1
(Thc hin theo Hp ng Nghiờn cu khoa hc v Phỏt trin cụng ngh s
028.09.RD/H-KHCN ký ngy 25 thỏng 02 nm 2009 gia B Cụng Thng
v Vin Cụng nghip Thc phm)
Chủ nhiệm Đề tài :
ThS. đỗ thanh hà
ngời thực hiện :
TS. Bùi Quang Thuật
TS. Lý Ngọc Trâm
ThS. Bùi Thị Bích Ngọc
ThS. Nguyễn Trung Hiếu
KS. Nguyễn Thị Quỳnh Trang
KS. Lê Trung Lam
7844
07/4/2010
Hà nội, tháng 12 - 2009 2
LỜI CẢM ƠN
Đề tài chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ
Công thương đã tạo điều kiện giúp đỡ và cấp kinh phí cho chúng tôi thực hiện
1.1.4. Thành phần hoá học của rễ cỏ hương bài 11
1.2. Giới thiệu về tinh dầu hương bài
11
1.2.1. Tính chất hoá lý
11
1.2.2. Thành phần hoá học của tinh dầu hương bài
12
1.2.3. Công thức hoá học của một số hợp chất chính có mặt trong
tinh dầ
u hương bài
13
1.3.
Các phương pháp khai thác tinh dầu
15
1.3.1.
Phương pháp chưng cất15
1.3.2.
Phương pháp trích ly17
1.4. Ứng dụng của rễ cỏ hương bài và tinh dầu hương bài
20
29
2.1.5. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công
nghệ đến quá trình tinh chế tinh dầu hương bài
30
2.1.6. Phương pháp phân tích và đánh giá chất lượng sản phẩm 30
2.1.6.1. Phương pháp xác định một sô chỉ tiêu hóa lý
30
2.1.6.2. Phương pháp xác định thành phần hóa học của tinh dầu
hương bài
31
2.2.
Thiết bị, dụng cụ, nguyên vật liệu và hóa chất sử dụng cho nghiên
cứu
31
2.2.1. Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm
31
2.2.2.
Nguyên liệu và hoá chất sử dụng
32
2.2.2.1. Nguyên liệu 32
2.2.2.2. Hóa chất thí nghiệm 33
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN
35
3.1. Kết quả khảo sát chung về nguyên liệu 35
3.2. Kết quả lựa chọn phương pháp khai thác các hợp chất tạo hương
3.6. Ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ đến quá trình tinh chế tinh
dầu hương bài
54
3.6.1.
Kết quả nghiên cứu lựa chọn dung môi tinh chế thích hợp
54
3.6.2. Kết quả nghiên cứu lựa chọn số lần trích ly lại thích hợp
54
3.6.3. Kết quả nghiên cứu lựa chọn tỷ lệ tinh dầu thô/dung môi
56
3.7. Qui trình công nghệ tinh chế tinh dầu hương bài 57
3.8. Sản xuất thực nghi
ệm tinh dầu hương bài 59
3.9. Phân tích, đánh giá chất lượng tinh dầu hương bài 60
3.9.1. Xác định một số chỉ tiêu hoá lý của tinh dầu hương bài
60
3.9.2. Thành phần các hợp chất bay hơi trong tinh dầu hương bài
61
3.9.3.
Xác định một số chỉ tiêu kim loại nặng và các chỉ tiêu khác
62
3.10. Ứng dụng sản phẩm tinh dầu hương bài vào thực tế sản xuất
thực phẩm và dược phẩm
63
KẾT LUẬN
đế
n thế kỷ thứ 17, tinh dầu đã được sử dụng để làm thơm cho tóc và da mặt, dùng
chữa bệnh và dùng trong đời sống hàng ngày của con người. Từ thế kỷ 17 tinh
dầu được dùng nhiều để làm mỹ phẩm, làm thuốc và dùng trong công nghiệp với
phạm vi rộng hơn [12].
Trong những năm gần đây, trên thế giới người dân có xu hướng thích
dùng những sản phẩm thực phẩm, dược phẩm, m
ỹ phẩm có nguồn gốc từ tự
nhiên, không độc hại. Do vậy, những loại cây cho tinh dầu quí, có tính ứng dụng
cao trong nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống đã được các nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu khai thác và chế biến nhằm nâng cao giá trị sử dụng của chúng.
Một trong những loại nguyên liệu để sản xuất tinh dầu đang được các nhà khoa
học trên thế giới và ở Việt Nam quan tâm là cỏ h
ương bài.
Theo nhiều tài liệu, cỏ hương bài có nguồn gốc từ Ấn Độ, chúng mọc
hoang ở các vùng đất cát. Từ xa xưa, người dân đã phát hiện ra rễ hương bài tính
mát, có tác dụng hạ nhiệt, làm ra mồ hôi, kích thích, lợi tiêu hóa, gây trung tiện,
lợi tiểu và điều kinh nên đã sử dụng nó như một vị thuốc [3].
Tinh dầu chiết tách từ rễ hương bài có
hương vị đặc trưng,
là mộ
t loại tinh
dầu an toàn, không độc hại nhưng có thành phần khá phức tạp, chứa trên 100 cấu
tử được nhận dạng mà chủ yếu là các thành phần chất thơm có giá trị, có nhiệt độ
bay hơi cao (như: khusimol, spathulenol, terpinen-4-ol, khusimone, valerenol,
vertiven, furfurol, các axít vetivenic- benzoic dưới dạng ete của vetivenol…) nên
được sử dụng làm chất định hương cho các tổ hợp hương liệu cho thực phẩm và
nước hoa cao cấp. Bên cạnh đó, nó có đặc tính kháng khuẩn, kích thích tuần hoàn,
giúp cân b
công nghệ trích ly bằng CO
2
lỏng ở trạng thái siêu tới hạn chưa thể áp
dụng rộng rãi trong điều kiện nước ta do thiết bị phức tạp và đắt tiền.Hiện nay, vùng nguyên liệu hương bài ở nước ta đang phát triển mạnh,
đòi hỏi phải tìm được đầu ra ổn định, vững chắc, đồng thời cần nâng cao giá trị
sử dụng của chúng. Mặt khác, việc sản xuất và sử
dụng tinh dầu hương bài đang
là nhu cầu cấp thiết của nhiều doanh nghiệp trong nước.
Để nâng cao giá trị kinh tế cho cây hương bài, khai thác được nguồn tài
nguyên thiên nhiên quí giá của đất nước, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nông
dân những vùng sâu, vùng xa đồng thời để có thể tìm được đầu ra vững chắc cho
loại cây này, thúc đẩy sản xuất một số mặt hàng thực phẩm, dược phẩm, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứ
u công nghệ khai thác và ứng dụng tinh
dầu hương bài Việt Nam”, với mục tiêu: Tạo ra qui trình công nghệ mới để
sản xuất tinh dầu hương bài cho hiệu suất thu nhận và chất lượng sản phẩm
cao. Đây là việc làm vừa có ý nghĩa khoa học, vừa mang tính thực tiễn cao. 9
TÓM TẮT NHIỆM VỤ
1. Mục tiêu của đề tài:
Xây dựng được qui trình công nghệ khai thác và tinh chế tinh dầu hương
bài để ứng dụng trong sản xuất thực phẩm và dược phẩm.
2. Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu phân tích và đánh giá chất lượng nguyên liệu hương bài Việt Nam.
- Nghiên cứu công nghệ cho việc khai thác các hợp chất tạo hương vị từ rễ
Vetiveria zizanioides L. là một loài cỏ sống lâu năm thuộc họ hoà thảo.
Tên chi
Vetiveria bắt nguồn từ Vetiver, tên gọi Vetiver có nguồn gốc từ tiếng Tamil
[2,8,
11].
Cỏ hương bài có nguồn gốc từ Ấn Độ, mọc hoang ở các vùng đất cát. Từ
xa xưa, người dân đã phát hiện ra rễ hương bài tính mát, có tác dụng hạ nhiệt,
làm ra mồ hôi, kích thích, lợi tiêu hóa, gây trung tiện, lợi tiểu và điều kinh nên
đã sử dụng nó như một vị thuốc [3]. Ngoài ra,
nhờ chùm rễ hương bài đan xen ăn
sâu trong đất và có thể chịu được lực bằng 1/6 lần so với chịu lực của bê tông
nên
c
ây có thể phát triển tốt ở vùng đất cát, đất đồi núi, dễ
trồng, có khả năng kiểm
soát xói mòn tốt trong các khu vực có khí hậu nóng, có vai trò làm hàng rào giữ
ổn định cho các bờ hồ, sông suối, các vùng đất bậc thang, các ruộng lúa, giúp bảo
vệ các công trình đập, kênh, đường bộ, sông hồ thuỷ điện Do đó, trồng loài cỏ
này được xem như xây dựng một hàng rào bê tông sinh học chống lại sói mòn và
bảo vệ đất đai. Hệ thống rễ này phát triển thành mạng lưới dày đặc giữ cho đấ
t kết
dính lại, đồng thời không cho đất bị bật ra khi gặp những dòng chảy có vận tốc
lớn. Thêm vào đó, thân cỏ mọc đứng và vươn thẳng nếu trồng sát nhau sẽ làm
giảm vận tốc dòng chảy, chặn được lớp đất bị nước cuốn trôi.
Tại Nam Ấn Độ,
gần thành phố Mysora, nông dân đã trồng cỏ hương bài làm băng cây xanh từ
khoảng 200 năm nay cũng nh
ư nông dân ở Kano, Nigeria cũng đã trồng cỏ
hương bài hàng thế kỷ nay. Ngày nay, chúng được trồng ở hầu khắp các châu
ng theo chiều ngang tương tự như một tấm thảm, cỏ hương bài không có căn
hành, không bò lan, thân rễ đan xen nhau và có thể phát triển rất nhanh. Hệ thống
rễ của cây cỏ hương bài có dạng chùm không mọc trải rộng mà lại mọc thẳng và
sâu xuống đất, kể cả rễ chính, rễ thứ cấp hoặc rễ dạng sợi tới độ sâu khoảng 2-4m,
rộng đến 2,5m sau hai năm trồng. Một
đặc tính quan trọng của rễ loài
Vetiveria
zizanioides L. là có chứa tinh dầu, có mùi thơm đặc trưng của cỏ hương bài,
thường có chất lượng tốt nhất 18 tháng sau khi trồng
[11, 33, 42].
Theo các nhà nông học, cỏ hương bài là cây lưỡng tính, có gié hoa lưỡng
tính. Các gié hoa có phân hoá giới tính như lưỡng tính, đực hoặc bất thụ trên cùng
một cây. Loài
Vetiveria zizanioides L. được dùng phổ biến vì có đặc điểm không
tạo hạt,
nhân giống chủ yếu bằng phương pháp vô tính nên không thể
mọc tràn
lan như một số loài cỏ dại khác. Do đó cỏ hương bài không có khả năng trở thành
cỏ dại [11, 42].
Cỏ hương bài khá dễ trồng, dễ sống, chịu hạn tốt, ít bị sâu bệnh, thấm nước
và giữ nước tốt. Nó vừa ưa khô vừa ưa nước, trồng được ở bất kì loại đất nào,
không kể độ màu mỡ. Cỏ được nhân giống bằ
ng cụm rễ và cành giâm. Cây
thường mọc thành bụi hay khóm lớn [6].
12
Trong tự nhiên, cỏ hương bài có sức chịu đựng đối với biến động khí hậu
rất lớn như hạn hán kéo dài, khả năng chịu ngập úng kéo dài đến 45 ngày ở luồng
nước sâu 0,6 – 0,8m và chịu được biên độ nhiệt độ từ -10
0
173 ngày thì mất hết ancol [2].
13
Bảng 1.1. Ảnh hưởng của thời gian bảo quản nguyên liệu tới
chất lượng và hàm lượng tinh dầu [2]
Thời
gian
bảo
quản
(ngày)
Hàm
lượng
tinh
dầu
(%)
Tỷ
trọng,
d
20
(g/g)
Góc
quay
cực,
α
20
D
Chỉ số
khúc
Rễ hương bài tươi có độ ẩm từ 45-55%, còn lại là các chất khô. Trong
thành phần chất khô, tinh dầu (chiếm từ 1-3%) là thành phần quan trọng nhất tạo
nên giá trị cao cho cỏ hương bài. Ngoài ra, theo nhiều tài liệu tham khảo, trong rễ
hương bài khô còn có các chất khác như xenluloza 80-89%, tinh bột 2-5%,
protein 2-7%, đường 1-4%, chất béo 0,5-2%, và một lượng rất ít các chất khoáng,
chất màu, vitamin…[20, 35].
Hàm lượng và chất lượng củ
a tinh dầu rễ cỏ hương bài dao động từ 1-3%
tuỳ thuộc vào giống, khí hậu và thổ nhưỡng. Tuỳ theo từng loại đất khác nhau mà
hàm lượng tinh dầu thu được cũng khác nhau, nếu được trồng ở vùng đất sét thì
hàm lượng và chất lượng tinh dầu sẽ cao hơn [14].
1.2. Giới thiệu về tinh dầu hương bài
1.2.1. Tính chất hoá lý
Tinh dầu hương bài được chiết tách từ rễ cây cỏ hương bài bằng các
ph
ương pháp chưng cất cuốn theo hơi nước hoặc trích ly với dung môi hữu cơ.
Tinh dầu cỏ hương bài có màu nâu hổ phách và khá đậm đặc có mùi thơm
ngọt, khói, gỗ, đất, hổ phách [12, 20, 22].
Chất lượng tinh dầu phụ thuộc vào nguồn gốc, tình trạng khai thác của
nguyên liệu. Bên cạnh đó, nguyên liệu ở các độ tuổi khác nhau thì sẽ cho chất
lượng tinh dầu khác nhau, chất lượng tinh dầu tốt nhất khi rễ được 18 – 24 tháng
tuổi. Thời điểm thu hái, phương pháp sơ chế và bảo quản cũng ảnh hưởng rất lớn
14
đến chất lượng tinh dầu. Ngoài ra, chất lượng của tinh dầu cũng phụ thuộc rất
nhiều vào giống, loại đất trồng, địa lý và khí hậu. Chất lượng tinh dầu có thể đánh
giá sơ bộ thông qua các chỉ số hóa lý. Với tinh dầu hương bài, tỷ trọng và độ quay
cực của tinh dầu càng lớn thì mùi thơm càng mạnh. Sự khác nhau về chất lượng
tinh dầu giữa các nước được th
ể hiện ở bảng 1.2 [2].
0,990 – 1,020 1,515 – 1,527 + 22
0
– +37
0
4,5 – 17,0 5 – 20
Ấn Độ
1,0005 –
1,0007
1,5221 – 1,5271 + 17
0
– +30
0
8,4 – 9,3 9,3 – 12,1
Liên Xô (cũ)
loại N
0
14
1,0303 –
1,0572
1,521 – 1,525 +10
0
– +26
0
51,89 – 112,7 11,6 – 30,6
1.2.2. Thành phần hoá học của tinh dầu hương bài
Thành phần hóa học của tinh dầu hương bài rất phức tạp, có khoảng trên
100 thành phần dạng sesquiterpene và các dẫn xuất của chúng thuộc về 11 dạng
OH
Khusimol Khusinol OH
OH
O
Khusinodiol
α –Vetivon
16
O
OH
β – Vetivon Vetivenol
β – Vetiven γ – Vetiven CH
OH
O
O
O
H
HO Axít benzoic Calaren-gurinen Spathulenol
1.3. Các phương pháp khai thác tinh dầu
Hiện nay có nhiều phương pháp được sử dụng để khai thác các loại tinh
dầu như: phương pháp cơ học, phương pháp hấp phụ, phương pháp trích ly,
phương pháp chưng cất.
Tuy nhiên, đối với tinh dầu hương bài các phương pháp khai thác thường
được sử dụng là phương pháp chưng cất và phương pháp trích ly .
1.3.1. Phương pháp chưng cất
[1, 14, 39]
Phương pháp chưng cất theo hơi nước là quá trình chuyể
n khối, trong đó
hai hay nhiều cấu tử lỏng không hoà tan lẫn nhau tạo thành hỗn hợp hơi đẳng phí
ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ sôi của cấu tử có nhiệt độ sôi thấp nhất. Do nhiệt độ
sôi của hầu hết các cấu tử trong các loại tinh dầu đều cao hơn nhiệt độ sôi của
nước nên nhiệt độ trong quá trình chưng cất đều thấp hơn 100
0
C, do đó không
làm phân huỷ thành phần các chất thơm trong tinh dầu.
Hiện nay, phương pháp chưng cất vẫn được sử dụng nhiều trong công nghệ
chưng
TINH DẦU
Bã
19
hơi nước trong trường hợp chưng cất bằng hơi nước; hoặc khó đảo trộn, dễ bị khê
khét trong trường hợp cất cuốn theo hơi nước.
2. Phương pháp chưng cất
Các phương pháp chưng cất thường được sử dụng trong chưng cất tinh dầu
là: chưng cất với nước (cất lôi cuốn theo hơi nước), chưng cất bằng hơi nước
không có nồi h
ơi riêng
, chưng cất bằng hơi nước có nồi hơi riêng. Mỗi phương
pháp có ưu nhược điểm riêng, tùy thuộc vào từng loại nguyên liệu mà người ta
chọn phương pháp thích hợp.
3. Các yếu tố công nghệ
Có nhiều yếu tố công nghệ ảnh hưởng đến quá trình chưng cất tinh dầu
nhưng các yếu tố ảnh hưởng lớn nhất là: tỷ lệ nguyên liệu/thể tích thiết bị
, tỷ lệ
nguyên liệu/thể tích nước chưng cất, tốc độ chưng cất, thời gian chưng cất
1.3.2. Phương pháp trích ly
[1, 14, 39]
Nguyên lý của phương pháp trích ly: Quá trình trích ly được thực hiện
dựa vào tính hoà tan tốt của tinh dầu trong các dung môi hữu cơ, đây là quá trình
chuyển khối do có sự chênh lệch nồng độ nguyên liệu và dòng chảy bên ngoài
(dung môi). Thực chất quá trình trích ly là quá trình ngâm chiết nhằm chuyển
tinh dầu từ bên trong nguyên liệu vào dung môi nhờ quá trình khuế
ch tán phân
c những thành phần quí như sáp, nhựa thơm
trong nguyên liệu mà phương pháp chưng cất không thể tách được. Vì thế, chất
lượng của tinh dầu sản xuất bằng phương pháp này khá cao.
Qui trình chung để trích ly tinh dầu được minh hoạ trong hình 1.2
Hình 1.2. Sơ đồ qui trình công nghệ sản xuất tinh dầu bằng phương pháp
trích ly
Nguyên
li
ệ
u
Sơ chế
Trích ly
Cô đặc
Tinh dầu thô
Tinh chế
Xử lý DM
DM thu
hồi
TINH DẦU
Dung môi
Bã
21
Những yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình trích ly:
1. Nguyên liệu
- Độ ẩm nguyên liệu:
Khi độ ẩm nguyên liệu lớn thì tốn thể tích thiết bị
nguyên liệu
- Có nhiệt độ sôi thấp, tuy nhiên nếu quá thấp thì tổn thất dung môi sẽ rất
lớn, trong sản xuất dễ gây hoả hoạn và rất khó làm ngưng tụ để thu hồi dung
môi
- Độ nh
ớt của dung môi phải thấp, để không làm giảm tốc độ khuếch tán
- Phải tinh khiết, không ăn mòn thiết bị, sau khi thu hồi dung môi không để
lại mùi vị lạ cũng như các sản phẩm độc hại trong tinh dầu
- Không hoà tan nước, không tác dụng với nước ở bất kỳ nhiệt độ nào
22
- Không tạo hỗn hợp nổ với không khí, khí cháy
- Có giá thành thấp và dễ mua.
Nói chung, hiện nay chưa có một dung môi nào đáp ứng được đầy đủ các
điều kiện như đã nêu ở trên. Vì vậy trong quá trình tiến hành, phải căn cứ vào
hiệu suất và chất lượng tinh dầu thu nhận được, căn cứ vào tính kinh tế và an toàn
để lựa chọn dung môi phù hợp nhất.
4. Yếu tố công nghệ
Có rất nhiều yếu tố công nghệ ảnh hưởng đến quá trình trích ly nhưng theo
một số tài liệu tham khảo, những yếu tố ảnh hưởng rõ rệt nhất đến hiệu suất thu
nhận cũng như chất lượng tinh dầu là số lần trích ly, tỷ lệ nguyên liệu/dung môi,
tốc độ khuấy trộn, nhiệt độ trích ly, thời gian trích ly
1.4. Ứng dụng của rễ cỏ hương bài và tinh dầu hương bài
Từ xa xưa, dân gian thường dùng rễ cỏ hương bài để nấu nước gội đầu cho
thơm, làm mượt tóc, nấu nước xông hơi, xoa bóp. Người dân cũng thường dùng
rễ hương bài làm hương thắp, đốt thay trầm để tạo cảm giác thư thái [29].
Trong y học cổ truyền của một số nước, rễ cỏ hương bài được sử dụng từ
hàng ngàn năm nay và được xem là một loại dược li
ệu quý, có tác dụng trong việc
khác dễ bay hơi, làm bột, làm kem, một số
loại đồ uống giải khát, xiro [6, 42].
Theo nhà nghiên cứu U.C.Lavania, tinh dầu hương bài ở dạng pha loãng còn sử
dụng trong bảo quản thực phẩm, làm giảm vị hăng cay của thuốc lá [27]. Ở
Braxin tinh dầu hương bài được dùng làm hương liệu trong sản xuất một số sản
phẩm đồ hộp rau quả như măng tây, đậu hà lan [25].
Trong công nghiệp dược phẩm, tinh dầu hương bài được sử dụng làm thuốc
chữa các bệnh như: cảm sốt, suy nhược thần kinh, mất ngủ, viêm cơ, tim mạch,
viêm da, giảm tress, giảm mệt mỏi, giảm đau…[26, 46].
Do thành phần tinh dầu chứa nhiều hợp chất khó bay hơi, có
tính chất định
hương tốt, mùi thơm dịu nên tinh dầu hương bài thường được sử dụng trong
công nghiệp sản xu
ất mỹ phẩm, nước hoa đặc biệt là nước hoa cao cấp
,
xà
phòng, nước xịt phòng, Nó có mặt trong khoảng 36% các loại nước hoa do
các quốc gia Tây Âu và Mỹ sản xuất [27, 36, 42].
Ngoài ra, tinh dầu hương bài
có đặc tính khử mùi, làm hết mụn trứng cá, làm ẩm da khô, làm mới da trưởng
thành cũng như làm liền da bị viêm, bị tổn thương nên còn được sử dụng để sản
xuất kem dưỡng da, sữa rửa mặt [27]
Bên cạnh đó, trong tinh dầu hương bài tồn tại một số chất có khả năng xua
đuổi và tiêu diệt côn trùng, mối… như chất nootkatone có khả năng tiêu diệt loài
mối
Formosan ăn gỗ và xây tổ mối dưới lòng đất Một số thành phần khác như α-
cedren, zizanol, vetivenol cũng có tác dụng làm yếu và gây độc đối với mối và
côn trùng. Do vậy, tinh dầu hương bài còn thường được dùng để pha chế thành
năm
[27, 43].
Những năm gần đây, Indonexia và Haiti đã vươn lên thành những nước
xuất khẩu tinh dầu hương bài có số lượng đứng đầu thế giới. Indonexia mỗi năm
xuất khẩu từ 100 đến 180 tấn, Haiti khoảng 100 tấn/năm. Trung Quốc cũng là
một trong những nước cung cấp tinh d
ầu hương bài quan trọng với sản lượng
khoảng 80 tấn/năm.
Tiếp theo là đến các nước Ấn Độ, Braxin, và Nhật Bản. Sản
lượng tinh dầu hương bài trên toàn thế giới hiện nay khoảng
250 tấn/năm
[27].
Trên thị trường quốc tế, giá cả tinh dầu hương bài thay đổi theo từng năm
và tùy thuộc vào chất lượng tinh dầu của từng vùng. Vào những năm 90, một kg
tinh dầu “Bourbon” t
ừ đảo Reunion có giá khoảng 135 - 155 USD. Tinh dầu
hương bài ở Haiti có giá khoảng 90 - 100 USD/kg, của Indonexia khoảng 54 -
62 USD/kg. Hiện nay tinh dầu hương bài có giá dao động khoảng 500 - 700
USD
cho 1kg sản phẩm
tùy theo chất lượng từng loại tinh dầu [18, 30, 40, 41]
.
Hầu hết tinh dầu hương bài sản xuất trên thế giới được tập trung tiêu thụ
vào một số thị trường có tiếng như Mỹ nhập khẩu khoảng 100 tấn/năm, Pháp 50
tấn/nă
m, Thụy Sỹ 30 tấn/năm, Anh 25-30 tấn/năm, Nhật Bản 10 tấn/năm và Đức
6 tấn/năm [24, 25].
khí khô, rồi để ngấu trong khoảng vài tháng trong chai thủy tinh màu hổ
phách có
nút kín nhằm loại bỏ các tạp chất và các mùi không mong muốn sinh ra trong quá
trình chưng cất. Mùi của tinh dầu hương bài sẽ đậm thêm cùng với quá trình để
ngấu. Trong thời gian này tinh dầu có thể sẽ chuyển sang màu xanh lá cây [43].
Ở Ấn Độ người dân thường chưng cất tinh dầu hương bài theo hai phương
pháp truyền thống: (i) Sử dụng hệ thống “Bhapka” rất phổ biến. Hệ thống thiết bị
chưng cất này gồm mộ
t thùng đồng tròn “Deg” và thùng thu dầu “Bhapka” bằng
đồng. Deg nối với Bhapka bằng một ống tre gọi là “Chonga”. Bhapka được đặt
trong một thùng nước nhỏ để làm lạnh. Tùy theo kích thước của Deg mà hệ thống
này có thể chưng cất được từ 50-100 kg rễ bán khô. Phương pháp chưng cất này
dài hơn các phương pháp khác 4-5h nhưng chất lượng tinh dầu tốt hơn. (ii) Sử
dụng hơi nước sinh ra khi đun sôi và chưng cất bằng đốt củi [36].
Để đạt được
hiệu quả cao khi chưng cất, rễ hương bài nên được thu hoạch ở độ tuổi 18 tháng,