Nghiên cứu một số tác động của các yếu tố đến điểm tuyển sinh đại học (nghiên cứu tại trường đại học sài gòn) - Pdf 10

Nghiên cứu một số tác động của các yếu tố
đến điểm tuyển sinh đại học (nghiên cứu tại
trường đại học Sài Gòn)

Đỗ Đình Thái

Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục
Luận văn Thạc sĩ ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
Người hướng dẫn: PGS. TS. Phạm Văn Quyết
Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Trình bày cơ sở lý luận về tác động của các yếu tố đến điểm tuyển sinh đại
học (TSĐH). Nghiên cứu thực trạng điểm TSĐH các khối A, B, C và D1 vào trường
ĐH Sài Gòn từ năm 2008 – 2010. Nghiên cứu tác động của các yếu tố liên quan đến cá
nhân và gia đình thí sinh đến điểm TSĐH, chỉ ra phương thức tác động của các yếu tố
đó đến điểm TSĐH vào trường ĐH Sài Gòn. Tổng hợp thông tin, số liệu và đề xuất
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tuyển sinh đầu vào tại trường ĐH Sài Gòn.

Keywords: Tuyển sinh đại học; Giáo dục đại học; Đánh giá chất lượng; Điểm thi;
Trường đại học Sài Gòn

Content
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập và phát triển, ngành giáo dục luôn được quan tâm hàng đầu, nhất
là chất lượng giáo dục đại học. Trong những năm gần đây chất lượng sinh viên (SV) thi đậu
đại học ngày càng cao. Áp dụng chủ trương 3 chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ
GD&ĐT) đã tạo nên một bình diện rộng để các trường có thể cùng tham gia công tác tuyển
sinh hằng năm.
Nâng cao chất lượng giáo dục ĐH ngoài việc cải tiến quá trình đào tạo thì yếu tố đầu vào

TSĐH vào ĐH Sài Gòn cần phải khảo sát với tất cả số thí sinh đã từng tham gia các kỳ thi
tuyển sinh vào ĐH Sài Gòn. Hơn nữa, đó là công việc càng khó khăn hơn đối với một học viên
cao học. Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi chỉ xem xét với số thí sinh đã tham
gia thi tuyển sinh, trúng tuyển và hiện đang học tại Trường (chủ yếu nghiên cứu trên SV năm
thứ nhất (khóa 2010) và thứ hai (khóa 2009), những khóa đầu của các ngành đào tạo ĐH), thi
đầu vào các khối A, B, C và D1 vào trường ĐH Sài Gòn.
Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu một số tác động của các yếu tố
đến điểm TSĐH của SV năm thứ nhất và năm thứ hai các khối A, B, C và D1 đang theo học
tại ĐH Sài Gòn.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu nhằm khảo sát và phân tích một số tác động của các yếu tố
đến điểm TSĐH tại trường ĐH Sài Gòn. Nghiên cứu này hướng đến các mục tiêu:
- Nghiên cứu thực trạng điểm TSĐH các khối vào trường ĐH Sài Gòn trong thời gian
gần đây.
- Nghiên cứu tác động của các yếu tố liên quan đến cá nhân và gia đình thí sinh đến
điểm TSĐH.
- Chỉ ra phương thức tác động của các yếu tố đó đến điểm TSĐH vào trường ĐH Sài
Gòn.
- Tổng hợp thông tin, số liệu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tuyển sinh
đầu vào tại trường ĐH Sài Gòn.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập thông tin
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng kết hợp cả phương pháp định tính và định
lượng. Mục đích của việc kết hợp hai phương pháp này là nhằm có đầy đủ bằng chứng với
tính thuyết phục cao để kiểm chứng giả thuyết đồng thời cũng nhằm tìm kiếm phát hiện các
vấn nảy sinh từ sự tác động này.

3
- Các phương pháp định tính được sử dụng chủ yếu là phương pháp phỏng vấn sâu và
phân tích các tài liệu. Các phỏng vấn sâu sẽ tập trung vào các đối tượng là đại diện các SV ở

Người thân trong gia đình đã học tại ĐH Sài Gòn.
Sự quan tâm của cha mẹ.
Thành phần gia đình.
Đời sống gia đình.
Kiểm tra, đôn đốc của cha mẹ.
Phương pháp giáo dục của gia đình.
4
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Lịch sử nghiên cứu
Trong thực tế, chúng ta thấy rằng có những HS đạt điểm rất tốt trong kì thi TSĐH nhưng
bên cạnh đó có những em thất bại. Có rất nhiều quan niệm rất khác nhau về vấn đề trên: nhiều
quan niệm cho rằng có sự khác nhau về khu vực sống điển hình như khu vực thành thị có điều
kiện học tập tốt nên sẽ thành công hơn trong kì thi tuyển sinh, có một số quan niệm lại cho rằng
có sự khác nhau về tuổi tác và giới tính cũng ảnh hưởng tới điểm thi ĐH, cụ thể nam giới có
điểm thi tốt hơn nữ giới, một số quan niệm khác cho rằng do chỉ số IQ cao và thân thể khỏe
mạnh ảnh hưởng đến điểm TSĐH.
Nói đến các yếu tố tác động đến kết quả học tập của SV, điểm TSĐH, chất lượng đào
tạo, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động như yếu tố gia đình, xã hội, môi
trường xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa, đạo đức, môi trường tâm sinh lí HS,
nhà trường, mối quan hệ cộng đồng, bản thân, sự hài lòng của gia đình, tổ chức, phương tiện
truyền thông, ….
Sau đây là một số công trình nghiên cứu của nước ngoài ảnh hưởng đến kết quả học
tập, chất lượng đào tạo:
1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Rosemary Win and Paul W. Miller (2001), Trung tâm nghiên cứu thị trường lao động –
ĐH Miền tây Úc: ―Tác động của các yếu tố bản thân và học đường đến hoạt động giáo dục của

Trên đây là một số nghiên cứu liên quan đến các yếu tố tác động đến kết quả học tập,
thi, kiểm tra và chất lượng đào tạo. Các nhà nghiên cứu đưa ra rất nhiều ý kiến, nghiên cứu
khác nhau nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo, cải thiện thành tích học tập, chọn
ngành nghề, cải thiện tâm lý, môi trường giáo dục HS, SV. Bên cạnh đó, còn có một số
nghiên cứu khác như: Xem xét hiệu quả của quy mô trường trung học đến thành tích học tập
[32], Vai trò của các thành viên trong trường học thúc đẩy sự thành công của SV qua mối liên
kết nhà trường – gia đình [33], Tác động của quy mô nhà trường đến hiệu quả thi cử ở trường
trung học cơ sở [31], Tương quan cộng tác văn hóa trường học với thành tích của SV [35],
Cha mẹ có tạo nên sự khác biệt trong thành tích học tập của con mình? Sự khác nhau giữa
các cha mẹ của những SV đạt thành tích cao và thấp [37], Kiểm tra lại tầm quan trọng của
quản lý trường học ảnh hưởng trực tiếp đến thành tích của SV [39], Đặc điểm cấu trúc trường
học, nỗ lực của SV, phối hợp của bạn bè và yếu tố liên quan đến gia đình: Ảnh hưởng của các
yếu tố trường học, cá nhân đến thành tích học tập [47], Các yếu tố ảnh hưởng thành tích học
tập [41], Tác động của mức sống gia đình, giáo dục của cha mẹ và các yếu tố cơ bản khác đến
giáo dục THPT tại Canada [44], Môi trường học tập trong lớp học [19], Hình thành năng lực
nghiên cứu khoa học cho SV - điều kiện cơ bản để nâng cao chất lượng đào tạo [15].
Qua khảo sát các nghiên cứu liên quan, chúng tôi thấy các nghiên cứu kể trên chủ yếu đề
cập đến tác động của các yếu tố đến chất lượng đào tạo, thành tích học tập, tâm sinh lý,… nhưng
tác động của các yếu tố đến điểm TSĐH chưa được quan tâm. Sau đây chúng tôi xây dựng khung
lý thuyết mô tả các yếu tố tác động đến điểm TSĐH.
1.1.3. Khung lý thuyết
Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên các nghiên cứu liên quan đến các yếu tố tác
động đến kết quả học tập, kết quả thi, kiểm tra theo giả thiết đã đề nghị như sau: 6

1.2. Một số khái niệm cơ bản
Trong phần này chúng tôi trình bày một số khái niệm cơ bản của các tính chất, đối
tượng liên quan đến nghiên cứu.

10
19
14 đến dưới 15
29
25
20
21
95
Các yếu tố tác động

Thành tích học
tậ p ở bậc PT
Họ c lực lớp 12.
ĐTB các môn
họ c dự thi
ĐH.
Động cơ thi vào
ĐH Sài Gòn
Trường gầ n nhà .
Có ngành nghề yêu
thích.
Tố t nghiệ p dễ tìm việ c
là m.
Trường công lậ p.
Điể m chuẩ n vừa sức
thi.
Điề u kiệ n họ c tậ p
tố t.
Dị ch vụ hỗ trợ SV
tố t.

củ a cha
mẹ .
Thà nh
phầ n gia
đ ình.
Đời số ng
gia đ ình.
Sự kiể m
tra, đ ôn
đốc việ c
họ c.
Phương
pháp giáo
dụ c.
Kế t quả thi, kiể m tra

7
Khối
Tổng điểm TSĐH
A
B
C
D1
Cộng
15 đến dưới 16
51
20
36
38
145

21 đến dưới 22
12
0
1
5
18
22 đến dưới 23
1
0
2
2
5
23 đến dưới 24
2
0
2
1
5
24 đến dưới 25
0
2
0
1
3
25 đến dưới 26
0
0
0
0
0

Bảng 2.5. Thống kê Tổng điểm TSĐH theo 4 nhóm
Nhóm
Tổng điểm TSĐH
A
B
C
D1
Cộng
1
Dưới 15 điểm
38
25
20
31
114
2
Từ 15 đến17.75 điểm
149
60
125
168
502
3
Từ 18 đến 20.75
điểm
63
22
38
63
186


8
Kết quả xử lý thống kê cho thấy tương quan giữa học lực lớp 12 với tổng điểm TSĐH có
hệ số tương quan r = 0.159, = 0.01 khá thấp chưa nói lên được mức độ tác động đáng kể của
học lực lớp 12 lên tổng điểm TSĐH.
Đặt giả thiết H0: Học lực lớp 12 độc lập với tổng điểm TSĐH.
Kết quả kiểm nghiệm mối quan hệ giữa 2 biến ―Học lực lớp 12‖ và ―Tổng điểm TSĐH‖
cho kết quả Gamma = 0.296, Sig = 0.000. Ta có mức ý nghĩa Sig = 0.000 < 0.05 nên ta bác bỏ
giả thiết H0. Do đó, học lực lớp 12 và tổng điểm TSĐH có ảnh hưởng với nhau.
Kết quả điểm trung bình (ĐTB) của các môn học lớp 12
Để thuận tiện cho xử lý và kiểm nghiệm, điểm TSĐH từng môn được phân nhóm song
song với ĐTB các môn lớp 12 gồm 5 nhóm: <5, >=5, >=6, >=7 và >=8.
Với ĐTB các môn học ở lớp 12, kiểm nghiệm giả thiết H0 cũng được tiến hành với điểm
TSĐH của các môn học tương ứng như sau:
Kết quả kiểm nghiệm ở bảng 3.2 cho thấy có 8/12 môn có tương quan giữa ĐTB các môn
học lớp 12 với điểm TSĐH tác động với nhau, trong đó các môn Vật lý, Hóa học (khối A);
Sinh học (khối B); Toán học, Văn học và Anh văn (khối D1) tác động mạnh đến điểm TSĐH.
Các môn Toán học, Hóa học (khối B); Lịch sử, Địa lý (khối C) có mức ý nghĩa cao nên chấp
nhận giả thiết H0, vì vậy kết quả các môn học này không có tác động (độc lập) với điểm TSĐH
tương ứng. Bảng 3.2 cũng thể hiện rõ ràng kết quả các môn học khối D1 tác động mạnh đến
điểm TSĐH khối D1, kế đến là khối A. Khối B và C có môn Sinh học và Văn học tác động đến
điểm TSĐH.
Qua phân tích tương quan giữa học lực lớp 12 với tổng điểm TSĐH và ĐTB các môn
dự thi TSĐH với môn thi TSĐH tương ứng, cho thấy thành tích học tập có tác động tích cực
đến điểm TSĐH.
3.1.2. Các yếu tố tạo động cơ thi vào trường ĐH Sài Gòn
Động cơ thi vào trường ĐH Sài Gòn được điều tra trên 15 nội dung (tại câu 7, phần 1
của Phiếu trao đổi ý kiến), thực hiện trên thang đo likert 5 mức độ: 1 – Rất mạnh, 2 – Mạnh,
3 – Vừa phải, 4 – Rất ít, 5 – Không tác động.
Kết quả thống kê số liệu từ Phiếu trao đổi ý kiến về các yếu tố tạo động cơ thi vào ĐH Sài

ĐH rất quan tâm đến điểm chuẩn TSĐH các năm trước của các trường ĐH để chọn ngành,
chọn trường phù hợp với sở thích, năng lực cá nhân.
Có điều kiện học tập tốt
Có đến 78.90% SV chọn từ mức độ ―Vừa phải‖ đến ―Rất mạnh‖ cho rằng yếu tố động
cơ ―Có điều kiện học tập tốt‖ có tác động đến việc SV chọn thi vào trường ĐH Sài Gòn,
trong đó mức độ ―Vừa phải‖ chiếm đến 47.5%, mức độ ―Rất mạnh‖ chiếm tỉ lệ rất thấp 7.0%,
mức độ ―Mạnh‖ chiếm 24.5%. Mức độ ―Rất ít‖ và ―Không tác động‖ chiếm 21.1%.
Số liệu trên đây thể hiện yếu tố ―Có điều kiện học tập tốt‖ không phải là yếu tố tác
động mạnh đến việc chọn trường của SV mà chỉ góp phần tác động vào quyết định chọn
trường.
Có dịch vụ hỗ trợ SV tốt
Tương tự như yếu tố ―Có điều kiện học tập tốt‖, ―Có dịch vụ hỗ trợ SV tốt‖ cũng là yếu tố
góp phần tác động vào quyết định chọn trường thi của HS. Yếu tố này cũng góp phần quan trọng
trong suốt quá trình học ĐH của SV. 64.40% SV chọn động cơ ―Có dịch vụ hỗ trợ SV tốt‖ ở mức
độ từ ―Vừa phải‖ đến ―Rất mạnh‖ có tác động đến việc SV chọn thi vào trường ĐH Sài Gòn,
trong đó tác động ―Mạnh‖ và ―Rất mạnh‖ chỉ chiếm 22.2%, mức độ ―Vừa phải‖ chiếm đến
42.2%. Mức độ ―Rất ít‖ và ―Không tác động‖ chiếm đến 35.6%.
Có cơ hội làm việc và ở lại thành phố Hồ Chí Minh
Động cơ ―Có cơ hội làm việc và ở lại thành phố Hồ Chí Minh‖ cho kết quả 71.8% ở mức
độ từ ―Vừa phải‖ đến ―Rất mạnh‖ có tác động đến việc SV chọn thi vào trường ĐH Sài Gòn,
trong đó tác động ―Mạnh‖ và ―Rất mạnh‖ chiếm 38.3%, mức độ ―Vừa phải‖ chiếm tỉ lệ cao
nhất 33.5% Mức độ. ―Rất ít‖ và ―Không tác động‖ chiếm 28.3%.
Yếu tố này, ta dễ dàng nhận ra có 71.80% SV cho rằng có tác động thì tác động này có
thể nói là tác động mạnh vì số lượng SV khảo sát gồm cả sinh ở thành phố Hồ Chí Minh và ở
các tỉnh. Tuy vậy, yếu tố này cũng chỉ là yếu tố thứ yếu trong một vài động cơ của SV trong
việc chọn trường.
Ngoài các yếu tố động cơ thi vào ĐH Sài Gòn đã phân tích ở trên. Chúng tôi còn tìm

10
thấy mối tương quan giữa 2 động cơ ―Trường ĐH Sài Gòn là trường công lập‖ với ―Điểm

ở THPT chiếm tỉ lệ rất thấp 6.5%.
Tìm phương án học tập phù hợp với từng môn học
36.1% SV chọn đầu tư cho việc tìm phương án học tập phù hợp với từng môn học ở
mức độ ―Rất nhiều‖ và ―Nhiều‖, ở mức độ đầu tư ―Vừa phải‖ chiếm gần 1 nửa (41.8%). Mức
độ ―Không đầu tư‖ chỉ chiếm 5.0%.
Tóm tắt bài theo cách thức riêng để dễ học, dễ nhớ
81.60% SV có thói quen ―Tóm tắt bài để dễ học, dễ nhớ‖ ở mức độ từ ―Vừa phải‖ đến
―Rất mạnh‖, trong đó có đến 44.1% đầu tư ở mức độ ―Rất nhiều‖ và ―Nhiều‖. Chỉ có 4.6% là
―Không đầu tư‖.
Tự rèn luyện kỹ năng bằng cách làm bài tập và tham khảo tài liệu
Tự rèn luyện kỹ năng cũng nhằm mục đích đạt kết quả cao trong học tập, thi cử, trong

11
đó có thi TSĐH và đây cũng là yếu tố tác động đến kết quả TSĐH vì có 505 / 834 phiếu
(60.6%) đầu tư ―Nhiều‖ và ―Rất nhiều‖, 28.8% đầu tư ở mức độ ―Vừa phải‖ và số SV
―Không đầu tư‖ là rất thấp 3.3%.
Ngoài ra, yếu tố ―Tìm phương án học tập phù hợp với từng môn học‖ có tác động và hỗ
trợ lẫn nhau với yếu tố ―Tự rèn luyện‖, hệ số tương quan r = 0.401, = 0.01.
Nhìn chung, khả năng đầu tư cho các môn thi vào ĐH, SV chủ yếu đầu tư vào nhiều
việc ―Học thêm‖, ―Tự rèn luyện kỹ năng bằng cách làm bài tập và tham khảo tài liệu‖. Mối
tương quan thuận giữa ―Lập kế hoạch học tập cụ thể‖ với ―Tìm phương án học tập phù hợp
với từng môn học‖, giữa ―Lập kế hoạch học tập cụ thể‖ với ―Tóm tắt bài theo cách thức riêng
để dễ học, dễ nhớ‖ cũng tác động vào việc học để SV trúng tuyển vào ĐH.
3.1.4. Môi trường gia đình
Điều kiện học tập ở nhà
Nhìn chung, điều kiện học tập ở nhà phân bố khá đồng đều ở 3 vị trí học tập: có phòng
riêng 29.2%; học chung với anh, chị, em 34.5%; góc học tập 36.3% (bảng 3.15). Trong đó,
góc học tập chiếm tỉ lệ cao nhất, có thể góc học tập là điều kiện mà cha mẹ HS thường sử
dụng cho con em họ để họ có thể giám sát chặt chẽ thời gian học tập của con mình.
Người thân trong gia đình học tại ĐH Sài Gòn

Nhìn chung trên 70% cha mẹ có quan tâm kiểm tra, đôn đốc việc học tập của HS. Yếu
tố này cũng tác động tích cực đến điểm TSĐH của SV.
Phương pháp giáo dục của cha mẹ
Kết quả thu thập được khá bất ngờ khi có đến 42.33% phương pháp giáo dục của cha
mẹ là ―Thoải mái‖, đây có phải là ―Cha mẹ để HS tự do trong học tập theo cách riêng của
chúng nhưng có kiểm soát không?‖ Hay ―Thoải mái‖ là ―Thôi kệ chúng nó làm gì thì làm,
học gì thì học không quan tâm miễn sao học tập có kết quả tốt‖. Đó là vấn đề đặt ra về
phương pháp giáo dục của cha mẹ, nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng dù gì đi chăng
nữa đối tượng chúng ta khảo sát là SV ĐH (đã trúng tuyển) nên 42.33% phương pháp giáo
dục ―Thoải mái‖ vẫn mang tính tích cực, nghĩa là phương pháp giáo dục của cha mẹ là thoải
mái nhưng có kiểm soát. Phương pháp giáo dục ―Linh hoạt‖ chiếm 22.90% và ―Thấu hiểu‖
23.26%. Phương pháp giáo dục ―Nuông chiều‖ chiếm rất thấp 0.72% và ―Nghiêm khắc‖
chiếm 10.79% (bảng 3.21).
3.2. Phân tích những tác động của các yếu tố đến điểm TSĐH
Dựa trên thực trạng các yếu tố thu thập và xử lý thống kê, luận văn sẽ bàn luận đến
những tác động của các yếu tố đến điểm TSĐH theo 4 nhóm yếu tố gồm: Thành tích học tập;
Động cơ thi vào ĐH Sài Gòn; Sự đầu tư, cố gắng của bản thân và Môi trường gia đình là biến
số độc lập và tổng điểm TSĐH là biến số phụ thuộc.
3.2.1. Mô hình hồi quy chung
Mô hình hồi quy tuyến tính đơn giản (simple linear regression model)
y
i
= + x
i
+
i

trong đó y
i
là biến phụ thuộc (dependent) hay biến đáp ứng (response), là hằng số

) là các biến độc lập và (
1
,
2
, …,
k
) là các độ dốc.
3.2.2. Biến số độc lập
Biến số độc lập đưa vào phân tích trong mô hình hồi quy gồm 4 nhóm yếu tố khảo sát
ban đầu:
Nhóm thứ nhất: Thành tích học tập ở bậc phổ thông.
Nhóm thứ hai: Động cơ thi vào ĐH Sài Gòn.
Nhóm thứ ba: Sự đầu tư, cố gắng của cá nhân.
Nhóm thứ tư: Môi trường gia đình.
3.2.3. Biến số phụ thuộc
Biến số phụ thuộc phân tích trong mô hình hồi quy là tổng điểm TSĐH (3 môn thi TSĐH
không hệ số).

13
3.2.4. Phân tích các yếu tố tác động đến điểm TSĐH
3.2.4.1. Xây dựng các mô hình hồi quy tuyến tính
Các mô hình hồi quy tuyến tính được xây dựng từ các biến số độc lập (gồm 4 nhóm yếu tố)
và biến số phụ thuộc Tổng điểm TSĐH. Luận văn xây dựng 15 mô hình, gồm 4 mô hình đơn
nhóm và 11 mô hình đa nhóm, mỗi mô hình gồm 5 mô hình riêng cho từng khối A, B, C, D1 và
cả 4 khối, vậy tổng cộng có 75 mô hình riêng. Trong 75 mô hình riêng, loại bỏ 28 mô hình riêng
trùng nhau và không có ý nghĩa thống kê, còn lại 47 mô hình riêng (bảng 3.22 và bảng 3.23).
3.2.4.2. Phân tích kết quả
Trong 47 mô hình riêng còn lại, giá trị R
2
từ 0.012 đến 0.192 tương ứng với khả năng

SV đầu tư nhiều cho việc rèn luyện kỹ năng bằng cách làm bài tập và tham khảo tài liệu thì
tổng điểm TSĐH sẽ có kết quả tốt hơn. Ngược lại với 2 yếu tố vừa phân tích, yếu tố thành phần
gia đình là công nhân và nông dân lại tác động ngược chiều, nghĩa là thành phần gia đình
không phải là công nhân hoặc nông dân thì tổng điểm TSĐH tăng. Vậy, ta có thể nói, yếu tố

14
ĐTB môn Toán học lớp 12 và tự rèn luyện kỹ năng có tác động thuận chiều đến tổng điểm
TSĐH, yếu tố thành phần gia đình là công nhân và nông dân có tác động ngược chiều với tổng
điểm TSĐH.
Ở khối B, tác động không mạnh như khối A và D1, chỉ có yếu tố có cơ hội làm việc và ở
lại thành phố Hồ Chí Minh có 1 ít tác động thuận chiều với tổng điểm TSĐH, ngược lại yếu tố
tốt nghiệp dễ tìm việc làm lại tác động ngược chiều với tổng điểm TSĐH. 2 yếu tố nói trên có
mức ý nghĩa thấp p < 0.05. Phân tích hồi quy cho thấy dự đoán từ 11.1% đến 13.0% từ các yếu
tố này đến tổng điểm TSĐH nên ít nhiều gì 2 yếu tố nói trên cũng có tác động đến tổng điểm
TSĐH.
Khối C, các yếu tố ĐTB môn Văn học lớp 12, tự rèn luyện kỹ năng và có người thân học
tại ĐH Sài Gòn có tác động thuận chiều với tổng điểm TSĐH, trong đó yếu tố ĐTB môn Văn
học lớp 12 có mức ý nghĩa cao nhất p < 0.01, 2 yếu tố còn lại có mức ý nghĩa p < 0.05. Khi SV
học tốt môn Văn học ở THPT thì kết quả TSĐH cũng đạt điểm tốt. Tương tự, nếu SV rèn luyện
kỹ năng học tập ở THPT thì cũng có tác động tích cực đến tổng điểm TSĐH. Yếu tố có người
thân học tại ĐH Sài Gòn cũng góp phần tác động đến điểm TSĐH.
Tóm lại, qua phân tích hồi quy tuyến tính, ta thấy rằng các yếu tố thuộc nhóm yếu tố 1
có ĐTB môn Vật lý lớp 12 tác động đến tổng điểm TSĐH khối A, ĐTB môn Văn học lớp 12
tác động đến tổng điểm TSĐH khối C và ĐTB môn Toán học lớp 12 tác động đến tổng điểm
TSĐH khối D1. Các yếu tố thuộc nhóm 1 có tác động phù hợp với kết quả học tập ở THPT
với tổng điểm TSĐH.
Các yếu tố thuộc nhóm yếu tố 2, chỉ có yếu tố tốt nghiệp dễ tìm việc làm tác động đến
tổng điểm TSĐH ở khối B.
Nhóm yếu tố 3, yếu tố tự rèn luyện kỹ năng bằng cách làm bài tập và tham khảo tài liệu
có tác động đến tổng điểm TSĐH ở khối A, C và D1.

Ở yếu tố ĐTB các môn học lớp 12, các môn Vật lý, Hóa học (khối A); Sinh học
(khối B); Văn học (khối C); Toán học, Văn học, Anh văn (khối D1) tác động mạnh đến điểm
TSĐH. Nhìn chung, khối D1 tác động mạnh đến điểm TSĐH, kế đến là khối A; khối B và C ít
tác động. Ngoài ra, trong phần phân tích tác động của các yếu tố, điểm TSĐH được xem xét
với từng môn thi >= 5 điểm thống kê theo ĐTB các môn học lớp 12 thì các môn Toán học, Hóa
học (khối B); Lịch sử, Địa lý (khối C) lại có tỉ lệ SV đạt điểm TSĐH từ trung bình trở lên tỉ lệ
thuận theo mức ĐTB các môn lớp 12 từ >=8 đến >=6.
Như vậy, học lực lớp 12 và ĐTB các môn học lớp 12 có tác động tích cực đến điểm
TSĐH.
Động cơ thi vào ĐH Sài Gòn
Động cơ thi vào trường đại học là yếu tố để HS nỗ lực phấn đấu để đạt được. Các yếu
tố tạo nên động cơ để SV thi vào ĐH Sài Gòn gồm các yếu tố: Trường có ngành nghề yêu
thích; Tốt nghiệp dễ tìm việc làm; Trường ĐH Sài Gòn là trường công lập; Điểm chuẩn các
năm trước vừa sức thi; Điều kiện học tập tốt; Dịch vụ hỗ trợ SV tốt; Cơ hội làm việc và ở lại
thành phố Hồ Chí Minh.
Trong đó, yếu tố trường ĐH Sài gòn là trường công lập có động cơ mạnh nhất tác động
tích cực đến việc chọn trường thi của HS, từ động cơ này các HS mới nỗ lực, cố gắng để thi
đậu vào trường. Bên cạnh đó, yếu tố điểm chuẩn vừa sức thi cũng tạo động cơ mạnh để HS
chọn thi vào trường ĐH Sài Gòn. Các yếu tố còn lại chủ yếu hỗ trợ, góp phần tác động vào
quyết định chọn trường thi của HS.
Sự đầu tư, cố gắng của cá nhân
Đầu tư cho học tập là yếu tố quan trọng tác động đến kết quả học tập, thi, kiểm tra.
Luận văn xem xét trên 6 yếu tố: Học thêm; Vật chất, thiết bị học tập; Lập kế hoạch học tập cụ
thể; Tìm phương án học tập phù hợp với từng môn học; Tóm tắt bài theo cách thức riêng để dễ
học, dễ nhớ; Tự rèn luyện kỹ năng bằng cách làm bài tập và tham khảo tài liệu.
Yếu tố học thêm và tự rèn luyện kỹ năng bằng cách làm bài tập và tham khảo tài liệu có
tác động mạnh đến điểm TSĐH ở các khối A, C và D1. Yếu tố học thêm được SV khối A và
D1 đầu tư nhiều hơn SV khối B và C khi còn học THPT. Kết quả khảo sát còn cho thấy các yếu
tố Lập kế hoạch học tập cụ thể, Tìm phương án học tập phù hợp với từng môn học và Tóm tắt
bài theo cách riêng để dễ học, dễ nhớ ở khối B và C không được SV đầu tư nhiều. Ngoài ra, các

Ý nghĩa nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu góp phần làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực
nghiên cứu tác động của các yếu tố đến kết quả tuyển sinh, thi và kiểm tra.
Giúp trường ĐH Sài Gòn nâng cao chất lượng đầu vào qua công tác tuyển sinh. Tăng
cường công tác tư vấn tuyển sinh dựa vào các yếu tố chiếm ưu thế trong nghiên cứu đã phân
tích.
Số liệu thu thập phục vụ cho việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến điểm TSĐH ở
góc nhìn khác nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng tuyển sinh ĐH.
Bổ sung thêm thông tin vào tài liệu nghiên cứu về các yếu tố tác động đến kết quả
học tập, kết quả thi.
Hỗ trợ nhà trường, gia đình và bản thân học sinh thông tin định hướng cho việc
chuẩn bị thi vào ĐH.
2. Khuyến nghị
TSĐH là vấn đề lớn của toàn xã hội vì vậy mục đích để đạt được kết quả tuyển sinh tốt
cần phải có nhiều yếu tố hỗ trợ. Qua phân tích một số yếu tố từ dữ liệu thu thập được, chúng tôi
có một số khuyến nghị như sau:

17
Trong các yếu tố tác động gián tiếp, HS cần tập trung gia tăng kỹ năng lập kế hoạch học
tập, tìm phương án học tập phù hợp với từng môn học, tóm tắt bài theo cách thức riêng để dễ
học, dễ nhớ hỗ trợ cho kỹ năng tự rèn luyện cho HS ngay từ khi học phổ thông. Việc này có thể
thực hiện bằng cách định hướng cho HS để phục vụ cho việc học của mình. Ngoài ra, tập trung
thay đổi phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS, tạo điều kiện tổ chức
các hoạt động để HS có thể đạt được những kiến thức kĩ năng mới theo yêu cầu của chương
trình.
Đối với cha mẹ học sinh: cần tăng cường, động viên HS theo đuổi năng lực giáo dục của
chính bản thân, định hướng tương lai cho HS theo năng lực, sở trường, sở thích. Tăng cường
giáo dục HS theo hình thức tích cực để HS có thể đạt kết quả học tập tốt. Tạo điều kiện thuận
lợi về vật chất và tinh thần tốt nhất cho HS yên tâm, thoải mái trong học tập.
Trong nghiên cứu cho thấy mức độ ảnh hưởng tác động của công tác tư vấn tuyển sinh còn

học sinh trung học phổ thông‖, Tạp chí Khoa học Giáo dục (62), 32-36.
14. Trần Thị Tuyết Oanh (2009), Giáo trình giáo dục học – tập 2, NXB ĐHSP, Hà nội.
15. Phạm Hồng Quang (2006), ―Hình thành năng lực nghiên cứu khoa học cho SV-điều kiện
cơ bản để nâng cao chất lượng đào tạo‖, Tạp chí Giáo dục (130).
16. Nguyễn Hồng Quang (2006), Môi trường giáo dục, NXB Giáo dục, Hà nội.
17. Phạm Văn Quyết (2009), Thiết kế công cụ đo lường và khảo sát cho nghiên cứu định
lượng, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
18. Thanh (2001). Phương pháp nghiên cứu xã hội
học, NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội.
19. Vũ Thị Sơn (2004), ―Môi trường học tập trong lớp học‖, Tạp chí Giáo dục (102).
20. Nguyễn Thạc (2008), Tâm lí học sư phạm ĐH, NXB ĐHSP, Hà nội.
21. Thái Văn Thành (2007), Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường, NXB ĐH Huế.
22. Tôn Thân (2011), ―Phát hiện và bồi dưỡng tài năng tiềm ẩn trong mỗi con người‖, Tạp
chí Khoa học Giáo dục (65), 9-11.
23. Đỗ Văn Thông (2003), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, khoa Sư phạm, ĐH
An Giang.
24. Đỗ Ngọc Thống (2010), ―Đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông‖,
Tạp chí Khoa học Giáo dục (62), 7-12.
25. Dương Thiệu Tống (2003), Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục,
NXB Khoa học Xã hội.
26. Thái Duy Tuyên (2001), Giáo dục học hiện đại (những nội dung cơ bản), NXB ĐH
Quốc gia Hà Nội.
27. Thái Duy Tuyên (2007), Triết học giáo dục Việt Nam, NXB ĐH Sư phạm, Hà nội.
28. Hoàng Ngọc Vinh (2007), Hướng dẫn dạy và học trong giáo dục ĐH, (bản dịch từ tài
liệu ―Guide to Teaching and Learning in Higher Education‖), Hà Nội.
B. Các tài liệu nước ngoài
29. Anne Aidla (2009), The impact of individual and organisational factors on academic
performance in Estonian general educational schools, Doctor Thesis, University of
Tartu, Estonia.
30. Anne T. Henderson và Karen L. Mapp (2002), The Impact of School, Family, and

nd
International Conference on Assessing
Quality in Higher Education, 1
st
– 3
rd
December, 2008, Lahore - Pakistan, Lecturer,
Institute of Education & Research, University of the Punjab, Pakistan.
41. Rainey, D. V. và Murova, O. (2004). Factors influencing education achievement,
Economics, 36 (21), 2397 — 2404.
42. Ram Chandra Pokharel (2008), Factors Influencing Examination Results in Higher
Education for Maximizing Validity and Improving Students’ Pass Rate in Examination

20
System of Tribhuvan University, Nepal.
43. Rosemary Win and Paul W. Miller (2001), The Effects of Individual and School Factors
on University Students’ Academic Performance, The Center for Labour Market
Research, The University of Western Australia.
44. Ross Finnie và Richard Mueller (2008), The Effects of Family Income, Parental
Education and Other Background Factors on Access to Post-Secondary Education in
Canada, Canadian Education Project, Toronto, Ontario, Canada.
45. Shirvani, H. (2007). Effects of teacher communication on parents’ attitudes and their
children’s behaviours at schol, Education, Vol. 128 (1), pp. 34 – 47.
46. S.S. Umar, I.O. Shaib, D.N. Aituisi, N.A. Yakubu và O. Bada (2010), The Effect of
Social Factors on Students’ Academic Performance in Nigerian Tertiary Institutions,
University of Nebraska - Lincoln, Nigeria.
47. Stewart, E. B. (2008). School Structual Characteristics, Student Effort, Peer
Associations, and Parental Involvement: The Influence of School-and Individual-Level
Factors on Academic Achievement, Education and Urban Society, Vol. 40 (2), pp. 179 –
204.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status