ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC ĐỖ ĐÌNH THÁI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÁC ĐỘNG
CỦA CÁC YẾU TỐ
ĐẾN ĐIỂM TUYỂN SINH ĐẠI HỌC
(NGHIÊN CỨU TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PGS. TS. PHẠM VĂN QUYẾT
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011 MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hộp
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lịch sử nghiên cứu 7
1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài 8
1.1.2. Một số nghiên cứu ở Việt Nam 14
1.1.3. Khung lý thuyết 20
1.2. Một số khái niệm cơ bản 21
1.2.1. Tuyển sinh 21
1.2.2. Động cơ 21
1.2.3. Học tập 23
1.2.4. Phương pháp giáo dục 26
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến điểm TSĐH 27
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập và phát triển, ngành giáo dục luôn được quan tâm
hàng đầu, nhất là chất lượng giáo dục đại học. Trong những năm gần đây chất
lượng sinh viên (SV) thi đậu đại học ngày càng cao. Áp dụng chủ trương 3
chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) đã tạo nên một bình diện
rộng để các trường có thể cùng tham gia công tác tuyển sinh hằng năm.
Nâng cao chất lượng giáo dục ĐH ngoài việc cải tiến quá trình đào tạo thì
yếu tố đầu vào thông qua công tác tuyển sinh đóng cũng vai trò rất quan trọng.
Nếu kì thi tuyển sinh diễn ra nghiêm túc, đề thi đánh giá đúng năng lực của học
sinh (HS) thì điểm tuyển sinh đại học (TSĐH) sẽ là cơ sở nền cho việc đào tạo
nguồn nhân lực có trình độ cao phục vụ cho xã hội. Phân tích các yếu tố tác
càng khó khăn hơn đối với một học viên cao học. Vì vậy, trong phạm vi
nghiên cứu này chúng tôi chỉ xem xét với số thí sinh đã tham gia thi tuyển
sinh, trúng tuyển và hiện đang học tại Trường (chủ yếu nghiên cứu trên SV
năm thứ nhất (khóa 2010) và thứ hai (khóa 2009), những khóa đầu của các
ngành đào tạo ĐH), thi đầu vào các khối A, B, C và D1 vào trường ĐH Sài
Gòn.
Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu một số tác động
của các yếu tố đến điểm TSĐH của SV năm thứ nhất và năm thứ hai các khối
A, B, C và D1 đang theo học tại ĐH Sài Gòn.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu nhằm khảo sát và phân tích một số tác động của
các yếu tố đến điểm TSĐH tại trường ĐH Sài Gòn. Nghiên cứu này hướng đến
các mục tiêu:
- Nghiên cứu thực trạng điểm TSĐH các khối vào trường ĐH Sài Gòn
trong thời gian gần đây.
- Nghiên cứu tác động của các yếu tố liên quan đến cá nhân và gia đình
thí sinh đến điểm TSĐH.
- Chỉ ra phương thức tác động của các yếu tố đó đến điểm TSĐH vào
trường ĐH Sài Gòn.
- Tổng hợp thông tin, số liệu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng tuyển sinh đầu vào tại trường ĐH Sài Gòn.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phƣơng pháp thu thập thông tin
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng kết hợp cả phương pháp định
tính và định lượng. Mục đích của việc kết hợp hai phương pháp này là nhằm có
đầy đủ bằng chứng với tính thuyết phục cao để kiểm chứng giả thuyết đồng
thời cũng nhằm tìm kiếm phát hiện các vấn nảy sinh từ sự tác động này.
- Các phương pháp định tính được sử dụng chủ yếu là phương pháp
phỏng vấn sâu và phân tích các tài liệu. Các phỏng vấn sâu sẽ tập trung vào các
yếu tố tạo nên động cơ của cá nhân thí sinh).
Mức độ đầu tư và sự cố gắng của cá nhân cho các môn thi vào ĐH.
Các yếu tố thuộc về môi trƣờng gia đình:
Điều kiện học tập.
Người thân trong gia đình đã học tại ĐH Sài Gòn.
Sự quan tâm của cha mẹ.
Thành phần gia đình.
Đời sống gia đình.
Kiểm tra, đôn đốc của cha mẹ.
Phương pháp giáo dục của gia đình.
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lịch sử nghiên cứu
Trong thực tế, chúng ta thấy rằng có những HS đạt điểm rất tốt trong kì
thi TSĐH nhưng bên cạnh đó có những em thất bại. Có rất nhiều quan niệm rất
khác nhau về vấn đề trên: nhiều quan niệm cho rằng có sự khác nhau về khu
vực sống điển hình như khu vực thành thị có điều kiện học tập tốt nên sẽ thành
công hơn trong kì thi tuyển sinh, có một số quan niệm lại cho rằng có sự khác
nhau về tuổi tác và giới tính cũng ảnh hưởng tới điểm thi ĐH, cụ thể nam giới
có điểm thi tốt hơn nữ giới, một số quan niệm khác cho rằng do chỉ số IQ cao
và thân thể khỏe mạnh ảnh hưởng đến điểm TSĐH.
Nói đến các yếu tố tác động đến kết quả học tập của SV, điểm TSĐH,
chất lượng đào tạo, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động
như yếu tố gia đình, xã hội, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, môi
trường văn hóa, đạo đức, môi trường tâm sinh lí HS, nhà trường, mối quan hệ
cộng đồng, bản thân, sự hài lòng của gia đình, tổ chức, phương tiện truyền
thông, ….
Thái Duy Tuyên (2007), Triết học giáo dục Việt Nam, NXB ĐH Sư
phạm [27].
PGS. TS. Nguyễn Hồng Quang (2006), Môi trường giáo dục, NXB
Giáo dục [16].
Đỗ Văn Thông (2003), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, khoa
Sư phạm, ĐH An Giang [23].
Hoàng Ngọc Vinh (2007), Hướng dẫn dạy và học trong giáo dục ĐH,
bản dịch từ tài liệu “Guide to Teaching and Learning in Higher Education”, Hà
Nội [28].
Trên đây là một số nghiên cứu liên quan đến các yếu tố tác động đến kết
quả học tập, thi, kiểm tra và chất lượng đào tạo. Các nhà nghiên cứu đưa ra rất
nhiều ý kiến, nghiên cứu khác nhau nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào
tạo, cải thiện thành tích học tập, chọn ngành nghề, cải thiện tâm lý, môi trường
giáo dục HS, SV. Bên cạnh đó, còn có một số nghiên cứu khác như: Xem xét
hiệu quả của quy mô trường trung học đến thành tích học tập [32], Vai trò của
các thành viên trong trường học thúc đẩy sự thành công của SV qua mối liên
kết nhà trường – gia đình [33], Tác động của quy mô nhà trường đến hiệu quả
thi cử ở trường trung học cơ sở [31], Tương quan cộng tác văn hóa trường học
với thành tích của SV [35], Cha mẹ có tạo nên sự khác biệt trong thành tích
học tập của con mình? Sự khác nhau giữa các cha mẹ của những SV đạt thành
tích cao và thấp [37], Kiểm tra lại tầm quan trọng của quản lý trường học ảnh
hưởng trực tiếp đến thành tích của SV [39], Đặc điểm cấu trúc trường học, nỗ
lực của SV, phối hợp của bạn bè và yếu tố liên quan đến gia đình: Ảnh hưởng
của các yếu tố trường học, cá nhân đến thành tích học tập [47], Các yếu tố ảnh
hưởng thành tích học tập [41], Tác động của mức sống gia đình, giáo dục của
cha mẹ và các yếu tố cơ bản khác đến giáo dục THPT tại Canada [44], Môi
trường học tập trong lớp học [19], Hình thành năng lực nghiên cứu khoa học
cho SV - điều kiện cơ bản để nâng cao chất lượng đào tạo [15].
Qua khảo sát các nghiên cứu liên quan, chúng tôi thấy các nghiên cứu kể
Thành tích học
tập ở bậc PT
Học lực lớp 12.
ĐTB các môn
học dự thi ĐH.
Động cơ thi vào
ĐH Sài Gòn
Trường gần nhà.
Có ngành nghề yêu thích.
Tốt nghiệp dễ tìm việc làm.
Trường công lập.
Điểm chuẩn vừa sức thi.
Điều kiện học tập tốt.
Dịch vụ hỗ trợ SV tốt.
Cơ hội ở lại và làm việc
tại TPHCM.
Theo nhóm bạn.
Theo lời khuyên.
Tư vấn tuyển sinh.
Địa phương có ngành
nghề thiếu.
Sự đầu tƣ, cố gắng
của cá nhân
Tìm tài liệu trên internet.
dục.
Kết quả thi, kiểm tra
2.2. Kết quả thi tuyển sinh của SV đang học tại ĐH Sài Gòn
Kết quả thi tuyển sinh được nghiên cứu trên SV năm thứ 1 (tuyển sinh
năm 2009) và năm thứ 2 (tuyển sinh năm 2010) học tại ĐH Sài Gòn của 834
SV thu thập được từ phiếu trao đổi ý kiến:
Bảng 2.4. Thống kê các mức tổng điểm TSĐH
Khối
Tổng điểm TSĐH
A
B
C
D1
Cộng
Dưới 14
9
0
0
10
19
14 đến dưới 15
29
25
20
21
95
15 đến dưới 16
51
20
6
9
27
21 đến dưới 22
12
0
1
5
18
22 đến dưới 23
1
0
2
2
5
23 đến dưới 24
2
0
2
1
5
24 đến dưới 25
0
2
0
1
3
25 đến dưới 26
0
0
Nhóm 2: từ 15 đến 17.75 điểm (ĐTB mỗi môn đạt ĐTB).
Nhóm 3: từ 18 đến 20.75 điểm (ĐTB mỗi môn đạt ĐTB khá).
Nhóm 4: từ 21 điểm trở lên (ĐTB mỗi môn đạt khá trở lên).
Bảng 2.5. Thống kê Tổng điểm TSĐH theo 4 nhóm
Nhóm
Tổng điểm TSĐH
A
B
C
D1
Cộng
1
Dưới 15 điểm
38
25
20
31
114
2
Từ 15 đến17.75
điểm
149
60
125
168
502
3
Từ 18 đến 20.75
điểm
63
Nhóm yếu tố 4: Môi trường gia đình.
3.1. Thực trạng tác động của các yếu tố
3.1.1. Thành tích học tập ở bậc phổ thông và điểm TSĐH
Trong phần này, chúng tôi phân tích tương quan giữa thành tích học tập
(biến độc lập) với tổng điểm TSĐH (biến phụ thuộc).
Học lực lớp 12 và tổng điểm TSĐH
Kết quả xử lý thống kê cho thấy tương quan giữa học lực lớp 12 với tổng
điểm TSĐH có hệ số tương quan r = 0.159, = 0.01 khá thấp chưa nói lên được
mức độ tác động đáng kể của học lực lớp 12 lên tổng điểm TSĐH.
Đặt giả thiết H0: Học lực lớp 12 độc lập với tổng điểm TSĐH.
Kết quả kiểm nghiệm mối quan hệ giữa 2 biến “Học lực lớp 12” và
“Tổng điểm TSĐH” cho kết quả Gamma = 0.296, Sig = 0.000. Ta có mức ý
nghĩa Sig = 0.000 < 0.05 nên ta bác bỏ giả thiết H0. Do đó, học lực lớp 12 và
tổng điểm TSĐH có ảnh hưởng với nhau.
Kết quả điểm trung bình (ĐTB) của các môn học lớp 12
Để thuận tiện cho xử lý và kiểm nghiệm, điểm TSĐH từng môn được
phân nhóm song song với ĐTB các môn lớp 12 gồm 5 nhóm: <5, >=5, >=6,
>=7 và >=8.
Với ĐTB các môn học ở lớp 12, kiểm nghiệm giả thiết H0 cũng được tiến
hành với điểm TSĐH của các môn học tương ứng như sau:
Kết quả kiểm nghiệm ở bảng 3.2 cho thấy có 8/12 môn có tương quan
giữa ĐTB các môn học lớp 12 với điểm TSĐH tác động với nhau, trong đó các
môn Vật lý, Hóa học (khối A); Sinh học (khối B); Toán học, Văn học và Anh
văn (khối D1) tác động mạnh đến điểm TSĐH. Các môn Toán học, Hóa học
(khối B); Lịch sử, Địa lý (khối C) có mức ý nghĩa cao nên chấp nhận giả thiết
H0, vì vậy kết quả các môn học này không có tác động (độc lập) với điểm
TSĐH tương ứng. Bảng 3.2 cũng thể hiện rõ ràng kết quả các môn học khối
D1 tác động mạnh đến điểm TSĐH khối D1, kế đến là khối A. Khối B và C có
môn Sinh học và Văn học tác động đến điểm TSĐH.
việc SV chọn thi vào trường ĐH Sài Gòn, trong đó tác động “Mạnh” và “Rất
mạnh” chiếm 71.5%, đặc biệt mức độ “Rất mạnh” chiếm 38.8%. Mức độ “Rất
ít” và “Không tác động” chỉ chiếm 9.6%.
Kết quả phân tích trên cho thấy yếu tố “Trường ĐH Sài Gòn là trường
công lập” là động cơ tích cực có tác động mạnh mẽ đến việc HS chọn trường
thi.
Điểm chuẩn các năm trước vừa sức thi
Có 87.89% SV cho rằng động cơ “Điểm chuẩn các năm trước vừa sức
thi” ở mức độ từ “Vừa phải” đến “Rất mạnh” có tác động đến việc SV chọn thi
vào trường ĐH Sài Gòn, trong đó tác động “Mạnh” và “Rất mạnh” chiếm
63.1%. Mức độ “Rất ít” và “Không tác động” chỉ chiếm 12.1%.
Kinh nghiệm qua các đợt tư vấn tuyển sinh cho thấy phần lớn HS THPT
chuẩn bị vào ĐH rất quan tâm đến điểm chuẩn TSĐH các năm trước của các
trường ĐH để chọn ngành, chọn trường phù hợp với sở thích, năng lực cá
nhân.
Có điều kiện học tập tốt
Có đến 78.90% SV chọn từ mức độ “Vừa phải” đến “Rất mạnh” cho rằng
yếu tố động cơ “Có điều kiện học tập tốt” có tác động đến việc SV chọn thi
vào trường ĐH Sài Gòn, trong đó mức độ “Vừa phải” chiếm đến 47.5%, mức
độ “Rất mạnh” chiếm tỉ lệ rất thấp 7.0%, mức độ “Mạnh” chiếm 24.5%. Mức
độ “Rất ít” và “Không tác động” chiếm 21.1%.
Số liệu trên đây thể hiện yếu tố “Có điều kiện học tập tốt” không phải là
yếu tố tác động mạnh đến việc chọn trường của SV mà chỉ góp phần tác động
vào quyết định chọn trường.
Có dịch vụ hỗ trợ SV tốt
Tương tự như yếu tố “Có điều kiện học tập tốt”, “Có dịch vụ hỗ trợ SV tốt”
cũng là yếu tố góp phần tác động vào quyết định chọn trường thi của HS. Yếu tố
này cũng góp phần quan trọng trong suốt quá trình học ĐH của SV. 64.40% SV
chọn động cơ “Có dịch vụ hỗ trợ SV tốt” ở mức độ từ “Vừa phải” đến “Rất
câu hỏi 3 của phiếu trao đổi ý kiến – xem phụ lục 3) như sau:
Học thêm
Bảng 3.6 cho thấy có 60.3% SV chọn đầu tư “Học thêm” ở mức độ từ
“Rất nhiều” và “Nhiều”, chỉ có 6.0% không đầu tư cho việc học thêm khi còn
học THPT.
Kiểm nghiệm Chi-Square 2 biến “Học thêm” và “Khối thi” có kết quả
Chi-Square = 59.061, df = 12, p-value = 0.000 (bảng 3.7) cho thấy khối A và
khối D1 chọn đầu tư nhiều việc học thêm, khối B và khối C đầu tư ở mức
trung bình.
Ngoài ra, luận văn còn tìm ra mối tương quan giữa yếu tố học thêm với
điểm các môn thi TSĐH.
Vật chất, thiết bị học tập
Chỉ có 23.8% SV chọn đầu tư “Rất nhiều và “Nhiều”, hơn 1 nửa đầu tư
“Vừa phải” (52.9%). Số không đầu tư cũng rất thấp 7.2%. Tuy khả năng đầu tư
vật chất, thiết bị chưa cao nhưng số liệu thu được thể hiện sự quan tâm của SV
trong việc trang bị cho mình cơ sở vật chất phục vụ học tập khi còn học THPT.
Lập kế hoạch học tập cụ thể
Kết quả thống kê cho thấy có 276 / 834 phiếu (33.1%) chọn đầu tư ở mức
độ “Rất nhiều” và “Nhiều”, có gần một nửa phiếu (43.0%) chọn mức độ đầu tư
“Vừa phải” cho việc lập kế hoạch học tập cho riêng mình. Những SV không
đầu tư cho việc lập kế hoạch học tập ở THPT chiếm tỉ lệ rất thấp 6.5%.
Tìm phương án học tập phù hợp với từng môn học
36.1% SV chọn đầu tư cho việc tìm phương án học tập phù hợp với từng
môn học ở mức độ “Rất nhiều” và “Nhiều”, ở mức độ đầu tư “Vừa phải”
chiếm gần 1 nửa (41.8%). Mức độ “Không đầu tư” chỉ chiếm 5.0%.
Tóm tắt bài theo cách thức riêng để dễ học, dễ nhớ
81.60% SV có thói quen “Tóm tắt bài để dễ học, dễ nhớ” ở mức độ từ
“Vừa phải” đến “Rất mạnh”, trong đó có đến 44.1% đầu tư ở mức độ “Rất
nhiều” và “Nhiều”. Chỉ có 4.6% là “Không đầu tư”.
Có đến 616 / 834 (73.9%) phụ huynh quan tâm đến việc HS thi vào ĐH
Sài Gòn, điều này có tác động rất lớn đến động cơ thi vào ĐH Sài Gòn của HS.
4, tổng điểm TSĐH từ 21 điểm trở lên là cao nhất 84.4%, nhóm 3 là
75.3%, nhóm 2 là 73.3% và nhóm 1 là 71.1%.
Thành phần gia đình
Bảng 3.18 thể hiện phần lớn thành phần gia đình của SV trước khi thi vào
ĐH là nông dân chiếm 43.9%, các thành phần còn lại phân bố đều trong
56.1%. Điều này cũng thể hiện phần lớn HS thuộc gia đình nông dân nỗ lực
học tập để thi đậu vào ĐH. Đây còn là tư tưởng, ý chí phấn đấu của các gia
đình nông dân mong cho con của họ học tập nên người thoát khỏi cảnh nghèo,
cơ cực. Yếu tố này tác động gián tiếp đến điểm TSĐH qua các yếu tố ý chí
quyết tâm, nỗ lực trong học tập, động viên của gia đình…
Đời sống gia đình
93.8% đời sống gia đình của SV trước khi thi vào ĐH ở mức độ từ “Bình
thường” đến “Rất nghèo” (bảng 3.19), trong đó cao nhất là đời sống ở mức
trung bình là 54.0%, tiếp theo là nghèo 28.30% và rất nghèo là 11.51%, trong
khi “Rất giàu” và “Giàu” chỉ chiếm 6.2%. Số liệu này cũng thể hiện khả năng
nghèo vượt khó của HS để tìm cho mình tương lai tốt đẹp hơn. Nghiên cứu của
Ram Chandra Pokharel [42] cho thấy “SV thuộc gia đình nghèo có kết quả học
tập tốt hơn ở ĐH Tribhuvan”.
Cha mẹ kiểm tra, đôn đốc việc học tập
Ở yếu tố này, có đến 48% cha mẹ kiểm tra, đôn đốc việc học tập của HS
ở mức độ “Rất thường xuyên” và “Thường xuyên”, mức độ “Thỉnh thoảng”
33.0%, mức độ “Không quan tâm” chiếm tỉ lệ rất nhỏ 3.7%, “Ít khi” chiếm
15.3% (bảng 3.20).
Nhìn chung trên 70% cha mẹ có quan tâm kiểm tra, đôn đốc việc học tập
của HS. Yếu tố này cũng tác động tích cực đến điểm TSĐH của SV.
Phương pháp giáo dục của cha mẹ
Kết quả thu thập được khá bất ngờ khi có đến 42.33% phương pháp giáo
i
là biến độc lập (independent) hay biến
giải thích (explanatory), và là sai số. 2 tham số (paramater) và còn gọi là
hệ số hồi quy (regression coefficient).
Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (multiple linear regression model)
Dựa vào mô hình hồi quy tuyến tính đơn giản phát triển thành mô hình
hồi quy tuyến tính đa biến:
y
i
= +
1
x
1i
+
2
x
2i
+ … +
k
x
ki
+
i
trong đó (x
1i
, x
2i
, …, x
ki
từ 0.012 đến 0.192 tương
ứng với khả năng dự đoán từ 1.2% đến 19.2%. Do kết quả phân tích hồi quy
thấp nên chúng tôi chỉ chọn xét những mô hình có giá trị R
2
>= 0.1
(>= 10%), vậy có 19 mô hình riêng (các mô hình riêng được in đậm trong
bảng 3.22 và 3.23.
Bảng 3.24, 3.25, 3.26 và 3.27 thể hiện các mô hình hồi quy tuyến tính dự
đoán tổng điểm TSĐH gồm 8 mô hình thuộc khối A, 8 mô hình thuộc khối D1,
2 mô hình thuộc khối B và 1 mô hình thuộc khối C, không có mô hình thuộc 4
khối.
Các mô hình thuộc khối A, yếu tố ĐTB môn Vật lý lớp 12 và thành phần
gia đình là trí thức có mức ý nghĩa cao p < 0.01, yếu tố rèn luyện kỹ năng và
điều kiện học tập ở nhà là học chung với anh, chị em có mức ý nghĩa 0 < 0.05.
Khả năng dự đoán của các mô hình từ 10.7% đến 17.5%, chủ yếu tác động
mạnh từ ĐTB môn Vật lý lớp 12 và thành phần gia đình là trí thức. Trong đó,
yếu tố ĐTB môn Vật lý lớp 12, tự rèn luyện kỹ năng và thành phần gia đình là
trí thức có tác động thuận chiều; điều kiện học tập ở nhà là học chung có tác
động ngược chiều. Vậy nếu SV học tập tốt môn Vật lý ở THPT sẽ tác động
tích cực đến tổng điểm TSĐH, đặc biệt là điểm TSĐH môn Vật lý, thành phần
gia đình là trí thức cũng có tác động tích cực đến điểm TSĐH. Yếu tố tự rèn
luyện cũng quan trọng, nếu HS tự rèn luyện kỹ năng bằng cách làm bài tập và
tham khảo tài liệu cho mình tốt thì sẽ xây dựng cho mình nền tảng kỹ năng
vững chắc để học tốt các môn học và đạt được kết quả mong muốn trong các
kì thi. Điều kiện học tập tại gia đình là học chung có tác động trái ngược, nghĩa
là nếu học chung với anh, chị, em thì hiệu quả giảm. Kết quả thống kê về điều
kiện học tập tại nhà thì góc học tập có số lượng SV đạt điểm TSĐH tốt. Chúng
tôi có thể nói, yếu tố ĐTB môn Vật lý lớp 12, tự rèn luyện kỹ năng, điều kiện
học tập tại nhà là học chung và thành phần gia đình là trí thức có khả năng dự
đoán và tác động đến tổng điểm TSĐH.
Tóm lại, qua phân tích hồi quy tuyến tính, ta thấy rằng các yếu tố thuộc
nhóm yếu tố 1 có ĐTB môn Vật lý lớp 12 tác động đến tổng điểm TSĐH khối
A, ĐTB môn Văn học lớp 12 tác động đến tổng điểm TSĐH khối C và ĐTB
môn Toán học lớp 12 tác động đến tổng điểm TSĐH khối D1. Các yếu tố
thuộc nhóm 1 có tác động phù hợp với kết quả học tập ở THPT với tổng điểm
TSĐH.
Các yếu tố thuộc nhóm yếu tố 2, chỉ có yếu tố tốt nghiệp dễ tìm việc làm
tác động đến tổng điểm TSĐH ở khối B.
Nhóm yếu tố 3, yếu tố tự rèn luyện kỹ năng bằng cách làm bài tập và
tham khảo tài liệu có tác động đến tổng điểm TSĐH ở khối A, C và D1.
Yếu tố điều kiện học tập là học chung có tác động đến tổng điểm TSĐH
của khối A. Ở khối C, có người thân học tại ĐH Sài Gòn có tác động đến tổng
điểm TSĐH. Thành phần gia đình có tác động đến tổng điểm TSĐH ở khối A
và D1, đặc biệt thành phần gia đình là trí thức, công nhân và nông dân.
Nhìn chung, khối A và khối D1 có nhiều yếu tố tác động tích cực đến
tổng điểm TSĐH so với khối B và khối C.
oOo
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Mỗi khi đến kì thi TSĐH không chỉ sự quan tâm, lo lắng của HS, cha mẹ,
thầy cô mà còn là mối quan tâm, lo lắng của toàn xã hội. Nó còn được xem
như bước ngoặt của đời người trên con đường học vấn. Thành, bại trong thi cử
liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó yếu tố bản thân là quan trọng nhất, giúp
HS đủ tin tự bước vào kì thi.
Mỗi HS khi còn học phổ thông, đa số đều xác định cho mình một hướng
đi cho tương lai để dựa vào đó chọn khối thi, ngành thi phù hợp với khả năng,