Đề tài : Các khuynh hướng cơ bản của lý luận văn học hiện đại trên thế giới và việt nam - Pdf 13


1 BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC KX03/06-10 Đề tài: CÁC KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN
CỦA LÝ LUẬN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Mã số:KX.03.04/06-10
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chủ nhiệm đề tài:GsTsKh BÙI VĂN BA
Cơ quan chủ trì:ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

7882
22/4/2010

3 MỤC LỤC:

Mở đầu:Mục đích và phương pháp luận nghiên cứu T.4
PHẦN MỘT: LÝ LUẬN VĂN HỌC THẾ GIỚI THẾ KỶ XX 8

Chương Một:Lý luận văn học Âu Mỹ thế kỷ XX 8
Chương Hai:Lý luận văn học Nga và Đông Âu thời hậu Xô-viết
53
Chương Ba:Lý luận văn học Trung quốc thời Cải cách mở cửa 77

PHẦN HAI:LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX 97

Chương Bốn:Lý luận văn học Việt nam giai đoạn1900-45 98
Chương Năm:Lý luận văn học Việt nam giai đoạn1945-85 128
Chương Sáu:Lý luận văn h
ọc Việt nam thời kỳ Đổi mới sau1986 154

PHẦN BA;CÁC GIẢI PHÁP CHO CON ĐƯỜNG HIỆN ĐẠI HÓA
LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY 174

Chương Bảy:Xác lập phương hướng Dân tộc-hiện đại

nhiên tinh hoa thi học của dân tộc và nhân loại là vô cùng, nhưng trước mắt hãy bắt
tay từ thế kỷ XX như mục đích và yêu cầ
u của đề tài này là một bước khởi đầu cực
kỳ quan trọng và bức thiết.
Về mặt phương pháp nghiên cứu,thì trước hết không phải ở chỗ tuyên bố
suông những phương pháp mới lạ, mà ở chỗ có vận dụng nó một cách thích hợp và
hữu hiệu vào đối tượng nghiên cứu hay không? Việc nghiên cứu lý luận văn học
hiên nay ở nước ta thường phiến diện và sai lạc chỉ
vì không nghiêm túc quán triệt
những phương pháp nghiên cứu cơ bản.Cho nên ở đây dù chỉ xem như những thí dụ
giản đơn cũng cần lưu ý lai những phương pháp thông dụng như sau:
+ Phương pháp hệ thống: Phải xem đối tượng nghiên cứu như một hệ thống,
thì điều sơ khởi là phải khảo sát cho hết những thành phần và những yếu tố cơ bản
của nó. Thí dụ
nói phải tiếp thu tinh hoa lý luận văn học thế giới thì đúng quá,

5
nhưng thế giới không phải chỉ có phương Tây, mà còn có phương Đông. Ngay riêng
lý luận văn học phương Tây trong thế kỷ vừa qua cũng có đến hơn vài mươi trường
phái cơ bản. Tránh lối xuất phát từ sự dị ứng nào đó đối với tình hình trong nước,
rồi tìm được một sự đối lập từ một trường phái nào đó ở phương Tây để thổi phồng
b
ơm to nó lên cho đó hầu như là toàn bộ lý luận phương Tây. Thật ra ở phương Tây
đâu chỉ có loại lý luận tiếp cận nội tại từ văn bản (Chủ nghĩa hình thức, Phê bình
mới, Chủ nghĩa cấu trúc.v.v…), mà còn có nhiều loại hình lý luận tiếp cận văn học
từ hiện thực đến chủ thể sáng tạo cũng như chủ thể tiếp nhận, qua các chuyên
ngành xã hội h
ọc, tâm lý hoc., văn hoá học.v.v…Không nên lúc nào quên rằng lý
luận phương Tây thế kỷ XX lắm trường phái như thế,cho nên trường phái này phê
phán trường phái kia là bình thường. Cho nên nếu bây giờ chúng ta ca ngợi một

Trung quốc, bởi vì ở đây còn có những sự khu biệt về lịch sử và tâm lý dân tộc. Thứ
hai là Thi học so sánh xuyên văn hoá (Intercultural comparative poetics) rất thích
hợp với việc so sánh thi học giữa ta với Nga (hiện nay) và nhất là Âu Mỹ, vì khác
biệt về ý thức hệ và ngọn nguồn văn hoá. Nhưng cũng chớ thổi phồng sự khác biệt,
vì ở đây vẫn có nh
ững quy luật chung về tiến trình lịch sử và tâm lý nhân loại, nghĩa
là vẫn có những khía cạnh tương thích trong hấp thu, miễn là phải tinh tế trong việc
vượt qua những khác biệt về ngọn nguồn văn hoá và ý thức hệ…
Nói rộng vấn đề ra, thì cần phải thấy thêm đề tài này buộc phải tiếp cận với
nhiều hiện tượng lý luận đông tây vốn không thể cùng khuynh hướng quan điểm vớ
i
chúng ta,thì phương pháp tư tưởng bao trùm là phải như thế nào? Không gì tốt bằng
ra sức học tập thái độ của các tác gia kinh điển đối với các hệ tư tưỏng khác, chẳng
hạn đối với triết học Hégel thì vứt bỏ chủ nghĩa duy tâm dù là duy tâm khách
quan,nhưng gạn lọc lai “hạt nhân hợp lý” là phép biện chứng. Anghen có nói rõ là
triết học Hégel mang kết cấu duy tâm” chỉ ở bộ xương và khung tứ chi trong toà
kiến trúc c
ủa nó; nhưng chỉ cần mọi người không dừng bước trứơc nó một cách vô
vị,mà đi sâu vào toà lâu đài sẽ phát hiện ra vô số châu báu mang giá trị dồi dào cho
mãi đến ngày nay”. Đánh giá chủ nghĩa duy tâm thông minh vẫn tốt hơn chủ nghĩa
duy vật ngu xuẩn, Lênin khẳng định: “Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thô lổ,
giản đơn, siêu hình, thì chủ nghĩa duy tâm triết học chỉ là một sự ngu xuẩn. Trái lạ
i,
theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì chủ nghĩa duy tâm triết học
chỉ là một sự phiến diện thái quá (một sự thổi phồng bơm to) của một trong những
đặc trưng, của một trong những mặt, của một trong những giới hạn của nhận thức
thành một cái tuyệt đối, tách rời khỏi vật chất, khỏi giới tự
nhiên, thần
thánhhoá”(Bút ký triết học). Nên chi, nếu đứng vững trên mảnh đất thực tiễn, tước


rộng,cho nên thật ra có hàm chứa một hệ thông đối tượng khác nhau về cấp độ và
bình diện,do đó những khía cạnh phương pháp cụ thể sẽ được hoà tan trong khikhả
o
sát những đội tượng đó. Ở phần Mở đầu này chỉ có thể và cần thiết nêu lên những
điều tổng quát nhất mang tính chất phương pháp luận chung mà thôi.

8
PHẦN MỘT. LÝ LUẬN VĂN HỌC THẾ GIỚI THẾ KỶ XX

Căn cứ theo hướng dẫn của Bộ, Đề tài nhánh I) này gồm 3 tiểu nhánh là Lý
luận văn học Âu Mỹ thế kỷ XX, Lý luận văn học Nga và Đông Âu sau khi Liên xô
giải thể và Lý luận văn học Trung quốc trong thời Cải cách mở cửa.

Chươngm
ột: LÝ LUẬN VĂN HỌC ÂU MỸ THẾ KỈ XX

Trong bản hướng dẫn đấu thầu của Nhà nước về đề tài này, riêng phần lý
luận văn học phương Tây thì “yêu cầu” phải viết cả suốt thế kỷ XX, nhưng lại với
muc tiêu chủ yếu là”làm rõ các khuynh hướng từ 20 năm cuối tk đến nay”. Như thế
phần đầu khoảng 2/3 thế kỷ XX mà sau đây sẽ gọ
i là I) Lý luận văn hoc hiên đại
vẫn phải viết, nhưng chỉ nên ngắn gọn (chỉ 2 chuyên đề), vả chăng lý luận văn học
hiện đại phương Tây dù sao cũng đã tương đối quen thuộc ở ta. Ngay trong nhóm
nghiên cứu chung tôi vốn cũng đã có công trình khá dày dặn về mặt này,nay không
nên lặp lại. Tất nhiên ngắn gọn không có nghĩa là tóm tắt sơ lược, mà phải có sự
khái quát nâng cao về đặc đ
iểm và diễn biến, nhất là về những loại hình cơ bản của

khuynh hướng chủ đạo, tất nhiên có chỗ giao thoa nhau là “thiên nhân bản”và “thiên
khoa học”, và đều đã manh nha từ cuối tk XIX. Schopenhauer và Nietzsche đã xây
dựng hệ thống triết học và mỹ học duy ý chí (Voluntarism) mở đầu cho khuynh
hướng xuất phát từ con người sinh tồn thực tế với những trạng thái hoặc yếu tố tâm lý
của nó, để xây dựng những khái niệm hạt nhân của hệ thống tri
ết học hoặc mỹ học
phi lý tính chống lại Hégel. Từ đây các trào lưu lý luận phê bình “thiên nhân bản”
dồn dập ra đời đầu tk XX: chủ nghĩa trực giác của H. Bergson với khái niệm hạt nhân
“trực giác”, phân tâm học của Freud với khái niệm hạt nhân là “vô thức bản năng”,
tâm phân học của K.G.Zung với khái niệm hạt nhân là “vô thức tập thể”.v.v Mặt
khác, cũng ngay giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa thực ch
ứng của A.Comte lại phê phán
khía cạnh tư biện siêu hình của Hégel,chủ trương xây dựng lại triết học dựa trên sự
khảo sát thực chứng mang tính chất khoa học chủ nghĩa (scientiste). Trường phái
văn hoá - lịch sử của H.Taine là dựa trên cơ sở triết học này, cho rằng những động
lực chung cho sự phát triển văn hoá nghệ thuật bao gồm chủng tộc, môi trường ,thời
điểm và đề
u là những thứ có thể khảo chứng được. Nhưng tư tưởng thực chứng này

10
đến tk XX đã diễn biến thành hai dạng. Dạng thứ nhất là thực chứng từ kinh
nghiệm, thí dụ chủ nghĩa kinh nghiệm tự nhiên của J.Dewey, cơ sở triết học của
trường phái lý luận phê bình thực dụng chủ nghĩa v.v… Dạng thứ hai là thực chứng
từ ngôn ngữ, thí dụ chủ nghĩa logic thực chứng, cơ sở triết học của trường phái lý
luận phê bình Ngữ
nghĩa học v.v …
2) Một nền lý luận phong phú và đa dạng
.
Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX gắn bó với những loại triết
học khác nhau: chủ nghĩa trực giác, chủ nghĩa hiện sinh, hiện tượng luận v.v Nhưng

cảnh tượng “bách gia tranh minh” với các trường phái như chủ nghĩa biểu hiện của
B.Croce, chủ nghĩa trực giác của B.Bergson, chủ nghĩa hình thức Nga c
ủa
Jakobson và Sklovsky, phân tâm học của S.Freud, tâm phân học của K.G.Jung,
ngữ nghĩa học của I.A.Richards v.v…Tuy nhiên trong cái muôn màu muôn vẻ
đó, cũng có thể thấy ngay trong giai đoạn này, người ta thường tập trung vào chủ
thể sáng tạo, và thiên về phương diện phi lý tính. Về bản thể nghệ thuật, nhiều kiến
giải có xu hướng thiên về hình thức hơn v.v…
b)Giai đoạn từ đầu những năm 30 đến đầu những nă
m 60.
Ngoài một số trường phái cũ vẫn tiếp tục phát triển,nhiều trường phái mới
chính thức xuất hiện như: Mỹ học phân tích, Hiện tượng luận, Chủ nghĩa hiện sinh.
Chủ nghĩa thực dụng, Mỹ học phân tích,trường phái Gestalt v.v , mà nếu tổng hợp
lại sẽ thấy dồi dào phong phú hơn các giai đoạn khác. Hơn nữa chính trong ba mươi
năm này, tỉ lệ các trường phái gây
ảnh hưởng sâu rộng nhất như Mỹ học phân tích,
Hiện tượng luận, Chủ nghĩa hiện sinh, Chủ nghĩa cấu trúc v.v… cũng chiếm tỉ lệ
nhiều nhất, chứng tỏ đây là giai đoạn cực thịnh của lý luận văn nghệ hiện đại
phương Tây thế kỷ XX
c) Giai đoạn từ cuối những năm 60 đến nay.
Nếu vượt khung thế
kỷ, phân chia theo tính chất của thời đại, thì lý luận văn
nghệ phương Tây hiện đại cũng gồm ba giai đoạn và cũng trọn một thế kỷ, nhưng
bắt đầu từ giai đoạn manh nha vào nửa sau thế kỷ XIX đến hết giai đoạn hai. Tiếp
theo giai đoạn ba này là quá độ sang thời kỳ hậu hiện đại (Post – modern) tương
ứng với xã hội hậu công nghiệp, và ch
ủ nghĩa hậu hiện đại trong sáng tác nghệ
thuật. Nói quá độ tức là vẫn còn tình trạng”cài răng lược”, giao thoa, tất nhiên càng
về sau, thì lý luận hậu hiên đại mới độc chiếm hẵn luận đàn: chủ nghĩa giải cấu
trúc,chủ nghĩa lịch sử mới, chủ nghĩa hậu thực dân,chủ nghĩa nữ quyền.v.v sẽ giành

tính chất quá độ là trường phái Văn hoá lịch sử của Hypolyte Taine như đã nói ở
trên. Nửa đầu tk 20, Chủ nghĩa thực dụng trong Mỹ học của J.Dewey thì cho rằng
thẩm mỹ và nghệ thuật chẳng qua là sự chưng cất những kinh nghiêm trong thực
tiễn đời sống. Chủ nghĩa hiên sinh thật ra cũng gắn chặ
t văn học với hiện thực đời
sống, chẳng qua là chủ trương trước hết phải tái hiện tồn tại thực tế của con
người.v.v…

13
b) Xã hội học văn học vi mô - Trường phái Bordeaux.
Đây không phải chỉ là tiếp cận văn học từ xã hội, mà hơn thế nữa là còn phải
dùng những kí thuật và phương pháp xã hội học để nghiên cứu văn học. Nó chỉ ra
đời vào nửa sau thé kỷ XX mà tiêu biểu là trường phái Bordeaux của R.Escarpit.
Khái niệm trung tâm của trường phái này là sự thật văn học, bao gồm nhà văn,sách
báo và bạn đọc theo các khâu sả
n xuất,truyền bá và tiêu thụ. Về sản xuất văn học,
R.Escarpit tập trung vào vấn đề nhà văn,và cho thấy danh hiệu nhà văn được xác
nhận phổ biến ở khoảng bốn mươi tuổi. Còn một thế hệ nhà văn thường theo chu kỳ
ba mươi năm. Phân biệt nhà văn theo vùng địa văn hoá cũng là cần thiết và có ý
nghĩa. Về truyền bá văn học, R.Escarpit tập trung vào khâu xuất bản và phát hành.
Sự
hình thành nhà xuất bản là cả một quá trình.Ban đầu nơi in ấn đóng luôn vai trò
xuất bản,đến cuối thế kỷ XVI mới tách ra, nhưng cũng phải đến nửa sau thế kỷ
XVIII, thì nhà xuất bản mới hình thành với chức năng tổng hợp. R.Escarpit nêu ra
khái niệm “vòng phát hành” nhằm hướng công viêc xuất bản cho sát đối tượng. Nó
có nhiều bình diện, như về giới tính và về giai cấp.v.v , nhưng quan trọng nhất là
“vòng công chúng’’ và “vòng vă
n nhân”.Cái trước trình độ thấp, nhưng số lượng
nhiều thường bị nhà xuất bản khai thác vì lợi nhuận. Cái sau trình độ cao, nhưng số
lượng ít, lợi nhuận thấp. Về tiêu thụ văn học, R.Escarpit có nhận xét rằng nhà văn

c hoàn chỉnh. Ông phân biệt cuộc sống bên ngoài và cuộc sống bên
trong với “cái đà sống”, và con người với “cái tôi bề mặt” và “cái tôi bề sâu”. Vì
nhu cầu mưu sinh, lí trí và tình cảm con người bình thường chỉ dừng lại ở cuộc sống
bên ngoài với những “cái tôi bề mặt” theo những lợi ích thiết thực, do đó không
nhận thức được toàn diện thực tại. Nhưng chính “cái đà sống”, “cái tôi bề sâu”
mang “tính cá thể đích thực, dù vô ích” mớ
i làm nên vẻ đẹp. Và chỉ có nghệ sĩ với
năng lực trực giác mới có thể thâm nhập được vào vẻ đẹp đó.
d) Phân tâm học (Psychoanalysis). S.Freud và môn đệ cho rằng tác phẩm nghệ
thuật chẳng qua là kết quả của việc thăng hoa những ẩn ức tính dục trong vô thức,
và nghệ sĩ là người trong tâm tưởng luôn luôn bị ám ảnh bởi loại dục năng đó. Chỉ
nhữ
ng ai, nhất là nữ giới, không thoả mãn được nhu cầu mạnh mẽ đó, thì mới có
điều kiện trở thành nghệ sĩ. Bởi vì tính dục của họ bị dồn nén, ẩn ức, như nước sông
bị đập chắn, phải tìm chỗ thoát bớt ra bằng cách chuyển hoá sang hoạt động nghệ
thuật. Tác phẩm nghệ thuật, do đó, chẳng qua là những hình ảnh tượng trưng cho sự
chuyể
n dịch bản năng tính dục đó.

15
e) Tâm phân học (Analytical psychology). Khác với S.Freud,K.G.Jung cho
rằng trong vô thức bản ngã không phải chỉ có tính dục và nó chỉ là một lớp tâm lí rất
mỏng nằm ngay dưới ý thức, có khả năng chuyển hoá rất nhanh thành ý thức, song
đó cũng chỉ là vô thức cá thể. Bên dưới đó còn có lớp “vô thức tập thể” cực dày, bắt
nguồn từ những kinh nghiệm lịch sử của chủng tộc và nhân loại, thậm chí còn có
gố
c gác cả đến những hoạt động nguyên thuỷ tiền nhân loại. Chính đây mới là
những nhân tố mơ hồ u u minh minh, nhưng rất thâm căn cố đế quyết định hành vi
con người. K.G.Jung không phủ nhận văn học có thể biểu hiện ý thức và vô thức cá
thể, nhưng cho đó là “loại hình tâm lí” không đáng đề cao. Văn học chân chính và vĩ

trong văn bản, mà còn có ngữ cảnh ngoài văn bản, đó là hoàn cảnh phát ngôn,bao
gồm cả những sự việc đồng hiện vói văn bản, thậm chí là đã xảy ra trong quá khứ,
miễn là có liên quan đến một khía cạnh nào đó với ngôn ngữ trong văn bản mà
người đọc có thể liên tưởng đến. Tác phẩm văn thơ chan chứa những ngôn ng
ữ khơi
gợi tình cảm như vậy.
c) Phê bình mới (New criticism) .Trường phái này xem đối tượng của phê
bình là bản thân tác phẩm, trọng điểm của phê bình là hình thức , và phương pháp
phê bình là giải thích ngôn ngữ. Nhưng khái niệm then chốt của Phê bình mới là văn
bản. Song nếu chủ nghĩa cấu trúc tuy cũng đột xuất lên khái niệm văn bản, nhưng
đặt trọng điểm ở việc tổ
chức, sắp xếp, kết cấu, thì Phê bình mới đặt trọng điểm của
văn bản ở sự đan dệt ngôn từ đấy ẩn ý qua những ngữ cảnh nhất định. Phê bình mới
kiên quyết phản đối lấy động cơ và ý đồ của nhà văn làm căn cứ đánh giá tác phẩm và
cho đó là hội chứng ngộ nhận ý đồ. Nhà văn muốn nói và nói được bao gi
ờ cũng có
một khoảng cách, có khi là quá xa. Cũng vậy, phê phán hội chứng ngộ nhận cảm thụ,
các nhà phê bình mới cho rằng nếu cứ chú tâm vào cảm thụ của người đọc, thì đã lẫn
lộn giữa tác phẩm văn học với những tác động của nó.
d) Chủ nghĩa cấu trúc(Structuralism).Xem tác phẩm văn học chẳng qua là một
loại mô thức của việc viết văn, căn c
ứ thuần tuý trên những quy phạm và nguyên tắc
văn học, theo những cách tổ hợp khác nhau của các yếu tố mà cấu tạo nên.Yếu tố
phải là những yếu trong quan hệ, nó chỉ được xác định ý nghĩa qua những sai biệt
hoặc đối lập trong toàn bộ cấu trúc. Nhà văn cũng được gọi là “chủ thể”, nhưng
hoàn toàn không chịu trách nhiệm về những ý đồ của mình. Chủ nghĩa cấu trúc rấ
t
chú ý thể loại tự sự, và dần dần xây dựng nên chuyên ngành tự sự học(Narratologie)

17

khi đọc tác phẩm văn học, bao giờ họ cũng có trước một “dự kiến ý nghĩa”. Qua đối
thoại sẽ đạt được một “sự dung hợp tầm nhìn” giữa chủ thể và đối tượng giải thích.
c) Mỹ học tiếp nhận (Receptive esthetics) cho rằng nếu văn học tồn tại vì xã
hội, thì cần phải xem xét tác động cụ th
ể của nó qua công chúng bạn đọc ra sao. Bất
kì người đọc nào cũng có “tầm đón” riêng của mình, hình thành trên cơ sở kinh

18
nghiệm sống, trình độ văn hoá, tính cách và khí chất của riêng mình, cho nên sự
tiếp nhận sẽ là muôn màu muôn vẻ. Tuy nhiên sự tiếp nhận sẽ quy về hai trục chính.
Tiếp nhận ngang là của những người đọc, hoặc nhóm người đọc và giai tầng xã hội
khác nhau đối với cùng một tác phẩm trong một thời điểm lịch sử nhất định. Tiếp
nhận dọc là tình hình tiếp nhận qua các thờ
i đại với cùng một tác phẩm. Với tinh
thần trên ông đã chủ trương viết lịch sử tiếp nhận văn học là chủ yếu, chứ không
dừng ở lịch sử sáng tác văn học. Nếu H.R.Jauss nghiên cứu sự tiếp nhận vĩ mô, thì
Wolfgang Iser nghiên cứu sự tiếp nhận vi mô, nghĩa là chỉ tập trung nghiên cứu vấn
đề tiếp nhận trong một hoạt động đọc cụ thể
bao gồm văn bản và người đọc. Ông
xem văn bản như một “kết cấu vẫy gọi”, trước hết bao gồm “những điểm trắng” để
người đọc đến lấp đầy. “Kết cấu vẫy gọi” còn mang “tính phủ định”, tức là “những
khoảng cách” về tư tưởng ít nhiều có tác dụng khiêu khích với những quan niệm
vốn có về các mặt chính trị, triết lí,
đạo đức, thẩm mĩ v.v… Ngoài ra “kết cấu vẫy
gọi” còn chứa đựng “người đọc tiềm ẩn” (implied reader), tức là bóng dáng người
đọc trong mong muốn mà chắc chắn khó trùng khớp với người đọc trong thực tế.
Bất kì hoạt động đọc nào cũng không thể thoát li thời điểm, tách rời được sự đối
thoại với quá khứ và tương lai, do đó phải luôn luôn thay đổi điểm nhìn, tạo nên cho
được một “trường nhìn lưu động”. Đọc tác phẩm là giao lưu, nhưng không phải giao
lưu trực diện, không có phản hồi để đối chứng, cho nên không thể nói có chuyện

là ý thức nhằm che đậy cái được biểu đạt là những dục vọng vô thức bên trong với
tư cách là những động lực luôn luôn có ý hướng muốn chi phối, bôc lộ, cho nên tất
yếu sẽ tạo nên những khoảng trống, những độ vênh, những chỗ nhấn trong dây
chuyền của cái biể
u đạt. Tính hệ thống của những điều này làm nên cấu trúc ngôn
ngữ của cái vô thức.
b) Chủ thể manh nha và song hành cùng vô thức.Trong hệ thống lý thuyết của
J.Lacan có một khái niệm quan trọng là‘’giai đoạn hình ảnh trong gương”.Trẻ con
mấy tháng tuổi chưa có cảm giác hoàn chỉnh về chính thân thể của mình, xem tay
chân như những vật thể bên ngoài, nghĩa là gần như hoàn toàn vô thức. Khi trẻ con
chừng sáu tháng thấy ảnh trong gươ
ng di động theo bản thân thì rất thích thú, liền
bò tới sát gương sờ soạng lên ảnh như muốn biết đây là ai, rồi vô cùng hoan hỉ dần
dần cảm thấy được đó chính là mình. Đó là bước quá độ đầu tiên từ vô thức chuyển
sang ý thức, nhưng chưa phải là ý thức hoàn toàn, bởi vì ảnh trong gương vẫn là ảo
ảnh, chứ đâu phải là bản thân đích thực của trẻ. Thật ra khái niêm “hình ả
nh trong
gương” của J.Lacan cũng có tính chất ẩn dụ. Theo nghĩa rộng nó chính là một “kẻ

20
khác” rất thiết thân, qua họ, có thể nhận biết thêm bản thân mình. J.Lacan gọi “hình
ảnh trong gương” là “thế giới tưởng tượng” theo nghĩa trẻ con tưởng là thật một
điều không có thật. Nói theo danh từ là trẻ con đã đem cái được biểu đạt là mình
gán ghép trên cái biểu đạt là hình ảnh trong gương, và do đó, chủ thể vẫn lẫn quất
trong thế giới vô thức. Nhưng chả bao lâu, trẻ con biết nói, và thế là giai đo
ạn hình
ảnh trong gương được tiếp nối bằng giai đoạn ngôn ngữ, và J.Lacan cho rằng “thế
giới tưởng tượng” bắt đầu chuyển hoá sang “thế giới tựơng trưng”.Vì ngôn ngữ là
một hệ thống ký hiệu, nhờ đó con trẻ ngày càng biết đươc xiết bao điều trong thế
gian rộng rãi bao la. Nghĩa là con trẻ đã đi dần vào đời sống văn hoá xã hội, qua đó

trực tiếp đến lĩnh vực này. Chẳng hạn sự nhầm lẫn một cách vô thức giữa cái Tôi
với t
ư cách chủ ngữ trong câu nói với cái Tôi với tư cách chủ thể phát ngôn nói trên
đó giúp ích rất nhiều trong việc phân biệt giữa tác giả với nội dung tác phẩm ngay ở
chủ nghĩa lãng mạn và thơ trữ tình là những phương pháp và thể loai thường xuất
hiên đại từ Tôi . Đặc biệt vì cho vô thức luôn song hành với ý thức, cho phê bình
phân tâm học chẳng qua là “phương pháp lột trần những trá hình chủ quan”, Lacan
thường chú ý hiện tượng vì để lừa ngườ
i mà phải tự lừa mình. Để thuyết minh điều
này, J.Lacan nêu lại hai cảnh có phần trùng lặp trong Lá thư bị đánh cắp của E.Poe.
Qua đây, ông lưu ý đến ba cái nhìn khác nhau. Đó là cái nhìn không thấy gì của
hoàng đế. Cái nhìn thứ hai là của hoàng hậu, chỉ nhìn được một người không nhìn
thấy gì, cho nên cứ chủ quan để ngỏ cái mình cần giấu. Thứ ba là cái nhìn của người
thấy luôn được một người khác giả vờ bỏ
ngỏ cái cần giấu, đó là thượng thư. Nhưng
đó là trong cảnh đầu, song đến cảnh sau, thì thượng thư lại biến thành loại người thứ
hai. Vì trước đó, cảnh sát trưởng có đến lục lọi phòng ông ta, mà không phát hiện
được lá thư để ở sọt giấy bên cạnh lò sưởi, cho nên cứ chủ quan để luôn ở đấy.
Nhưng chính lúc thượng thư biến thành loại người thứ hai, thì liền có người khác là
thám tử đóng vai trò người thứ ba. Thì ra người ta có thể che giấu trong từng nơi
từng lúc, chứ trong tương quan và qúa trình, tất yếu sẽ bị lộ. J.Lacan cũng lưu ý
trong truyện của E.Poe không nói rõ thư do ai viết, nội dung nói gì.v.v….Nhưng
điều đó không quan trọng, bởi vì đích thị do ai viết, nội dung xác định như thế nào,
thì cũng trở nên đa nghĩa, bởi vì nó sẽ có những ý nghĩa khác nhau đối với hàng
loạt ng
ười từ hoàng đế, hoàng hậu, thượng thư, đến thám tử và cảnh sát trưởng. Có
thể thấy cách phân tích của J.Lacan đã mở đường cho chủ nghĩa giải cấu trúc,vì đã
chứng minh một cái biểu đạt không tương ứng với một cái được biểu đạt, mà vô
cùng đa nghĩa.


sản ngày nay rất chú ý vừa cải tiến vừa tuyên
truyền rất có hiệu quả cho chế độ tư bản dù có bóc lột thì giai cấp công nhân vẫn
thấy là hợp lý. Lập luận của M.Foucault phảng phất tính chất mác-xít, nhưng không
nên lẫn lộn. Bởi vì ông không bao giờ đặt ra vấn đề truy nguyên cơ sở của quyền
lực là từ đâu, vì quan niệm rằng lịch sử bao gồm vô cùng nhiều những nhân tố ph
ức

23
tạp, tương tác trong các dạng tụ họp, ly tán, trùng lặp và rất khó duy nhất quy về
nhân tố kinh tế, dù là chỉ xét đến cùng! Không chỉ có tài phiệt, mà còn có quân phiệt
và học phiệt v.v…
c) Trách nhiệm với tri thức và quyền lực.Cùng với tri thức và quyền lực,trách
nhiệm cũng là một trọng điểm nghiền ngẫm và suy tư của M. Foucault. Mặc dù
trong từng lúc có thể đột xuất lên một khía cạnh nào đó, như
ng xét trong cả quá
trình nghiên cứu bất kỳ vấn đề gì thì tư duy của M.Foucault đều được đồng hành bởi
ba phương diện đó. Đối với bất cứ đối tượng nghiên cứu nào, ông cũng cũng nêu ra
ba câu hỏi: Tôi biết (savoir) được cái này là thế nào? Tôi có thể (pouvoir) làm được
gì? Tôi phải (devoir) làm ra sao? Trách nhiệm cũng như tri thức và quyền lực đều là
sự cấu thành đặc thù trong một không thời gian nhất đinh, chứ không phải là nhữ
ng
nguyên lý phổ biến. Như thế, tri thức, quyền lực hay trách nhiệm đều có điều kiện.
Nhưng bất cứ điều kiện nào cũng là điều kiện trong những điều kiện nhất định, nó
mang tính lịch sử đặc thù, nhưng không tất yếu, không thể tranh cãi (apodictique),
mà còn có vấn đề (problématique) chưa dứt. Bất kỳ một giải pháp nào trong lịch sử
cũng không thể chuyể
n dịch sang hoàn cảnh lịch sử khác, nhưng có thể có một số
vấn đề thẩm thấu (empiéter) hoặc xuyên thấm (pénetrer) đến tất cả các giai đoạn
lịch sử.
Tri thức, quyền lực và trách nhiệm tương tác qua lai, và không thể thiếu bất

.
Vận dụng luận điểm “Ý nghĩa là ở cách dùng” của L.Wittgenstein, J.F.
Lyotard cho rằng những khái niệm mà ngôn ngữ hình dung, thật ra không có một ý
nghĩa cố định, vì nó phải phụ thuộc vào ý đồ cùng cách sử dụng của chủ thể phát
ngôn. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà người ta thường cho tự sự nào cũng chẳng
qua là một loại ngụ ngôn hoặc truyền kỳ, không thể đem lai tri thức đích thực. Ngày
nay, bất cứ
một loại khoa học kỹ thuật tối tân nào cũng gắn liền với ngôn ngữ cả
như truyền thông, điều khiển học, máy tính kỹ thuật số. Cho nên những loại tri thức
nào khó được mã số hoá thì dần dà sẽ bị đào thải. Khoa học nhân văn rất khó điện
toán hoá, cho nên tiền đồ khá là mờ mịt. Thật ra kho thông tin của máy tính cũng
không mang tính đồng chất, những tri thức mà nó sáng tạo ra c
ũng có thể xung đột
nhau.Trong tình hình đó chỉ có vai trò của những tiểu tự sự mới có thể làm chỗ dựa.
Phải thấy tiêu chuẩn của tri thức hậu hiện đại phải là dị chất, nghĩa là rất khác nhau
và mỗi thứ chỉ đúng trong những phạm vi nhất đinh.
3)Tranh luận với Lyotard, J.Habermas bảo vệ tính hiện đại
.
J.Habermas khẳng đinh giai cấp tư sản thời Khai sáng đã sản sinh mạnh mẽ

25
những thứ có giá trị nhất của tính hiên đại như tự do dân chủ, hoạt động giao lưu,
nhận thức chung về lý tính. Nhưng do truyền thống triết học lấy chủ thể làm trung
tâm; rồi muốn thoả mãn ngày càng nhiều nhu cầu bản thân trong xã hội tiêu dùng,
chủ thể đó không ngừng vượt ra bên ngoài, cho nên chỉ chú tâm vào công cụ và thủ
đoạn mà quên đi cái chân thiện và chính nghĩa. Để khắc phục mặt trái củ
a nó,
J.Habermas chủ trương thay thế triết học chủ thể thuần tuý bằng triết học giữa các
chủ thể được đăc trưng bởi hoạt động giao lưu giữa các chủ thể, sẽ hình thành được
sự nhận thức chung một cách tự nguyện, từ đó lý tính giao lưu sẽ bổ sung chỗ bất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status