
vấn đề ASXH đối với nông dân, hoặc chỉ tiếp cận vấn đề như là sự thể hiện tính ưu
việt của chế độ XHCN mà chưa đặt nó trong phạm trù quản lý nhà nước?
Đến những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,
chính sách để giải quyết vấn đề ASXH nói chung và ASXH đối với nông dân nói
2
riêng. Nhiều chính sách về bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), cứu
trợ xã hội (CTXH), ưu đãi xã hội (ƯĐXH) đã được Nhà nước sửa đổi, bổ sung và
luật hoá. Tuy nhiên, hệ thống chính sách ASXH nói chung và ASXH đối với nông
dân nói riêng vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót, bất cập, chưa đáp ứng kịp những biến
động kinh tế - xã hội của đất nước, đòi hỏi phải được nghiên cứu bổ sung và hoàn
thiện một cách khoa học.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về ASXH và ASXH đối với
nông dân ở Việt Nam nhưng các kết quả của nó, do nhiều lý do khác nhau, chưa
hoặc chậm đi vào đời sống đất nước. Xuất phát từ những nội dung trên, bản thân tác
bảo tài chính của Nhà nước, về năng lực bộ máy và nhận thức của người nông
dân về ASXH.
Về đối tượng nông dân, Luận án tập trung phân tích đối tượng người nông
dân vùng Bắc Trung Bộ là vùng kinh tế phát triển ở mức trung bình so với cả nước.
Thêm nữa, ở đây có cả người nông dân vùng ven biển, đồng bằng, trung du và miền
núi, nên có thể khảo sát được hầu hết các đối tượng nông dân nước ta.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn cả nước, song số liệu điều tra minh
chứng thông qua điều tra khảo sát ở 3 tỉnh Bắc Trung Bộ là Thanh Hóa, Nghệ An
và Hà Tĩnh.
- Về thời gian: Sử dụng các thông tin, tư liệu từ năm 2000 đến năm 2012, đề
xuất giải pháp cho đến những năm 2020.
4. Những đóng góp của Luận án
- Xây dựng khung lý thuyết vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân
thông qua tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, kinh nghiệm thực tiễn của
một số nước.
- Thông qua hệ thống tài liệu thứ cấp từ các bộ, ngành có liên quan và số liệu
điều tra, khảo sát phỏng vấn tại ba tỉnh Bắc Trung Bộ là Hà Tĩnh, Nghệ An và
Thanh Hóa, Luận án đã phân tích đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nước về
ASXH đối với nông dân ở Việt Nam, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên
nhân hạn chế.
- Khuyến nghị các phương hướng và giải pháp tăng cường vai trò của Nhà
nước về ASXH đối với nông dân ở Việt Nam những năm tới.
4
5. Kết cấu Luận án
Gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục về
thông tin, tư liệu, kết quả điều tra khảo sát và nội dung bốn chương của Luận án.
Chương 1: Tổng quan và phương pháp nghiên cứu vai trò của Nhà nước về
an sinh xã hội đối với nông dân.
hay Beveridge đưa ra tùy thuộc vào chính sách xã hội của từng quốc gia, vào thu
nhập của người dân và thậm chí cả ngân sách nhà nước (NSNN). J. Ignacio Conde-
Ruiz trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng, các quốc gia xây dựng ASXH theo
quan điểm của Beveridge thì có xu hướng những người nhận được hưu trí thường
thấp hơn các quốc gia xây dựng hệ thống ASXH theo quan điểm của Bismarck. Từ
đó J. Ignacio Conde-Ruiz đưa ra kết luận các quốc gia xây dựng hệ thống ASXH
theo quan điểm của Bismarck có sự bất bình đẳng thu nhập thấp hơn so với những
quốc gia xây dựng hệ thống ASXH theo quan điểm của Beveridge [106]. Torben M.
Andersen (2008) chỉ ra rằng, vì tuổi thọ của con người ngày càng dài hơn [115].
Theo dự báo của Liên hợp quốc (UN, 2004; EU, 2006; IMF, 2004) [116], [102],
6
[105], tuổi thọ đang tăng lên ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia châu
Âu, tuổi thọ trung bình sẽ tăng từ 73,8 năm 2005 lên 81 vào năm 2050, điều này đòi
hỏi các quốc gia phải điều chỉnh lại hệ thống ASXH dựa trên nguyên tắc đóng -
hưởng. Jon Barnett và cộng sự (2007) chỉ ra rằng, sự biến đổi về điều kiện khí hậu
đem lại những rủi ro ngày càng nhiều hơn cho cuộc sống con người. Vai trò của
chính phủ trong việc khắc phục thiên tai cũng như hỗ trợ những đối tượng bị tác
động trực tiếp từ thiên tai ngày càng trở nên quan trọng [110].
J. Ignacio Conde-Ruiz (2003) cho rằng, việc đảm bảo sự vận hành của
ASXH theo hệ thống Bismarck chỉ được duy trì bởi những những đối tượng tham
gia có thu nhập cao, trong khi với những đối tượng có thu nhập thấp, để đảm bảo
ASXH thì chính phủ của quốc gia đó nên theo quan điểm của Beveridge [106]. Điều
này cũng nhận được sự đồng tình của Jay H. Hong và cộng sự (2007) [107]
Valerie Schmit (2010) [117] đã chỉ ra 2 hợp phần của ASXH bao gồm bảo
hiểm và trợ giúp. Tuy nhiên, trong tình cảnh nhiều quốc gia đang phải đối mặt với
tình trạng già hóa dân số, nên nguy cơ đảm bảo tài chính thực hiện ASXH theo
nguyên tắc đóng - hưởng đang đối mặt với nhiều khó khăn, thậm chí có thể ảnh
hưởng xấu tới quỹ lương hưu của BHXH [111]. Chính vì vậy, việc điều chỉnh mức
đóng - hưởng khi tham gia BHXH là điều tất yếu các quốc gia phải thực hiện Tuy
Đối với Đài Loan, chương trình BHXH cho công chức, công an và bộ đội
được thực hiện từ những năm 1950, hệ thống BHXH này cũng là bắt buộc với các
doanh nghiệp có từ 20 lao động trở lên. Đối với các doanh nghiệp tư nhân, từ năm
1970 nếu doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên thì chủ các doanh nghiệp phải đảm
bảo cho lao động của họ được tham gia vào hệ thống BHXH. Hệ thống BHYT cho
người nông dân được triển khai từ năm 1989. Cho đến năm 1990 những đối tượng
có thu nhập thấp khác chưa được tham gia và hệ thống BHYT. Đến năm 1995, hệ
thống BHYT cho tất cả các nhóm đối tượng mới được hình thành và đến năm 2005
hệ thống BHYT toàn dân mới được thực hiện [5].
Là một quốc gia có đông dân số bậc nhất thế giới là Trung Quốc, với hơn
800 triệu nông dân, những năm cải cách vừa qua, pháp luật về ASXH của Trung
Quốc cũng đã đặt vấn đề đảm bảo ASXH đối với nông dân dưới các hình thức bảo
BHXH, CTXH, phúc lợi xã hội và tương tế xã hội, cá nhân dành dụm tích lũy để
bảo đảm và phát triển chế độ y tế hợp tác tại nông thôn (BHXHVN 2000) [6].
Thứ hai, những nghiên cứu liên quan đến vai trò của Nhà nước trong việc
phối hợp các chính sách kinh tế - xã hội với chính sách ASXH đối với nông dân.
8
Steffen Abele và các cộng sự (2003) khi phân tích hệ thống ASXH đối với
nông dân của các nước thành viên các nước đông Âu (CEE) đã đề cập đến hệ thống
lương hưu và bảo hiểm thất nghiệp cũng như các khoản trợ cấp cho đối tượng nông
dân. Trong nghiên cứu này, các học giả đã trình bày sự phối hợp giữa các hợp phần
đảm bảo ASXH và các chính sách đối với nông dân nhằm đảm bảo cho việc thực
hiện ASXH trong điều kiện biến động về dân số, lao động và rủi ro kinh tế. Nghiên
cứu này chỉ ra, để đảm bảo ASXH, đặc biệt là ASXH cho nông dân thì những hỗ trợ
đối với hoạt động nông nghiệp, chính sách đất sản xuất, hỗ trợ làm việc bán thời
gian và đặc biệt là chính sách thuế cần phải được quan tâm [113] Quan điểm này
cũng có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của Tổ chức Lao động Thế giới
(ILO) khi mà tổ chức này cho rằng, để đảm bảo ASXH, thì các chính sách liên quan
đến hỗ trợ thu nhập, giảm thiểu rủi ro về môi trường và điều kiện làm việc, chính
chất lượng cuộc sống cho người dân. Chính vì thế, từ khi tiến hành đổi mới đến nay,
đã có rất nhiều đề tài, chương trình, dự án liên quan trực tiếp, gián tiếp đến vấn đề
ASXH cho người dân cũng như vai trò của Nhà nước về ASXH đối với người dân
nói chung, trong đó có nông dân đã được thực hiện dưới sự tài trợ của Chính phủ,
các tổ chức quốc tế như UNDP, ILO, World Bank, UNPFA,… Để phù hợp với chủ
đề nghiên cứu này, chúng tôi xin được tổng quan các công trình nghiên cứu trong
nước thành ba nhóm chính như sau:
Nhóm thứ nhất: Những nghiên cứu liên quan về các hình thức tham gia của
nông dân vào ASXH ở Việt Nam.
Các nghiên cứu liên quan đến các hình thức tham gia của nông dân vào hệ
thống ASXH, hay các hợp phần ASXH.
Từ trước đến nay ở Việt Nam những khái niệm về ASXH chủ yếu đi theo
quan điểm của ILO, tuy nhiên tùy vào từng giai đoạn phát triển cụ thể mà các nhà
nghiên cứu có những bổ sung phù hợp với những yêu cầu về ASXH trong quá trình
phát triển của xã hội.
Nguyễn Hải Hữu (2008) đã chỉ ra các hợp phần của hệ thống ASXH bao gồm:
BHXH, BHYT, chính sách việc làm và thất nghiệp, chương trình trợ giúp đặc biệt (thương
binh, liệt sĩ, người có công), chương trình TGXH (thường xuyên và đột xuất) [50].
Nguyễn Văn Định (2008) lại cho rằng các hợp phần của hệ thống ASXH bao
gồm: BHXH, cứu trợ xã hội, quỹ dự phòng, các dịch vụ xã hội, xóa đói giảm nghèo
(XĐGN) và ƯĐXH; trong hệ thống ASXH nhà khoa học này coi BHYT là một bộ
phận thuộc BHXH [42].
Dựa trên mô hình ESCAP và các quan điểm gần đây của các nhà tư vấn quốc
tế, Nguyễn Hữu Dũng (2012) đã đề xuất “Có thể lựa chọn hệ thống chính sách
ASXH theo mô hình ba cấp độ”.
10
Cấp độ 1: BHXH gồm BHYT, bảo hiểm tại nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp, người lao động nghỉ hưu và người lao động thất nghiệp.
Cấp độ 2: Chính sách thị trường lao động gồm dạy nghề, đào tạo lại, tạo việc
Trong công trình nghiên cứu về Chính sách an sinh xã hội với người nông
dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)
Nguyễn Văn Nhường (2011) đã cho rằng ASXH gồm 6 hợp phần quan trọng có ảnh
hưởng trực tiếp tới người nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
gồm: (i) Chính sách đền bù, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; (ii) Chính sách đào tạo
nghề và giải quyết việc làm; (iii) Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện; (iv) Chính
sách bảo hiểm y tế tự nguyện; (v) Chính sách trợ giúp xã hội; (vi) Chính sách hỗ trợ
xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn [56].
Nhìn chung các quan niệm trên hiểu ASXH theo nghĩa rộng, nhiều chính
sách thuộc về các lĩnh vực chính sách xã hội ngoài ASXH như chính sách việc làm,
thu nhập, giảm nghèo, cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản khác như nhà ở, giáo
dục, y tế, nước sạch, vệ sinh môi trường và thông tin.
Trong một nghiên cứu khác của Mai Ngọc Cường (2012) về hệ thống
ASXH, tác giả đề cập đến hệ thống ASXH ở phạm vi khác hơn. Theo tác giả hệ
thống ASXH bao gồm ba trụ cột là:
1) ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng bao gồm BHXH, BHYT và bảo
hiểm tự nguyện;
2) ASXH không dựa vào đóng góp mà dựa vào sự trợ giúp của Nhà nước và
cộng đồng bao gồm trợ giúp xã hội thường xuyên (TGXHTX), trợ giúp xã hội đột
xuất (TGXHĐX);
3) ASXH cộng đồng bao gồm các khoản TGXH tự nguyện của các tổ chức
xã hội, doanh nghiệp, cá nhân trong xã hội giúp người dân gặp rủi ro và an sinh xã
hội tự nguyện (ASXHTN) của người dân khu vực phi chính thức, trước hết là do
nông dân tự nguyện tổ chức, tham gia và quản lý, có sự hướng dẫn của Nhà nước và
được pháp luật bảo vệ theo mô hình BHXH nông dân Nghệ An [36, tr.42].
Như vậy, quan niệm của Mai Ngọc Cường về hệ thống ASXH nói chung, đối
với nông dân nói riêng có điểm hẹp hơn lại có điểm rộng hơn so với nhiều nghiên
cứu hiện nay. Hẹp hơn là ở chỗ coi ASXH chỉ bao gồm các hình thức BHXH,
BHYT, bảo hiểm tự nguyện (BHTN) và các hình thức TGXH, chứ không đi rộng ra
các chính sách xã hội khác. Nhưng rộng hơn là ở chỗ đưa ASXH cộng đồng bao
công trình nghiên cứu khác như Dương Đăng Chính và Vũ Đình Ánh (2003), với
công trình “Cơ chế và chính sách đối với hệ thống ASXH ở Việt Nam”, khi đề xuất
các kiến nghị về cơ chế, chính sách đối với hệ thống ASXH ở Việt Nam, các tác giả
đã đề cập đến việc hoàn thiện cơ chế tài chính BHXH, cơ chế tài chính BHYT và
đổi mới cơ chế tài chính đối với các quỹ an toàn xã hội khác”; những đề xuất này có
liên quan đến vai trò hoàn thiện cơ chế, chính sách của Nhà nước [28].
13
Trong công trình nghiên cứu của Phạm Trường Giang (2010) về Hoàn thiện
cơ chế thu bảo hiểm xã hội ở Việt Nam tác giả cũng đề cập đến vai trò của Nhà
nước dưới góc độ các giải pháp để hoàn thiện quy định thu, tăng cường quan hệ
công chúng, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát thu BHXH [43].
Trong công trình “Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng ở
Việt Nam”, Nguyễn Ngọc Toản (2011) đã đề xuất với Nhà nước hoàn thiện chính
sách trợ giúp theo hướng chuyển từ quan điểm chính sách nhân đạo sang chính sách
bảo đảm thực hiện quyền cho đối tượng hưởng lợi, đồng thời phải bảo đảm sự
tương đồng với các chính sách xã hội khác trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội và
cải cách thể chế hành chính. Để làm được điều đó, tác giả cho rằng cần mở rộng đối
tượng hưởng lợi nhằm bao phủ toàn bộ dân cư khó khăn, đề xuất mức chuẩn trợ cấp
tối thiểu áp dụng từ năm 2011 là 315.000 đồng/tháng (70% mức sống tối thiểu dân
cư) và các hệ số xác định mức trợ cấp đối với mỗi nhóm đối tượng cụ thể, đa dạng
các hình thức chăm sóc, nghiên cứu xây dựng luật TGXH và hoàn thiện kế hoạch
chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng [89].
Hoàng Bích Hồng (2011) trong “Hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội tai nạn
lao động và bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam”, sau khi phân tích chế độ bảo hiểm tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hiện nay đã đề xuất một số quan điểm và giải
pháp để hoàn thiện chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như: 1) Sửa đổi luật
trên cơ sở hợp nhất một phần quy định về trách nhiệm bồi thường của người sử
dụng lao động theo Bộ luật Lao động và quy định về trách nhiệm của cơ quan
BHXH theo Luật Bảo hiểm xã hội; 2) Xác định lại tỷ lệ đóng góp cho chế độ tai nạn
Tuy nhiên, việc nông dân tham gia vào các hình thức an sinh không thể tách
rời vai trò của Nhà nước trong trợ giúp về tài chính. Có nhiều nghiên cứu liên quan
đến cơ chế, chính sách trợ giúp để người nông dân tham gia ASXH. Những công
trình đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống ASXH nói chung, ASXH đối với nông dân nói riêng ở nước ta những năm
qua và cũng là tài liệu tham khảo rất tốt cho tác giả để nghiên cứu vai trò của Nhà
nước về ASXH đối với nông dân, chẳng hạn, công trình của Mai Ngọc Cường
(2009) [35] hoặc Mai Ngọc Anh (2010) đã đề xuất đến việc Nhà nước hỗ trợ 50%
mức đóng góp để người nông dân có điều kiện tham gia vào hệ thống ASXH
(BHXHTN và BHYTTN) [2].
Các giải pháp liên quan đến việc tăng cường vai trò của Nhà nước trong công
tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân về ASXH cũng đã
được nhiều nghiên cứu đề cập đến, như Nguyễn Trọng Đàm (2012), Phạm Xuân
Nam (2012), Phạm Trường Giang (2010), Hoàng Bích Hồng (2011), Phạm Đỗ Nhật
Tân (2008)
,
Đỗ Văn Sinh (2005),…
15
Dù các cách tiếp cận có khác nhau, nhưng các nghiên cứu đều có ý tưởng
chung là Nhà nước cần có những chủ trương, chính sách, hình thức và biện pháp
như thế nào để giúp người nông dân có thể tham gia vào hệ thống ASXH, được
hưởng thụ lợi ích ASXH mang lại, trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam còn kém
phát triển, thu nhập của người nông dân thấp, khó có khả năng tham gia vào hệ
thống đóng - hưởng. Thực tế cho thấy, tỷ lệ nông dân tham gia vào hệ thống bảo
hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) và bảo hiểm y tế tự nguyện (BHYTTN) còn rất
thấp. Mặc dù Nhà nước có chính sách hỗ trợ người dân tham gia BHXHTN và
BHYTTN nhưng đến nay, sự tham gia của đối tượng này còn rất khó khăn, do thu
nhập của người nông dân quá thấp; trong khi đó, các hình thức ASXH cộng đồng
chưa được coi trọng đúng mức. Do đó, sự phát triển hệ thống ASXH phù hợp đối
nhau của các nhà khoa học, các tổ chức trong và ngoài nước về ASXH, từ đó chỉ ra
những mô hình đảm bảo ASXH cho người dân của các quốc gia khác nhau trên thế
giới, các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của hệ thống này, rút ra các bài học
cho Việt Nam. Trên cơ sở phân tích thực trạng vai trò của Nhà nước về ASXH đối
với nông dân Việt Nam, qua thực tiễn ba tỉnh miền Trung giai đoạn 2006-2010, kết
hợp với bài học kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, Luận án sẽ đưa ra các
giải pháp để tăng cường vai trò của Nhà nước về ASXH đối với đối tượng này trong
giai đoạn tới.
Từ khái quát đến cụ thể: Để làm rõ vai trò của Nhà nước về ASXH đối với
nông dân Việt Nam, Luận án tiến hành nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất của hệ
thống ASXH, các trụ cột của hệ thống này mà nông dân tham gia, nội dung và điều
kiện thực hiện vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân. Đồng thời, để
minh họa cho thực tiễn thực hiện vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân
Việt Nam, Luận án kết hợp những tài liệu chung của cả nước với tình hình thực
hiện vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân Việt Nam qua 3 tỉnh miền
Trung là Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh.
Các tiếp cận liên ngành: Vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân
không phải chỉ là trách nhiệm của Bộ và các Sở Lao động, Thương binh và Xã hội
mà còn là trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan như Giáo dục, Y tế, Tài
chính, Kế hoạch và Đầu tư… cũng như các đơn vị chức năng trực thuộc sự quản lý
của các phòng, ban này. Đồng thời các mục tiêu về ASXH, y tế, giáo dục, hay
XĐGN… muốn đạt được cũng không chỉ phụ thuộc vào trách nhiệm và năng lực
của các bộ, sở chủ quản, mà còn là sự phối kết hợp trong tổ chức triển khai hoạt