Công ty Vắcxin và Sinh phẩm số 1
Báo cáo tổng kết đề tài:
Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ
sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
ở quy mô phòng Thí nghiệm
Cnđt: Đỗ Tuấn Đạt
Tế bào nguyên bào thần kinh chuột (Murine Neuroblastoma
cell)
MOI
Multiplicity of Infection
MSV
Chủng vi rút giống gốc (Master seed virus)
NIH
Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (National Institute of Health)
NMR
Cộng hưởng từ hạt nhân (Nuclear magnetic resonance)
PM
Chủng Pitman-Moore
PPLO
Pleuropneumonia - like organism
PV
Chủng Pasteur Virus
RFFIT
Thử nghiệm ức chế điểm huỳnh quang nhanh (Rapid
fluorescent focus inhibition test)
SDS-PAGE
Điện di trên gel acrylamide (Sodium dodecyl sulfate
polyacrylamide gel electrophoresis)
TCYTTG
Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
VABIOTECH
Công ty Vắcxin và sinh phẩm số 1
VVSDT
Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
WCB
Ngân hàng tế bào sản xuất (Working cell bank)
Kết quả nuôi cấy virút dại theo thời điểm thay môi trường duy
trì tế bào khác nhau
69
2.5.
Kết quả nuôi cấy virút dại trên các dạng chai nuôi cấy khác
nhau
72
2.6.
Kết quả tinh sạch hỗn dịch virút bằng các loại màng lọc khác
nhau
75
2.7.
Kết quả bất hoạt virút dại bằng các phương pháp bất hoạt
khác nhau
76
2.8.
Kết quả cô đặc hỗn dịch virút dại theo các tỷ lệ khác nhau
78
2.9.
Kết quả kiểm tra chất gây sốt trong bán thành phẩm vắcxin
dại
91
3.1.
Kết quả nhân nuôi tế bào Vero của các loạt sản xuất thử
nghiệm
102
3.10.
Kết quả pha bán thành phẩm cuối cùng của các loạt sản xuất
thử nghiệm
105
3.11.
Kết quả sản xuất vắcxin thành phẩm của các loạt sản xuất thử
nghiệm
105
3.12.
Kết quả kiểm tra chất lượng vắcxin thành phẩm tại cơ sở của
các loạt sản xuất thử nghiệm vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào
Vero dạng đông khô (VERAPVAX) 106
3.13.
Kết quả kiểm tra chất lượng vắcxin thành phẩm tại cơ sở của
các loạt sản xuất thử nghiệm vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào
Vero dạng lỏng (VERALVAX) 107
4.1.
Tiêu chuẩn cơ sở cho vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
(dạng lỏng hấp phụ nhôm)
141
Tên hình
Trang
1.1.
Cấu trúc hạt virút dại
6
1.2.
Nguồn gốc của các chủng dại cố định được sử dụng trong sản
xuất vắcxin trên nuôi cấy tế bào
18
2.1.
Tóm tắt quy trình công nghệ sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy
tế bào Vero
39
2.2.
Hình ảnh tế bào Vero qua các đời cấy chuyển
41
2.3.
Hình ảnh chuột liệt do chủng virút dại cố định PV
56
2.4.
Hình ảnh nhiễm virút dại vào tế bào Vero dưới kính hiển vi
huỳnh quang
60
2.5.
Kết quả siêu ly tâm phân vùng bằng rotor zonal tinh chế virút
dại
103
3.3.
Hình ảnh chạy điện di trên gel SDS-PAGE các sản phẩm của
loạt sản xuất vắcxin dại 0109
103
3.4.
Hình ảnh chạy điện di trên gel SDS-PAGE các sản phẩm của
loạt sản xuất vắcxin dại 0209 và 0309
104
5.1.
Sơ đồ gây miễn dịch và lấy máu chuột
146
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1-TỔNG QUAN
5
1.1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH DẠI
5
1.1.1. Tác nhân gây bệnh và đặc điểm bệnh lý
5
1.1.2. Đáp ứng miễn dịch với virút dại
7
1.1.3. Tác động của bệnh dại đối với sức khỏe cộng đồng
8
2.1.2. Thử nghiệm kiểm tra các virút hấp phụ hồng cầu
47
2.1.3. Kết quả quy trình nuôi cấy tế bào Vero trên chai tế bào một lớp
48
2.2. QUY TRÌNH GÂY NHIỄM VIRÚT DẠI VÀO TẾ BÀO VERO
49
2.3. QUY TRÌNH NUÔI CẤY VIRÚT VÀ THU HOẠCH NƢỚC NỔI
53
2.3.1. Các phƣơng pháp xác định hiệu giá virút dại
54
2.3.2. Kết quả nuôi cấy virút dại theo các điều kiện nhân nuôi khác
nhau
65
2.4. QUY TRÌNH TINH SẠCH HỖN DỊCH VIRÚT
74
2.5. QUY TRÌNH BẤT HOẠT VIRÚT
76
2.6. QUY TRÌNH CÔ ĐẶC HỖN DỊCH VIRÚT
77
2.7. QUY TRÌNH TINH CHẾ VIRÚT
79
2.7.1. Thử nghiệm phát hiện ADN tế bào Vero tồn dƣ trong các sản
phẩm của quy trình tinh chế vắcxin dại bằng phƣơng pháp lai
điểm 79
2.7.2. Các phƣơng pháp tinh chế virút dại
105
CHƯƠNG 4 - XÂY DỰNG QUY TRÌNH KIỂM TRA CHẤT
LƯỢNG VÀ TIÊU CHUẨN CƠ SỞ CHO VẮCXIN
VẮCXIN DẠI TRÊN NUÔI CẤY TẾ BÀO 109
4.1. CÁC PHƢƠNG PHÁP KIỂM TRA SINH HỌC
110
4.1.1. Phƣơng pháp kiểm tra vô khuẩn
110
4.1.2. Phƣơng pháp kiểm tra an toàn chung
113
4.1.3. Phƣơng pháp kiểm tra chất gây sốt
116
4.1.4. Phƣơng pháp kiểm tra an toàn đặc hiệu
119
4.1.5. Phƣơng pháp kiểm tra công hiệu
121
4.1.6. Thử nghiệm nhận dạng
125
4.2. CÁC PHƢƠNG PHÁP KIỂM TRA HÓA LÝ
126
4.2.1. Phƣơng pháp xác định hàm lƣợng protein tổng số
126
4.2.2. Xác định pH trong vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
130
4.2.3. Định lƣợng thimerosal trong vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào
Vero
chuột
144
5.2. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN VÀ HIỆU LỰC CỦA
VẮCXIN TRÊN ĐỘNG VẬT THÍ NGHIỆM
152
5.2.1. Tính an toàn của vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào trên động vật
thí nghiệm
152
5.2.2. Đáp ứng miễn dịch của vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
trên động vật thí nghiệm
154
KẾT LUẬN
157
KIẾN NGHỊ
160
TÀI LIỆU THAM KHẢO
161
PHỤ LỤC 1
MỞ ĐẦU
Tại trên 100 nước và vùng lãnh thổ, dại là một bệnh gây dịch trên động
vật. Bệnh dại ở chó là nguồn lây nhiễm chiếm đến 99% sang cho người và là
nguy cơ đe dọa tính mạng trên 3,3 tỷ người, chủ yếu tại các nước châu Á và
và thực địa lâm sàng trên người. Ở cả phương pháp tiêm phòng trước và sau
khi phơi nhiễm, các vắcxin này đều tạo được đáp ứng kháng thể ở trên 99%
người được tiêm. Sử dụng các vắcxin thế hệ mới kết hợp với xử lý vết cắn
đúng cách và tiêm phòng globulin miễn dịch kháng dại đã tạo ra hiệu quả
phòng bệnh dại là 100% thậm chí cả với những trường hợp bị cắn có nguy cơ
mắc bệnh cao. Do vậy việc nghiên cứu, phát triển, sản xuất và tiến tới đưa ra
sử dụng rộng rãi vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào là cần thiết. Các quốc gia trên
thế giới cần sớm có các chiến lược để sử dụng và triển khai rộng khắp loại
vắcxin tiên tiến và cho hiệu quả cao này.
Tại Việt Nam, trong những năm 1991-1995, bệnh dại là vấn đề y tế
nghiêm trọng gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, tính mạng và kinh tế của
người dân. Bệnh xảy ra quanh năm, lưu hành ở hầu hết các tỉnh, thành phố
trên cả nước. Nếu tính một người tiêm vắcxin dại phí tổn 300.000 đồng (gồm
tiền thuốc, công lao động, tiền đi lại…) thì trong năm 1995 cả nước tốn gần
100 tỷ đồng. Thêm vào đó, mỗi năm có trên dưới 500 người thiệt mạng do
bệnh dại. Trước tình hình nghiêm trọng của bệnh dại, năm 1996, Chính phủ
đã ban hành chỉ thị về việc tăng cường phòng chống bệnh dại và Bộ Y tế đã
thành lập ban chỉ đạo Phòng chống bệnh dại Quốc gia. Thành công của
Chương trình là đến năm 2006 số ca tử vong do bệnh dại đã giảm 81% so với
năm 1995. Tuy nhiên, trong năm 2007, số ca tử vong do bệnh dại đã lại tăng
3
lên đến trên 100 trường hợp. Nguyên nhân có thể là do việc kiểm soát nguồn
gây bệnh mà chủ yếu là chó - nguồn gây bệnh chính tại Việt Nam còn nhiều
hạn chế. Bên cạnh đó, việc thay đổi chính sách sử dụng vắcxin, ngừng sử
dụng vắcxin thế hệ cũ rẻ tiền thay thế bằng vắcxin nhập ngoại sản xuất trên
nuôi cấy tế bào đắt tiền hơn, làm giảm khả năng được tiếp cận với vắcxin
phòng bệnh của các bệnh nhân nghèo, đặc biệt tại các vùng nông thôn, vùng
sâu, vùng xa.
Ở Việt Nam, trước năm 1974, vắcxin phòng bệnh dại cho người chủ
của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật và Dự phòng Hoa kỳ (CDC) trong việc
cung cấp các chủng giống sản xuất vắcxin dại, nhóm nghiên cứu đã tiến hành
các nghiên cứu ở cấp cơ sở và lựa chọn ra được chủng virút PV (Pasteur
Virus) và môi trường nuôi cấy không huyết thanh đạt các yêu cầu cho sản
xuất vắcxin. Từ những thành công này, nhóm nghiên cứu bắt đầu tiến hành
xây dựng quy trình công nghệ sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero ở
quy mô phòng thí nghiệm. Với kinh nghiệm trên 30 năm sản xuất và kiểm
định chất lượng vắcxin dại sản xuất trên não chuột ổ, cùng với những kinh
nghiệm và thành công trong việc phát triển các vắcxin mới, VABIOTECH
đưa ra các mục tiêu và nội dung trong Đề tài nghiên cứu này với mong muốn
sớm có được sản phẩm vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào đạt tiêu chuẩn được
sản xuất tại Việt Nam.
Các mục tiêu nghiên cứu của Đề tài
1. Xây dựng được qui trình công nghệ ổn định sản xuất vắcxin dại trên
nuôi cấy tế bào Vero ở qui mô phòng thí nghiệm.
2. Sản xuất được các loạt vắcxin dại có chất lượng đạt yêu cầu của Tổ
chức Y tế thế giới và tương đương với các vắcxin cùng loại của nước
ngoài như vắcxin Verorab của Aventis Pasteur.
5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH DẠI
1.1.1. Tác nhân gây bệnh và đặc điểm bệnh lý
Virút dại thuộc nhóm Rhabdoviridae, họ Lyssavirus. Trong họ
Lyssavirus, virút dại cổ điển (các chủng virút hoang dại ở chó, mèo… và các
chủng virút dại cố định) thuộc genotype đầu tiên trong 7 genotype của nhóm.
Các virút thuộc các genotype còn lại thường gây bệnh ở động vật, tuy nhiên
đã có những trường hợp tử vong do nhiễm các virút này ở người như nhiễm
[13], [55].
Virút lây nhiễm di chuyển vào hệ thống thần kinh trung ương qua các
dây thần kinh ngoại vi, khi đến não bộ vi rút nhân lên và phát tán ngược trở ra
hệ thống thần kinh và nhiều phủ tạng khác nhau như tuyến nước bọt. Virút dại
lan truyền đến toàn bộ cơ thể thì bắt đầu các triệu chứng khởi phát tuy nhiên
lúc đó cơ thể không có được đáp ứng miễn dịch với vi rút [52].
Hiện chưa có thử nghiệm nào được sử dụng để chẩn đoán bệnh dại ở
người trước khi bệnh khởi phát trên lâm sàng. Do vậy, chẩn đoán bệnh sẽ chỉ
dựa trên tiền sử bệnh, các biểu hiện và triệu chứng có liên quan đến tình hình
Hệ gen ARN
cuộn xoắn
Nucleoprotein
Phosphoprotein
ARN polymerase
Phức hợp
ribonucleoprotein
hoặc nucleocapsid
Protein phức hợp
Màng lipid
từ vật chủ
Glycoprotein
Vỏ bao ngoài
7
dịch tễ của bệnh trên động vật. Biểu hiện đầu tiên của bệnh dại thường là sốt
nhẹ, đau và dị cảm tại vết thương. Khi virút lan truyền vào hệ thần kinh trung
ương, viêm não tiến triển sẽ xuất hiện có các đặc trưng là sợ nước hoặc sợ
gió, tăng động và mất ngủ, co giật toàn thân, sau đó một vài ngày sẽ ngừng
thở ngừng tim. Bệnh dại gây liệt có thể xảy ra ở 30% ca bệnh ở người, tiến
triển ít trầm trọng hơn tuy nhiên kết cục cuối cùng cũng là tử vong. Dạng
Tại trên 100 nước và vùng lãnh thổ, dại là một bệnh gây dịch trên động
vật. Bệnh dại ở chó là nguồn lây nhiễm chiếm đến 99% sang cho người và là
nguy cơ đe dọa tính mạng trên 3,3 tỷ người, chủ yếu tại các nước châu Á và
châu Phi. Cùng với chó nuôi tại nhà, nhiều giống thú ăn thịt và dơi cũng có
thể làm lây truyền bệnh dại sang cho người [55].
Khi đã có biểu hiện trên lâm sàng, phần lớn các ca bệnh dại đều tử vong.
Tuy nhiên, các ca tử vong do bệnh dại còn ít được báo cáo tại một số nước có
bệnh dại lưu hành đặc biệt ở nhóm tuổi nhỏ. Số ca tử vong hàng năm ước tính
là 55.000 có thể là thấp hơn so với con số thực. Châu Á và châu Phi chiếm
phần lớn các ca tử vong do bệnh dại. Tính riêng tại Ấn Độ, ước tính có
khoảng 20.000 ca chết mỗi năm với tỷ lệ là 2 /100.000 dân; tại châu Phi con
số này cũng tương đương là 24.000 ca (hoặc 4 ca /100.000 dân). Cho dù tất cả
các lứa tuổi đều có thể mắc bệnh nhưng trẻ dưới 15 tuổi là đối tượng thường
mắc nhất với 30-50% số trường hợp được tiêm phòng sau khi bị cắn là trẻ từ
5-14 tuổi và phần lớn là con trai [55].
Khoảng 98% trường hợp bệnh dại ở người xảy ra tại những vùng nuôi
nhiều chó mà đa phần được thả rông. Bệnh dại ở người là một bệnh hiếm gặp
tại các nước công nghiệp phát triển và ở phần lớn các nước Mỹ La tinh nơi
9
bệnh dại trên chó đã gần được loại trừ do giảm thiểu số lượng chó thả rông và
tiêm phòng cho chó nuôi tại nhà. Tại các nước như Thái Lan, việc triển khai
tiêm phòng rộng rãi cho chó và tăng cường tiêm phòng sau khi bị cắn đã làm
giảm đáng kể số ca chết do bệnh dại ở người.
Gần 10 triệu người được tiêm phòng sau khi bị cắn hàng năm chủ yếu là
tại Trung Quốc và Ấn Độ. Tiêm phòng dại sau khi bị cắn đã tránh được
330.304 ca tử vong hàng năm tại châu Á và châu Phi. Chi phí toàn cầu hàng
năm cho phòng bệnh dại ước tính khoảng trên 1 tỷ đô la Mỹ. Chi phí này
cũng như tỷ lệ đi tiêm phòng sau khi bị cắn dự tính sẽ tăng lên một cách đáng
kể khi tất cả các nước thay thế vắcxin sản xuất từ mô thần kinh bằng vắcxin
IU/ml được cho là có khả năng bảo vệ. Ở những nơi không có điều kiện xét
nghiệm huyết thanh học, tiêm phòng nhắc lại được tiến hành 5 năm một lần.
1.1.4.2. Tiêm phòng sau khi phơi nhiễm
Chỉ định tiêm phòng sau phơi nhiễm kết hợp hoặc không kết hợp với
huyết thanh kháng dại tùy thuộc vào mức độ tiếp xúc với động vật nghi dại:
Độ I - Sờ hoặc cho động vật ăn, liếm trên bề mặt da (không tiếp xúc)
Độ II - Ngậm, cắn trên da không tổn thương, các vết sây xướt hoặc trợt
nhẹ không gây chảy máu.
Độ III - Một hoặc nhiều vết cắn hoặc vết cào trên da, liếm trên da tổn
thương, lây nhiễm niêm mạc với nước bọt, tiếp xúc với dơi.
11
Đối với độ I không cần tiêm phòng, độ II tiêm vắcxin ngay lập tức, độ
II tiêm vắcxin kết hợp với huyết thanh. Đối với độ II và độ III, rửa và sát xà
phòng (trong khoảng 15 phút) toàn bộ vết thương và vết cắn ngay lập tức
hoặc càng sớm càng tốt.
Không tiếp tục tiêm phòng sau phơi nhiễm nữa nếu động vật nghi dại
đã được khằng định bằng các xét nghiệm là không nhiễm dại hoặc chó hoặc
mèo nuôi vẫn khỏe mạnh sau 10 ngày theo dõi.
Các yếu tố để quyết định xem có bắt đầu tiêm phòng sau phơi nhiễm
hay không là mức độ nghi ngờ động vật mắc dại, mức độ tiếp xúc (độ I-III),
đặc điểm lâm sàng của động vật cũng như khả năng xét nghiệm của phòng thí
nghiệm. Trong phần lớn các trường hợp tại các nước đang phát triển, tình
trạng tiêm phòng vắcxin của động vật cũng là một trong những yếu tố cần
được quan tâm đến [55].
Chỉ định tiêm bắp
Lịch tiêm phòng sau phơi nhiễm với liều tiêm bắp là 1 hoặc 0,5 ml tùy
thuộc vào nhà sản xuất. Liệu trình tiêm khuyến cáo bao gồm 4 hoặc 5 liều
tiêm.
- Liệu trình tiêm 5 liều là tiêm bắp 1 liều vào các ngày 0, 3, 7, 14, 28.
đầu tiêm phòng sau phơi nhiễm. Liều lượng của HRIG là 20IU/kg cân nặng
còn đối với ERIG và sản phẩn F(ab’) là 40IU/kg cân nặng. Toàn bộ các sản
13
phẩm huyết thanh kháng dại cần được tiêm vào trong hoặc xung quanh vết
thương. Phần còn lại của huyết thanh phải được tiêm bắp vào vị trí xa chỗ
tiêm vắcxin [55]. 1.2. TỔNG QUAN VỀ VẮC XIN DẠI
Trên 100 năm trước đây, Louis Pasteur và cộng sự đã phát triển vắcxin
dại thô đầu tiên để tiêm phòng sau khi bị cắn dựa trên việc bất hoạt virút trên
mô thần kinh. Từ đây trở đi một số loại vắcxin đã được phát triển và sử dụng
trên thế giới.
1.2.1. Các vắcxin thế hệ thứ nhất
Các vắcxin thế hệ thứ nhất đều sử dụng mô động vật để có được hỗn
dịch chứa virút. Các vắcxin này đều đã được sử dụng rộng rãi cho cả người và
động vật. Các loại vắcxin dại chủ yếu thuộc thế hệ thứ nhất được sử dụng cho
người và thú y được trình bày trong Bảng 1.1 [27], [36].
14
Bảng 1.1. Các loại vắc xin dại thế hệ thứ nhất
đƣợc sử dụng cho ngƣời và thú y
Mô đƣợc sử dụng
Chủng
virút
Loại
vắcxin
Phƣơng pháp
Có
Đông khô
Mô thần kinh: Cừu
PV11
Bất hoạt
-propiolactone
Có
Đông khô
Não chuột nhắt chưa
dứt sữa
CVS, 51,
91
Bất hoạt
Tia cực tím
Có
Dung dịch
Não thỏ chưa dứt sữa
PV
Bất hoạt
Tia cực tím
Có
Đông khô
Não chuột chưa dứt sữa
PV
Bất hoạt
Phenol (14 ngày)
Có
Đông khô
Phôi vịt
PM
dụng cho gia
súc, mèo)
Đông khô
Dựa trên các loại mô được sử dụng để sản xuất khác nhau, các vắcxin
thế hệ thứ nhất có thể được xếp loại theo:
Vắcxin sản xuất từ mô thần kinh động vật trưởng thành
Các vắcxin này có rất nhiều các nhược điểm như:
- Còn virút sống tồn dư: các vắcxin như vắcxin Fermi thường có chứa virút
sống do chưa được bất hoạt hoàn toàn bởi phenol nên được coi như là
15
vắcxin hỗn hợp có cả virút sống tồn dư và virút đã bất hoạt, do vậy vắcxin
này nguy hiểm khi sử dụng.
- Phản ứng não tủy sau khi tiêm vắcxin: một số vắcxin thuộc nhóm này
như vắcxin Semple và vắcxin Hempt tuy đã được bất hoạt hoàn toàn và
đáp ứng được yêu cầu về mặt công hiệu nhưng những phản ứng não tủy
nghiêm trọng do tiêm vắcxin vẫn xảy ra trong hoặc sau khi tiêm phòng.
Phản ứng do yếu tố gây phản ứng trong não (một protein cơ bản liên quan
đến myelin) tăng cao khi sử dụng các mô thần kinh động vật trưởng thành.
Những phản ứng này là các tai biến liệt thần kinh từ liệt nhẹ thoáng qua
đến các thương tổn thần kinh vĩnh viễn và thậm chí là tử vong.
- Hàm lượng kháng nguyên cho một liều tiêm thấp: đặc tính này đòi hỏi
phải có một liệu trình điều trị kéo dài với một số lượng lớn các mũi tiêm.
Các vắcxin này thường được đóng dưới dạng dung dịch nên có tính ổn
định thấp chỉ trong vòng gần 6 tháng [27].
Vắcxin sản xuất trên trứng có phôi
Thích ứng các chủng vắcxin dại trên trứng có phôi (chủng Pitman
Moore) đã phát triển được các vắcxin dại sử dụng cho người an toàn hơn,
giảm thiểu các phản ứng não tủy sau tiêm vắcxin. Tỷ lệ có các phản ứng thần
Trong những năm gần đây, Ấn Độ và Nepal đã dần thành công trong việc
ngừng sản xuất và sử dụng vắcxin trên mô thần kinh. Tuy nhiên, với giá thành
rẻ và điều kiện kinh tế còn khó khăn, vắcxin trên mô thần kinh hiện vẫn được
sử dụng tại một số nước chủ yếu là tại vùng Đông Nam châu Á [36], [55].
17
1.2.2. Các vắcxin thế hệ thứ hai
Đây là các vắcxin được sản xuất trên nuôi cấy tế bào. Vắcxin chứa virút
bất hoạt sau khi nhân nuôi trên các dòng tế bào như tế bào lưỡng bội người, tế
bào thận khỉ phôi thai, tế bào thận chuột đất vàng tiên phát, tế bào Vero, tế
bào phôi gà… Các vắcxin này sử dụng tiêm phòng trước và sau phơi nhiễm
[22], [34].
Vắcxin sản xuất trên tế bào lưỡng bội người là vắcxin được đưa vào sử
dụng đầu tiên vào năm 1967. Vắcxin này có tính an toàn và công hiệu cao do
đó được các nước phát triển lựa chọn để tiêm phòng cho người trước và sau
khi phơi nhiễm với virút [11]. Với cố gắng tìm ra các vắcxin có giá thành thấp
hơn và nhưng đặc tính lại tương đương với vắcxin sản xuất trên tế bào lưỡng
bội người, trong những năm gần đây vắcxin tinh khiết trên tế bào phôi gà và
vắcxin tinh khiết trên tế bào Vero đã được phát triển [30]. Các vắcxin trên
nuôi cấy tế bào đều sử dụng các virút cố định thuộc genotype 1 [36]. Nguồn
gốc của các chủng virút dại cố định chính được sử dụng để sản xuất vắcxin
trên nuôi cấy tế bào được trình bày trong Hình 1.2.
Đáp ứng miễn dịch và hiệu quả cả vắcxin trên nuôi cấy tế bào được
chứng minh qua các nghiên cứu trên động vật thí nghiệm và các đánh giá lâm
sàng trên người. Đối với cả phòng trước và sau khi phơi nhiễm, vắcxin cho
đáp ứng kháng thể ở trên 99% người được tiêm. Sử dụng đúng thời điểm
vắcxin mới kết hợp với việc xử trí vết thương đúng cách và tiêm huyết thanh
kháng dại cho hiệu quả phòng dại gần 100% thậm chí đối với cả các trường
hợp phơi nhiễm nguy cơ cao. Tuy nhiên, việc tiêm phòng muộn hoặc không