B¸o c¸o tèt nghiÖp NguyÔn Minh Giang BVTVA – K51
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây cói (tên khoa học là Cyperus sp) là một cây công nghiệp thuộc họ
Cyperaceae. Trên thế giới, nó phân bố hẹp tập trung chủ yếu ở các vùng nước
lợ, vùng ven biển nhiệt đới: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan,
Việt Nam. Là một cây lấy sợi có giá trị kinh tế khá cao, cây cói còn có tác
dụng cải tạo mặn, cải tạo đất.
Sản phẩm thu hoạch là toàn bộ thân cây (tiêm cói) sau khi phơi, sấy khô
dùng làm nguyên liệu chế biến ra nhiều mặt hành thủ công mỹ nghệ (dệt
chiếu, làm thảm, làn, hộp, túi xách, giỏ đựng…). Các mặt hàng làm từ cói
bền, đẹp, đa dạng về mẫu mã do vậy rất được ưa chuộng không chỉ trong
nước mà cả nước ngoài.
Về mặt môi trường sinh thái cói thích hợp với độ mặn từ 0,1% - 0,2%.
Có đặc điểm trên cây cói là cây có vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng ở
các vùng ven biển, vùng ngập mặn. Với những vùng đất mặn trong đê sau khi
trồng cói nồng độ mặn trong nước giảm có thể bố trí các loại cây trồng khác.
Việt Nam là quốc gia đang có chiến lược mở rộng diện tích ra phía biển Đông
đồng thời cũng là một trong 5 quốc gia chịu sự tác động mạnh mẽ của hiện
tượng biến đổi khí hậu toàn cầu mà hậu quả của nó là nước biến dâng, sự xâm
nhập mặn. Trong điều kiện toàn thế giới đang đối phó với hiện tượng biến đổi
khí hậu thì việc nghiên cứu cây cói có thể xem là một hướng quan trọng để
nhà nước giải quyết vấn đề này.
Ở nước ta cây cói tập trung chủ yếu ở các tỉnh ven biển, vùng nước lợ.
Hiện nay ở Việt Nam có 26 tỉnh trồng cói, tập trung ở 3 vùng lớn là vùng
đồng bằng ven biển Bắc Bộ (Thái Bình, Hải Phòng, Ninh Bình, Nam Định);
vùng ven biển Bắc Trung bộ (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh v.v.) và vùng
ven biển Nam bộ (Trà Vinh, Vĩnh Long ). Đặc biệt với hai vùng nổi tiếng
1
B¸o c¸o tèt nghiÖp NguyÔn Minh Giang BVTVA – K51
với nghề trồng cói là ở Kim Sơn- Ninh Bình và ở Nga Sơn – Thanh Hoá nghề
trên cói tại Nga Sơn - Thanh Hóa và Kim Sơn - Ninh Bình” trong vụ mùa
2009. Biện pháp phòng chống hiệu quả đối với các loại sâu, bệnh hại cói.
1.2.2. Yêu cầu
- Xác định được thành phần mức độ phổ biến của sâu, bệnh hại cói.
- Điều tra diễn biến của một số sâu, bệnh hại cói chính trong vụ mùa
2009.
- Khảo sát hiệu lực của một số thuốc đối với các loài sâu, bệnh hại cói.
3
B¸o c¸o tèt nghiÖp NguyÔn Minh Giang BVTVA – K51
PHẦN II
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Giới thiệu chung về cây cói
2.1.1. Đặc điểm thực vật học
Cói là thực vật một lá mầm (Monocotyledones hay Liliposida) gồm cả
cây trồng và cây mọc hoang dại thuộc chi cói (Cyperus), họ cói (Cyperaceae)
trong bộ hoà thảo (Poales).
Họ cói có 70 chi với khoảng 4000 loài phân bố rộng khắp ở các nước
nhiệt đới châu á và nam mỹ, mọc hầu hết ở các vùng đất ướt, vùng đất phù sa
bồi đắp gần các cửa sông ven biển, tại Việt Nam hiện biết họ cói có 28 chi với
gần 400 loài [5].
Là cây thân thảo nhiều năm, thân khí sinh mọc thành cụm, với thân
ngầm cứng, mập, bò lan trong đất, thường gọi là củ; thân ngầm có mùi thơm,
vị cay, hơi đắng, vỏ bên ngoài đen, thịt bên trong màu trắng; thân khí sinh
mọc từ thân ngầm, thường gồm 5-6 thân, mọc đứng, cứng, 3 cạnh lõm, màu
xanh bóng, cao trung bình 1,5 m, có cây đạt 1,7-2,0 m, đường kính 12-15
mm, thường chỉ mang lá ở gốc. Lá mọc thành 3 dãy, hẹp hình đường, dạng lá
cỏ, ít có lưỡi mác hay hình bầu dục, dài bằng nửa thân, rộng khoảng 5-10 mm
và có bẹ dài; các lá ở gốc thường tiêu giảm thành các bẹ hay vẩy, bao phủ
thân ngầm và gốc thân khí sinh. Cụm hoa mọc ở đỉnh, thường hình xim kép,
rộng hơn dài, với đường kính 15 cm, màu xanh vàng, có mùi thơm, với 3-10
hơn cói bông trắng, hoa nhỏ, đẻ nhánh dày, tỷ lệ cói dài thấp, ít đựơc ưa
chuộng). Ngoài ra có một số giống cói được đưa từ nơi khác về như (i) cói
Nhật là loại cói không chẻ, thuộc họ bấc (juncaceae) đẻ nhánh rất khoẻ, chiều
5
B¸o c¸o tèt nghiÖp NguyÔn Minh Giang BVTVA – K51
cao chỉ đạt 50 – 60cm, hiện đang trồng ở mức thử nghiệm, (ii) cói Bắc Hà –
Lào Cai, là cói nước ngọt, thân tròn, thân rỗng, độ dai kém, hiện đang trồng
thử nghiệm.
Theo kết quả điều tra của PGS.TS. Nguyễn Văn Hoan Trường Đại học
Nông nghiệp Hà Nội tại tỉnh Thái Bình: giống cói ở Thái Bình đựơc phân làm
2 nhóm rõ rệt do quá trình bình tuyển và di thực sâu vào vùng đất giữa. Hai
nhóm giống này là cói 3 cạnh và cói thân tròn, gồm 5 giống gọi theo đặc điểm
của hoa: Búp đòng khoang cổ (cói thân tròn, phân bố ở vùng ven biển - đất
giữa, rất phổ biến), cói bông chẽ (cói 3 cạnh, phân bố ở vùng ven biển, ít phổ
biến), cói bông hoa bát (cói thân tròn, phân bố vùng ven biển, ít phổ biến),
cói bông nâu (cói thân tròn, phân bố ở vùng ven biển, ít phổ biến), hoa gấu
(cói 3 cạnh, phân bố ở vùng ven biển, ít phổ biến). Trong các giống trên,
giống búp đòng khoang cổ thích nghi với cả 2 vùng sinh thái ven biển và đất
giữa, cho năng suất cao, chiếm diện tích lớn [6].
Theo kết quả điều tra của Đại học Nông nghiệp Hà Nội hiện tại địa bàn
huyện Nga Sơn – Thanh Hoá đang trồng 2 loài cói chính là cói bông nâu
(10%-20%), cói bông trắng (80% -90%).
2.1.3. Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển
Chu kỳ sinh trưởng của cây cói từ khi nảy mầm đến khi thu hoạch rất
ngắn ( 3-4 tháng) nhưng chu kỳ khai thác có thể kéo dài 5 - 7 năm tuỳ theo kỹ
thuật canh tác. Có thể chia chu kỳ phát triển của cói thành các thời kỳ sau:
a. Thời kỳ nảy mầm
Cói là thực vật sống lưu gốc, thân ngầm tồn tại trong đất, mỗi mắt đốt
trên thân ngầm thường mang một mầm ngủ. Khi gặp điều kiện thuận lợi thì
các mầm ngủ nảy mầm, sau đó mầm phát triển thành nhánh.
) mực nước càng sâu thì sự đâm tiêm càng bị hạn chế, càng chậm.
Nếu ruộng luôn đủ ẩm thì sự đâm tiêm càng cao. Cói phát triển tốt nhất là cói
ráo chân hoặc là 4 ngày ráo chân 1 ngày mực nước 5cm. Cói sẽ hoàn thành
đâm tiêm sớm, số tiêm nhiều hơn. Cấy mống càng sâu ngày đâm tiêm xong
càng lâu, bón phân NPK theo tỷ lệ thích hợp thì cói đâm tiêm nhanh và khoẻ.
7
B¸o c¸o tèt nghiÖp NguyÔn Minh Giang BVTVA – K51
Vụ cói chiêm tiêm hữu hiệu cao và ra rộ vào cuối tháng ba đầu tháng tư
là lúc nhiệt độ tăng dần và bắt đầu có mưa tiết xuân phân nên cần bón phân
trước thời kỳ đâm tiêm mới có thể đạt tỷ lệ tiêm hữu hiệu cao. Đối với vụ
mùa, tiêm hữu hiệu cao và ra rộ vào cuối tháng bảy đầu tháng tám do vậy cần
bón phân trước tiết lập thu (7-8) mới có thể đảm bảo tỷ lệ tiêm hữu hiệu cao.
c. Giai đoạn vươn cao
Giai đoạn này bắt đầu khi lá mác vượt quá 10cm khỏi lá bẹ. Đây là thời
kỳ phát huy tác dụng tổng hợp của các yếu tố: Phân bón, nước, nhiệt độ và
ánh sáng đối với cây cói.
Trong năm, cói vươn cao mạnh nhất vào 2 thời kỳ: Thời kỳ đầu vào khoảng
trung tuần tháng tư, có mưa, nhiệt độ và độ ẩm tăng dần. Thời kỳ thứ hai vào
khoảng hạ tuần tháng tám. Trong khoảng thời gian 10 ngày từ 10-20 tháng tư
cây cói tăng trưởng nhanh, vươn tới 40cm sau đó cói vẫn tiếp tục vươn cao
nhưng giảm dần. Nếu nhiệt độ tăng dần kèm theo có mưa dông tốc độ cói
vươn cao càng nhanh, bình quân ngày đạt tới 6cm.
d. Thời kỳ ra hoa và chín
Thời kỳ ra hoa và chín: mầm hoa hình thành ở kẻ mác (đối với cói vụ
chiêm ở miền bắc cói ra hoa rộ từ tháng 5 đến trung tuần tháng 6 khi lụi đần;
vụ cói từ đầu tháng 8 ra hoa rộ, đến trung tuần tháng 9 bắt đầu lụi dần). Khi
hoa từ màu trắng chuyển sang màu ngà là cói bắt đầu chín, lúc đó thân cói
chuyển sang màu vàng óng, sợi cói va vào nhau phát ra tiếng động rất khẻ.
2.1.4. Yêu cầu sinh thái của cây cói
a. Nhiệt độ
chất cói. Trong thời kỳ đâm tiêm (sau trồng hoặc sau khi thu hoạch) yêu cầu
mực nước trong ruộng thấp (4-5cm), tốt nhất là gữi ruộng cói ẩm. Mực nước
cao hoặc úng làm cho cói đâm tiêm kém hoặc có thể làm thối mống. Thời kì
vươn cao yêu cầu mực nước 5-7cm, nếu mực nước cao quá thì cói to cây, đen
gốc, sợi kém bền làm cho phẩm chất kém. Tốt nhất là tưới tràn, tháo kiệt
9
B¸o c¸o tèt nghiÖp NguyÔn Minh Giang BVTVA – K51
thường xuyên sao cho lượng nước trong ruộng cói luôn thay đổi. Thời kỳ chín
nếu khô hạn cói chóng xuống bộ, cần giữ ẩm.
Nước ngọt giúp cây cói mọc nhanh, bốc mạnh, nhưng nước ngọt làm cho
cói to cây, xốp ruột. Cói đồng thường to hơn cói bãi một phần do điều kiện
chăm sóc thuận lợi hơn song chủ yếu là do nước đã bớt mặn hơn.
2.1.5. Tác dụng của cây cói
Thân cói đã được dùng từ rất lâu đời để bện dây, đan chiếu, đan thảm,
túi và nhiều hàng mỹ nghệ khác. Loại thân cói ngắn không sử dụng đan lát
được (bổi), có thể được dùng làm nhà, làm chất đốt hay làm nguyên liệu để
chế biến giấy cao cấp.
Ở Việt Nam cói được dùng làm thuốc, bộ phân được dùng là thân rễ
hay thân ngầm. Do có vị ngọt, hơi the, mùi thơm, tính mát nên thân ngầm
được dùng làm thuốc lợi tiểu, tiêu viêm, thông huyết mạch. Theo tài liệu
nghiên cứu ở Việt Nam, thân ngầm chứa 3,1% tanin; 0,7% flavonoid; 0,5 tinh
dầu và 0,5 alkaloid. Theo Đỗ Tất Lợi (1977) bài thuốc có củ cói dùng để chữa
trẻ em gầy yếu như sau: củ cói sao vàng (40g), vỏ chuối tiêu chín còn tươi
(240g), bột thịt cóc (40g), sấy khô và tán nhỏ củ cói và vỏ chuối thành bột,
trộn đều với bột thịt cóc, thêm kẹo mạch nha vào thành viên. Mỗi viên 4g,
ngày cho ăn 2-4 viên, chia làm 2 lần.
2.2. Tổng quan tình hình sản xuất cói
2.2.1. Tình hình sản xuất cói trên thế giới
Trên thế giới, cói có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Á, nhưng hiện này
vùng phân bố đã mở rộng ra phía tây tới Iraq, Ấn độ, phía bắc tới Nam Trung
cấp ra ngoài tỉnh làm nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất đồ mỹ nghệ.
11
B¸o c¸o tèt nghiÖp NguyÔn Minh Giang BVTVA – K51
Hiện nay cây cói giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của một số
vùng ở nước ta, đặc biệt là các vùng sản xuất truyền thống như Nga Sơn
(Thanh Hoá), Kim Sơn (Ninh Bình). ở các vùng này sản xuất cói gắn liền với
các sản phẩm chế biến ra từ cây cói (đan lát, dệt chiếu, hàng thủ công mỹ
nghệ) tạo công ăn việc làm cho người dân, đem lại gia trị kinh tế cao hơn rõ
rệt so với trồng lúa, nhưng cơ sở vật chất phục vụ ngành cói còn nghèo nàn và
hầu như không có. Công đoạn phơi cói có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng
cói, thế nhưng người dân vẫn phải làm thủ công. Nếu công đoạn này có
phương tiện hộ trợ máy sấy thì công tác thu hoạch cói của người dân không
phải thuộc vào thời tiết. Ngành thủ công mỹ nghệ chế biến từ cói đã có từ lâu
đời nhưng mặt hàng chưa phong phú, không đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu
của người tiêu dùng. Đồng thời sự hiểu biết về thị trường ngành cói còn hạn
chế, người dân không được tiếp cận với thị trường, không tham gia các lớp
tập huấn kỹ thuật trồng cói, nắm bắt thị trường.
2.2.3. Tình hình sâu bệnh và bảo vệ thực vật
Cói được trồng từ rất lâu đời, giống trồng không được cải tạo, chọn lọc
kết hợp với việc sử dụng phân hóa học tràn lan là nguyên nhân dẫn đến tình
hình sâu bệnh trên ruộng cói diễn biến rất phức tạp.
Có nhiều nghiên cứu về tình hình sâu bệnh hại cói đã cho kết quả sau:
- Theo nghiên cứu tại Thanh Hoá, đã tổng hợp được 17 loài sâu hại thuộc
12 họ của 6 bộ côn trùng. Trong đó bộ cánh đều có 5 loài chiếm 57%, bộ cánh
cứng và bộ cánh tơ có một loài chiếm 7,14%. Đối tượng gây hại bọ vòi voi
(bộ cánh cứng), sâu đục thân (bộ cánh vẩy) và rầy nâu (bộ cánh đều)
- Theo kết quả điều tra tại Công ty Nông nghiệp Bình Minh - huyện Kim
Sơn - tỉnh Ninh Bình của Ts. Nguyễn Văn Viên Trường Đại học Nông
Nghiệp Hà Nội cho thấy. Hiện tại, địa bàn có 11 loài sâu và một bệnh hại,
12
làm cho thân cói khô, gẫy và bị chết, ảnh hưởng xấu đến chất lượng và năng
suất cói.
Bệnh gây hại nặng vào thời có độ ẩm cao, mưa nhiều.
Biện pháp phòng trư: vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch, tưới tiêu hợp lý kết
hợp với bón phân cân đối. Ngoài ra có thể sử dụng thuốc hoá học để phòng
trừ bệnh. Khi phát hiện có bị bệnh đốm vàng có thể sử dụng các loai thuóc trừ
nấm đạo ôn của lúa.
Như vậy, tình hình sâu bệnh hại cói diễn biến rất phức tạp gồm nhiều
loài sâu, bệnh nguy hiểm. Điểm chung trong tình hình sâu bệnh hại cói là
chúng ta chưa tìm ra được giải pháp hữu hiệu để tiêu diệt các đối tượng này.
14
B¸o c¸o tèt nghiÖp NguyÔn Minh Giang BVTVA – K51
PHẦN III
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Vật liệu và đối tượng nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số sâu, bệnh chính hại trên cói như sâu đục thân cói, bệnh đốm
vàng.
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu
Các giống cói đang được trồng ở công ty nông nghiệp Bình minh – Kim Sơn
– Ninh Bình và Nga Tân - Nga Sơn - Thanh Hóa: giống cói cổ khoang bông
trắng, cói chỉ, cói cổ khoang bông nâu.
Thuốc bảo vệ thực vật: Thuôc Nativo 750WG, Daconil 75WP.
- Các loại dụng cụ khác như thước đo, que cắm, vợt bắt mẫu, xô, chậu,
bình phun thuốc…
3.1.3. Địa điểm nghiên cứu
Tại công ty nông nghiệp Bình Minh – huyện Kim Sơn – tỉnh Ninh Bình
và xã Nga Tân – huyện Nga Sơn – tỉnh Thanh Hóa.
3.1.4. Thời gian nghiên cứu
Ninh Bình vụ mùa 2009.
- Tình hình bệnh đốm vàng trên cói cổ khoang bông trắng có tuổi gốc 1
năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm ở Bình Minh – Kim Sơn – Ninh Bình vụ mùa
2009.
16
B¸o c¸o tèt nghiÖp NguyÔn Minh Giang BVTVA – K51
3.2.4. Khảo sát hiệu lực một số loại thuốc bảo vệ thưc vật phòng trừ sâu,
bệnh hại trên cói.
- Hiệu lực thuốc Nativo 750WG đối với bệnh đốm vàng.
- Hiệu lực thuốc Daconil 75WP đối với bệnh đốm vàng.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng
• Đối với sâu đục thân hại cói
- Dùng khung (0,4x0.5m = 0,2m
2
), mỗi ruộng điều tra 5 điểm chéo góc,
mỗi điểm một khung, cách bờ tối thiểu 1m. Không cố định ruộng điểu tra.
- Đếm số tiêm cói trong khung.
- Đếm số tiêm cói bị sâu hại.
- Chẻ tiêm cói để đếm sâu.
- Chỉ tiêu theo dõi: theo dõi mật độ sâu, tính tỷ lệ hại
Tiêm bị sâu hại
Tỷ lệ tiêm hại (%) = × 100
Tổng số tiêm điều tra
Mật độ sâu (con/m
2
) = tổng số sâu 1 điểm × 5.
• Đối với bệnh đốm vàng
- Dùng khung (0,4x0.5m = 0,2m
2
- Công thức 2 : Nativo 750WG 3g pha 8 lít nước phun.
- Công thức 3 : Nativo 750WG 4,5g pha 8 lít nước phun.
- Công thức 4 : Nativo 750WG 6g pha 8 lít nước phun.
- Công thức 5 : Đối chứng (không phun thuốc).
(Mỗi công thức thí nghiệm 200m
2
)
- Ngày xử lý thuốc; ngày 08/07/2009,
- Điều tra: Tiến hành điều tra trước khi xử lý thuốc 1 ngày. Điều tra sau
xử lý thuốc 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày, 28 ngày, 35 ngày, 65 ngày, 95 ngày.
18
B¸o c¸o tèt nghiÖp NguyÔn Minh Giang BVTVA – K51
- Chỉ tiêu theo dõi: Theo dõi tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh trước xử lý thuốc
và sau xử lý thuốc từ đó có thể tính hiệu lực thuốc.
- Hiệu lực thuốc được tính theo công thức Hendersonn – tilton:
T
a
× C
b
H = (1 - × 100)
C
a
× T
b
Trong đó:
T
a
- Chỉ số bệnh ở các công thức xử lý sau phun thuốc
T
b
2
x 3 lần nhắc lại.
- Công thức 1 : 2,5g thuốc pha vào 2,5 lít nước phun mỗi lần nhắc lại.
- Công thức 2 : 5g thuốc pha vào 2,5 lít nước phun mỗi lần nhắc lại.
- Công thức 3 : 7,5g thuốc pha vào 2,5 lít nước phun mỗi lần nhắc lại.
- Công thức 4 : 10g thuốc pha vào 2,5 lít nước phun mỗi lần nhắc lại.
- Công thức 5 : Đối chứng không phun thuốc
- Ngày xử lý thuốc: Ngày 02/09/2009
- Điều tra: Tiến hành điều tra trước khi xử lý thuốc 1 ngày. Điều tra sau
xử lý thuốc 7 ngày, 15 ngày, 30 ngày.
- Chỉ tiêu theo dõi: Theo dõi tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh trước xử lý thuốc và
sau xử lý thuốc từ đó có thể tính hiệu lực thuốc.
- Hiệu lực thuốc được tính theo công thức Hendersonn – tilton.
• Thí nghiệm 4 : Ảnh hưởng của số lần phun thuốc Daconil 75WP khác
nhau đến bệnh đốm vàng.
Mỗi công thức thí nghiệm có 30m
2
x 3 lần nhắc lại.
- Công thức 1 : Daconil 75 WP 5g pha 2,5lít nước phun 1 lần. cho mỗi lần
nhắc lại
- Công thức 2 : Daconil 75 WP 5g pha 2,5lít nước phun lần 1 cho mỗi lần
nhắc lại, sau đó 14 ngày phun tiếp Daconil 75 WP 5g pha 2,5lít nước phun
lần 2.
- Công thức 3 : Daconil 75 WP 5g pha 2,5lít nước phun lần 1 cho mỗi lần
nhắc lại, sau đó 14 ngày phun tiếp Daconil 75 WP 5g pha 2,5lít nước phun
lần 2, sau 28 ngày phun tiếp Daconil 75 WP 5g pha 2,5lít nước phun lần 3.
- Công thức 4 : Đối chứng không phun thuốc.
- Ngày xử lý thuốc: Ngày 05/09/2009, 21/09/2009, 6/10/2009.
20
B¸o c¸o tèt nghiÖp NguyÔn Minh Giang BVTVA – K51
vấn đề sâu bệnh và bảo vệ thực vật trên cây cói chưa được quan tâm nhiều,
nhưng thành phần sâu, bệnh gây hại trên cói khá đa dạng, phức tạp với mức
độ gây hại cũng khá nghiêm trọng.
4.1.1 . Kết quả điều tra thành phần và mức độ phổ biến của sâu hại cói
Trong những năm gần đây khi đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thâm
canh cây cói, nhằm mục đích nâng cao phẩm chất sản lượng thì ở những
vùng chuyên canh cây cói xuất hiện nhiều loài sâu đến gây hại. Nhất là ở thị
trấn Bình Minh – Kim Sơn – Ninh Bình và Nga Tân - Nga sơn - Thanh Hóa.
- Tại thị trấn Bình Minh – Kim Sơn – Ninh Bình chúng tôi phát hiện
được có 12 loài sâu hại thuộc 8 họ 6 bộ. Kết quả được trình bày ở bảng 4.1.
Số liệu bảng 4.1 cho thấy: Bộ cánh cứng chiếm 8,33%, bộ cánh vảy chiếm
25%, bộ cánh đều chiếm 25%, bộ cánh màng chiếm 8,33%, bộ cánh thẳng
chiếm 8,33%, bộ cánh nửa chiếm 25%.
Vào tháng 7 loài sâu đục thân xuất hiện nhiều nhất. Các loài rầy nâu, rầy
lưng trắng, châu châu lúa cũng xuất hiện trên ruộng cói nhưng vẫn còn ít, các
lòai sâu róm, bọ xít, bọ trĩ, rệp muôi xuất hiện rất ít hoặc không xuất hiện
trên đồng ruộng.
Vào tháng 8 loài rầy lưng trắng tăng đột biến xuất hiện nhiều nhất và rất
phổ biến trên đồng ruộng. Loài sâu đục thân và châu chấu lúa xuất hiện khá
22
B¸o c¸o tèt nghiÖp NguyÔn Minh Giang BVTVA – K51
phổ biến trên đồng ruộng.
Vào tháng 9 các lòai sâu đục thân, châu chấu, rầy lưng trắng xuất hiện rất
phổ biến trên đồng ruộng. Các lòa sâu vòi voi, bọ xít xanh, rầy nâu xuất hiện
rất ít trên đồng ruộng. Loài rệp muội tăng đột biến xuất hiện phổ biến trên
đồng ruộng. Loài bọ trĩ, sâu róm nâu, bọ xít đen, bọ xít dài xuất hiện nhiều
hơn so với tháng 8 nhưng mật độ còn ít.
Tới tháng 10 các loài sâu đục thân và rầy lưng trắng xuất hiện rất nhiều phổ
biến trên đồng ruộng. Loài sâu vòi voi, bọ xít xanh, rầy nâu xuất hiện ít nhất
trên đồng ruộng. Các loài khác xuất hiện ít trên đồng ruộng.
Bình Minh
–Kim Sơn
–Ninh Bình
I
Bộ cánh cứng Coleoptera
1
Sâu vòi voi
Chưa xác định
Curculionidae 0 0 + +
Củ, thân, mầm
II
Bộ cánh vảy Lepidoptera
2
Sâu đục thân Scirpophaga Sp Pyralidae +++ +++ ++++ ++++ Thân
3
Sâu róm nâu Euproctis sp1 Lymantridae + + ++ ++ Lá, hoa
4
Sâu róm đen Euproctis sp2 Lymantridae + ++ ++ ++ Lá, hoa
III
Bộ cành đều Homopterra
5
Rầy nâu Nilaparvata lugens Stal Delphacidae ++ + + + Thân, lá
6 Rầy lưng trắng Sogatell fursisea
Horvath
Delphacidae ++ ++++ ++++ ++++ Thân,
bẹ lá
7
Rệp muội Chưa xách định Aphididae + + +++ +++ Thân, búp
IV
Bộ cánh màng