BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN HÓA HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM BÁO CÁO
KẾT QUẢTHỰC HIỆN NHIỆM VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ
VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THEO NGHỊ ĐỊNH THƯ
Đề tài: “NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ CACBOXYMETYL HÓA
TINH BỘT SẮN SỬ DỤNG LÀM TÁ DƯỢC”
8077
Hà nội; 03/2010 Hà nội; 03/2010
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
SƠ LƯỢC VỀ VIỆN NGHIÊN CỨU CÁC SẢN PHẨM
TINH BỘT TOÀN NGA
MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
I.TỔNG QUAN
1.1.CÁC LOẠI TÁ DƯỢC TRONG BÀO CHẾ DƯỢC PHẨM[2].
1.2. TINH BỘT CACBOXYMETYL LÀM TÁ DƯỢC.
1.3. TINH BỘT
1.3.1. Cấu trúc của tinh bột
1.3.2.Tính chất vật lí
1.3.3.Tính chất hoá học
1.3.4. Tinh bột sắn.
1.4. TINH BỘT BIẾN TÍNH.
1.4.1.Tinh bột thủy phân cắt mạch băng axit[39].
1.4.2. Tinh bột oxi hoá.
1.4.3. Tinh bột liên kết ngang dạng photphat.
1.4.4. Tinh bột cacboxymetyl hoá
1.5. PHẢN ỨNG CACBOXYMETYL HÓA TINH BỘT.
1. 6. Đặc điểm của tinh bột cacboxymetyl và các phương pháp tinh chế.
1.7. Tinh bột cacboxymetyl dạng A và B.
II. THỰC NGHIỆM
2.1. LÀM SẠCH TINH BỘT SẮN.
2.1.1. Tách loại protein.
2.1.2. Tách kim loại nặng và tẩy trắng tinh bột.
3.3. KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM CẮT MẠCH TINH BỘT.
3.4. KẾT QUẢ KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐIỀU KIỆN PHẢN ỨNG ĐẾN DS
CỦA S
ẢN PHẨM VÀ RE CỦA PHẢN ỨNG CACBOXYMETYL HOÁ.
3.4.1. Khảo sát sự ảnh hưởng của nhiệt độ
3.4.2. Khảo sát ảnh hưởng của thời gian phản ứng tới DS
3.4.3. Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ chất phản ứng
3.4.4. Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố Vnước/Vetanol, n
NaOH
/n
AGU
và n
SMCA
/n
AGU
tới DS
của phản ứng.
3.4.5. Ảnh hưởng của thành phần dung môi đến độ tinh khiết của sản phẩm CMS.
3.4.6. Ảnh hưởng của lượng dung môi lọc rửa đến độ tinh khiết của sản phẩm CMS.
3.5. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH PHỔ HỒNG NGOẠI VÀ CHỤP SEM.
3.6. KẾT QUẢ KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHẢN ỨNG TẠO LIÊN
KẾT NGANG BẰNG POCl
3
.
3.6.1. Ảnh hưởng của hàm lượng tác nhân POCl
3
3.6.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ.
3.6.3. Ảnh hưởng của thời gian phản ứng.
3.6.4. Ảnh hưởng của tỉ lệ dung môi.
BẢNG CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Kí hiệu tắt Nghĩa
CMS Tinh bột cacboxymetyl
CMSN Tinh bột cacboxymetyl từ tinh bột nguyên khai
TBN Tinh bột nguyên khai
TBO Tinh bột oxy hoá
TBCM Tinh bột cắt mạch
CMSA Tinh bột cacboxymetyl nhập từ Ấn độ
STPP Natri tripoliphotphat
STMP Natri trimetaphotphat
DS Độ thế
RE Hiệu suất (%)
AGU 1 mắt xích tinh bột
SMCA Natri monocloacetat
2
MỞ ĐẦU
Các sản phẩm tinh bột cacboxymetyl là nguyên liệu rất quan trọng
được sử dụng trong những ngành công nghiệp khác nhau như dệt nhuôm, khai
thác dầu khí….và đặc biệt là trong công nghiệp dược. Trong bào chế dược
phẩm, tinh bột biến tính cacboxymetyl được sử dụng làm tá dược rã, siêu rã,
tá dược dính, tác nhân bền nhũ. Tinh bột cacboxymetyl có nhiều ưu điểm như:
độ ổn định cao với môi trường, khả năng trương nở và rã tốt, ít phản ứng phụ
bản khóa họp lần thứ 10 tháng 04 năm 2005 của Ủy ban Liên Chính phủ Việt
– Nga về Hợp tác Kinh tế - Thương mại và Khoa học – Kỹ thuật; các Biên
bản ghi nhớ 11/2004, các Biên bản thỏa thuận 04/2005, 07/2009 giữa Viện
Hóa học công nghiệp Việt nam và Viện nghiên cứu các sản phẩm tinh bột
toàn Nga về hợp tác Khoa học – Kỹ thuật trong lĩnh vực biến tính tinh bột sắn
nói chung và biến tính cacboxymetyl hóa tinh bột sắ
n sử dụng làm tá dược.
Đề tài được thực hiện trên cơ sở: “Hợp đồng thực hiện nhiệm vụ hợp
tác Quốc tế về Khoa học và Công nghệ theo Nghị định thư số 02/2008/HĐ-
NĐT” ký ngày 15 tháng 5 năm 2008 giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Viện
hóa học công nghiệp Việt nam.
4
SƠ LƯỢC VỀ VIỆN NGHIÊN CỨU
CÁC SẢN PHẨM TINH BỘT TOÀN NGA
Viện Nghiên cứu các sản phẩm từ tinh bột toàn Liên bang Nga là một
Trung tâm Khoa học Nhà nước duy nhất của Cộng hoà Liên bang Nga
chuyên nghiên cứu về các sản phẩm chế biến từ tinh bột và triển khai ứng
dụng ở quy mô công nghiệp.
Được thành lập từ năm 1930, Viện có nhiệm vụ nghiên cứu soạn thảo và
triển khai ứng dụng trong công nghiệp các công nghệ chế biến tinh bột có
hiệu quả kinh tế cao, đả
m bảo an toàn vệ sinh môi trường, chuyển giao công
nghệ, sản xuất các sản phẩm từ tinh bột phục vụ các ngành công nghiệp và
kem. Các kết qủa nghiên cứu oxy hoá tinh bột với các tác nhân khác nhau
đã
nhận được tinh bột biến tính sử dụng trong công nghiệp giấy, dệt nhuộm.
Viện đã hoàn thiện công nghệ sản xuất huyết thanh với tên thương mại
“Volekam” từ tinh bột, các công nghệ điều chế tá dược cao cấp cho công
nghiệp dược phẩm, công nghệ sản xuất bột dinh dưỡng cho trẻ em, thực
phẩm ăn kiêng , công nghệ biến tính tinh bột dùng trong ngành khoan thăm
dò, khai thác dầu khí, ngành khai thác mỏ, trong việ
c tạo khuôn đúc.
Trong thời đại ngày nay, khi mà chất lượng cuộc sống càng ngày càng
không ngừng được cải thiện và nâng cao thì vấn đề về bệnh béo phì là một
vấn đề đang được quan tâm. Tại Viện nghiên cứu các sản phẩm tinh bột toàn
Nga đã triển khai nghiên cứu tạo ra các loại tinh bột biến tính mới dòng thực
phẩm có đặc tính bền với dịch vị. Các loại tinh bột thực phẩm này có khả
n
ăng làm đặc, giữ nước và chất béo nhưng ít bị cơ thể con người hấp thụ.
Việc sử dụng các sản phẩm bao bì bằng các loại polyme tổng hợp ngày
nay ảnh hưởng rất lớn đến môi trường do tính không phân huỷ sinh học của
các polyme này. Những nghiên cứu tại viện trong lĩnh vực tạo ra những sản
phẩm phân huỷ sinh học trên cơ sở từ nguyên liệu tinh bột để sả
n xuất bao bì
thay cho polyme tổng hợp đã được triển khai và đạt được những thành tựu
mới và đang trên đà phát triển.
Để thoả mãn nhu cầu của nền kinh tế Cộng hoà Liên bang Nga đối với
sản phẩm tinh bột và tinh bột biến tính cho công nghiệp thực phẩm và các
ngành kỹ thuật, Viện Nghiên cứu các sản phẩm từ tinh bột toàn Nga đã xây
dựng và tiếp tục hoàn thiện các quy trình công nghệ mới mang tính khoa học
6
và tính kinh tế kỹ thuật ngang tầm quốc tế, trong đó bao gồm:
7
MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
1. Mục tiêu:
Từ nguồn nguyên liệu tinh bột sắn sẵn có trong nước tạo ra công nghệ
tổng hợp tinh bột cacboxymetyl đạt tiêu chuẩn sử dụng làm tá dược.
2. Nội dung của đề tài:
1. Hợp tác nghiên cứu công nghệ điều chế tá dược cao cấp điều chế tá
dược cao cấp (tá dược rã nhanh, siêu rã, tá dược dập thẳng) sử dụng trong bào
chế dược phẩm, đạt tiêu chuẩn sử dụ
ng Việt nam và châu Âu.
- Nghiên cứu các chế độ công nghệ phù hợp với nguyên liệu
- Nghiên cứu sử dụng tác nhân phản ứng nhằm nâng cao hiệu
suất phản ứng
2. Thiết lập và ổn định quy trình công nghệ điều chế tinh bột
cacboxymetyl.
-Nghiên cứu công nghệ tách tạp chất, làm sạch sản phẩm sau
cacboxymetyl hoá.
-Nghiên cứu sử dụng bào chế thuốc trong phòng thí nghiệm.
3. Xây dựng mô hình pilot sản xuất thử nghiệm.
4.
Đào tạo cán bộ chuyên sâu khoa học công nghệ sản xuất tá dược, tá
dược cao cấp, biến tính tinh bột.
5. Tổ chức hội nghị song phương, trao đổi tài liệu, thông tin và kết quả
nghiên cứu.
Đối với các pellet rã nhanh, khi tiếp xúc với dịch tiêu hoá, pellet phải rã
và giải phóng các tiểu phân dược chất ban đầu, tạo thuận lợi cho quá trình hoà
tan và hấp thụ dược chất.
9
Rã là bước khởi đầu đặc biệt quan trọng đối với pellet có thành phần
dược chất ít tan hay khó tan và tốc độ hấp thụ dược chất từ pellet bị giới hạn
bởi tốc độ hoà tan dược chất từ pellet. Như vậy, trong thành phần của pellet rã
nhanh, để dược chất được giải phóng tức thời cần phải cho thêm tá dược rã
thích hợp.
Trong công thức viên nén, cơ chế rã cũng tươ
ng tự. Các tá dược có cấu
trúc xốp, sau khi dập viên để lại hệ thống vi mao quản phân bố đồng đều
trong viên khi tiếp xúc với dịch tiêu hoá, hệ thống vi mao quản có tác dụng
kéo nước vào lòng viên nhờ lực mao dẫn. Nước sẽ hoà tan và làm trương nở
các thành phần của viên và phá vỡ cấu trúc của viên. Như vậy sự rã của viên
phụ thuộc vào độ xốp và vào sự phân bố hệ thống vi mao quản trong viên.
Nếu tá d
ược rã trong thành phần của pellet là loại hoà tan, đồng thời
pellet lại có tỷ lệ cao các thành phần tan được thì tác dụng gây rã của tá dược
sẽ bị hạn chế, do các thành phần tan được hoà tan thành một chất lỏng nhớt
bịt kín các lỗ xốp và ngăn không cho chất lỏng thấm sâu vào trong pellet. Khi
đó pellet sẽ bị ăn mòn từ bề mặt hơn là rã ra tức thời để giải phóng dược chất.
Tá dược rã được coi là 1 thành phần thiế
t yếu trong một công thức pellet
bào chế bằng các phương pháp đùn ép, do lực ép trong quá trình đùn sợi đã
làm giảm đáng kể mật độ và kích thước các lỗ xốp trong pellet. Vì vậy để bào
chế pellet rã nhanh bằng phương pháp đùn – tạo cầu cần phải dùng tá dược rã
mạnh để chống lại hai tác nhân đối lập là lực ép và tá dược dính. Tinh bột
cacboxymetyl là loại tá dược siêu rã đáp ứng tốt yêu cầu trên [3].
trơn chảy và chịu nén kém, dễ hút ẩm làm cho viên bở dần ra và dễ bị nấm
mốc, khó bảo quản. Khi dùng tinh bột, thường phải phối hợp với 30% bột
đường để đảm bảo độ chắc của viên.Tinh bột cacboxymetyl khắc phục được
những nhược điểm trên. Chúng chị
u nén và trơn chảy tốt hơn tinh bột nguyên
khai. Chúng tan từng phần vào trong nước tuỳ theo cách thức biến tính [4].
Tinh bột cacboxymetyl cùng với tinh bột cắt mạch được sử dụng làm tá
dược rã. Tỷ lệ thường dùng là 2 – 6%. Đây là tá dược gây rã viên rất nhanh do
khả năng trương nở mạnh trong nước. Khả năng rã ít bị ảnh hưởng bởi lực
nén. Tinh bột cacboxymetyl (CMS) có các tên thương mại là EXPLOTAB,
STARCH 1500, VIVASTAR [12].
11
Ngoài ra, khi bào chế những dược phẩm dạng hydrogel, viên nén, CMS
còn được sử dụng với những vai trò khác như chất kết dính hoặc tác nhân làm
bền nhũ hoặc huyền phù [12].
Trong dược phẩm dạng gel, CMS có tác dụng tạo huyền phù do nó
trương nở dễ dàng ở trong nước. Khả năng trương nở cao nhất trong nước là ở
môi trường trung tính có pH 5,5 – 7,5. CMS tan trong nước thành dạng gel.
Khả năng trương nở của nó giảm tỷ
lệ với giá trị pH. Nhân tố xác định giá trị
nồng độ tạo gel của polime là hình dạng và tính đối xứng của các tiểu phân
polime. Nồng độ này đối với các CMS được xác định là lớn hơn hoặc bằng
1,5% theo khối lượng. Hiệu quả của những loại dược phẩm khi được chế
thành dạng hyđrogel có liều lượng phụ thuộc vào sự giải phóng thuốc từ
hyđrogel. Mà đ
iều này lại phụ thuộc vào độ nhớt của hyđrogel. Vì vậy đã có
những nghiên cứu xác định nồng độ tối ưu của CMS trong dạng dược phẩm
này [12].
có dạng hạt màu trắng tạo bởi hai loại polime là amilozơ và amilopectin. [1]
Amilozơ là polime mạch thẳng gồm các đơn vị D-glucozơ liên kết với
nhau bởi liên kết ỏ-1,4- glucozit (Hình 1.1).
Hình 1.1: Một phần cấu trúc amilozơ
Amilopectin là polime mạch nhánh, ngoài chuỗi glucozơ thông thường
còn có những chuỗi nhánh liên kết với chuỗi chính bằng liên kết α- 1,6-
glucozit (Hình 1.2). Hình 1.2: Một phần cấu trúc amilopectin13
Các hạt tinh bột là những tinh thể đa hình phụ thuộc vào nguồn gốc
xuất xứ trong đó hai loại polime được sắp xếp đối xứng xuyên tâm. Bên trong
hạt tinh bột có phần kết tinh do amilozơ và phần phân nhánh của amilopectin
tạo thành làm cho chúng không tan trong nước lạnh và tương đối trơ với các
enzym thuỷ phân [19].
1.3.2.Tính chất vật lí
Tinh bột được tách ra từ ngũ cốc có kích thước khoảng 3 đến 30 µm, các
lo
ại tinh bột được tách ra từ củ và rễ là 10 đến 100 µm , tinh bột cọ có kích
thước lớn nhất, trung bình 50µm. Hầu hết các hạt tinh bột tự nhiên là dạng
lưỡng chiết và có hình bóng dạng cắt ngang đặc trưng khi quan sát dưới ánh
sáng phân cực. Tinh bột bị hồ hoá trong nước ở nhiệt độ 60 -70
o
C tuỳ theo
nguồn gốc xuất xứ. Ở nhiệt độ cao hơn nữa, hạt tinh bột trương nở mạnh tạo
dụng nhiều trong công nghiệp là các liên kết giữa các đơn vị glucozơ dễ dàng
bị thuỷ phân bằng axit hay enzym. Axit có thể được dùng để thuỷ phân tinh
bột ở dạng hạt ban
đầu hay ở dạng hồ hoá, trong khi enzym chỉ thuỷ phân có
hiệu quả đối với tinh bột ở dạng hạt trương nở hay dạng paste. Tất cả các loại
tinh bột đều bị thuỷ phân bằng axit thành D-glucozơ. Trước đây, phản ứng
này là phương pháp để sản xuất dextrozơ và xi rô tinh bột. Ngày nay những
phương pháp thuỷ phân bằng enzym đã thay thế một phần hay hoàn toàn
phương pháp axit vì cho hiệu quả kinh tế cao h
ơn. Ngược lại với enzym, axit
xâm nhập vào tinh bột chưa bị hồ hoá gây nên sự thuỷ phân ở nhiệt độ thấp
hơn nhiệt độ hồ hoá của tinh bột. Điều này được ứng dụng để sản xuất tinh
bột biến tính axit[45].
* Phản ứng oxi hoá: Các nhóm ancol trong tinh bột có thể bị oxi hoá
thành anđehit, xeton và các nhóm cacboxyl. Quá trình oxi hoá phụ thuộc vào
chất oxi hoá và điều kiện phản ứng. Sự oxi hoá tinh bộ
t với dung dịch kiềm
hipoclorit là một trong những phản ứng công nghiệp lâu đời nhất. Phản ứng
này tạo ra những nhóm cacboxyl dọc theo phân tử tinh bột cũng như một
lượng nhỏ nhóm cacbonyl. Oxi hoá tinh bột bằng hipoclorit cũng làm giảm
chiều dài mạch tinh bột, làm tăng tính tan của nó trong nước, đặc biệt trong
kiềm loãng. Các chất oxi hoá khác như periođat tấn công vào các nhóm OH
bậc 2 liền kề, chuyển nó thành anđehit và cắt liên kết giữa cacbon 2 và 3. S
ản
phẩm thương mại được biết đến cho quá trình này là tinh bột đianđehit [30].
15
* Phản ứng este hoá: Các nhóm OH trong tinh bột đều tham gia các
phản ứng este hoá và ete hoá giống ancol. Những phản ứng này đều được áp
dụng để biến tính tinh bột.
Hiện nay, diện tích, năng suất, sản lượng sắn ở nuớc ta đã tăng liên tục từ
năm 2000 (diện tích 234.900 ha, năng suất 8,66 tấn/ha, sản lượng 2.034.234
tấn) đến năm 2009 (diện tích 560.000 ha, năng suất 16,88 tấn/ha, sản lượng
9.452.800 tấn).
Số lượng nhà máy, cơ sở chế biến sắn cũng ngày một tăng, đến nay có
87 nhà máy qui mô công nghiệp và 285 cơ sở chế biến thủ
công trên cả nước.
So với 5 năm trước đã tăng gấp đôi về số lượng nhà máy và gấp 3 lần về công
suất, nhất là Đông Nam bộ và Tây nguyên. Tây Ninh là tỉnh có diện tích trồng
sắn lớn nhất cả nước và có hàng chục nhà máy chế biến tinh bột sắn, trong đó
có 5 nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài của Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan,
Singapore.
Trong cả nước, tổng công suất chế biến mỗi n
ăm hơn nửa triệu tấn tinh
bột sắn, tương ứng với nhu cầu sử dụng gần 3 triệu tấn củ sắn tươi, đứng hàng
thứ 11 trên thế giới về sản lượng sắn nhưng lại là nước xuất khẩu tinh bột sắn
lớn thứ 3 thế giới sau Thái lan và Indonexia [1].
Cây sắn ở nước ta đã trở thành cây lương thực quan trọng đứng thứ 3 sau
cây lúa và ngô, vai trò c
ủa cây sắn nhanh chóng đang chuyển sang là cây
nguyên liệu sản xuất nhiên liệu sinh học và là nguồn xuất khẩu với khối lựợng
lớn.
Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng cho biến tính tinh bột nói chung và
biến tính cacboxymetyl hóa nói riêng.
Tinh bột sắn có màu rất trắng, pH trong khoảng 6,0 ÷ 6,3. Hạt tinh bột
sắn có kích thước từ 5 đến 40 µm với những hạt lớn có kích thước từ 25 ÷ 40
µm, những hạt nhỏ từ 5÷15µm với nhiều hình dạng khác nhau và th
ường
tập hợp co cụm lại với nhau thành đám khoảng 4÷5 hạt/đám [19].
Tinh bột sắn có hàm lượng amilopectin và phân tử lượng trung bình
Hỡnh1.3: S tng quỏt quy trỡnh cụng ngh sn xut tinh bt sn
Sản phẩm
Đóng bao
Rây mịn
Không khí
Làm nguội
Cấp nhiệt
Sấy
Tách nớc bằng cyclon để thu bột
Phân ly tách tinh bột
(loại bỏ dịch củ, protein)
Sữa tinh bột sắn
Ly tâm trích li tinh bột 3
Nớc
Ly tâm trích li tinh bột 2
Dịch củLy tâm trích li tinh bột 1
Băm, nghiền, nạo củ
(nạo sơ cấp và thứ cấp)
Nớc
Chà và rửa củ
Nguyên liệu
(Củ sắn tơi)
Bã sắn (xơ) làm
thức ăn gia súc
18
1.4. TINH BT BIN TNH.
p
hẩm
Phơng pháp
hoá học
Phơng pháp
vật lí
Các sản phẩm:
- Tinh bột hồ
hoá trớc
- Tinh bột xử
lí nhiệt ẩm
-Tinh bột dạng
hạt (sago)
Các sản phẩm tinh bột:
- Tinh bột xử lí axit
- Tinh bột dextrin hoá
- Tinh bột ete hoá:
hydroxylpropyl,
cacboxymety.
- Tinh bột este hoá:
octenyl succinat,
axetylat.
- Tinh bột photphat:
monoeste
- Tinh bột liên kết
ngang: đi tinh bột
photphat.
- Tinh bột biến tính kép:
Các sản phẩm:
- Mantodextrin
SO
4
. Trong quá trình biến
tính tinh bột, axit gây ra sự thủy phân liên kết glucozit trong phân tử tinh bột
như sau:
O
OH
OH
CH
2
OH
O
OH
OH
CH
2
OH
O
H
+
H
2
O
O
OH
OH
CH
2
OH
OH
Tùy vào mục đích sử dụng tinh bột mà người ta tiến hành thủy phân
tinh bột ở các mức độ khác nhau. Mức độ thủy phân được xac định bằng độ
trùng hợp Pn. Độ trùng hợp P
n
là số lượng gốc glucozit trung bình có trong
mạch tinh bột. Pn được xác định bằng phương pháp oxi hóa nhóm cuối tinh
bột bằng KIO
4
Có 2 phương pháp thủy phân tinh bột bằng axit đó là:
- Thủy phân bằng axít trong môi trường ancol
- Thủy phân bằng axít trong môi trường nước
a. Phương pháp thủy phân tinh bột bằng axít trong môi trường ancol.
Trong môi trường ancol như etanol hoặc metanol, độ phân ly của axit
làm xúc tác nhỏ hơn trong môi trường nước do các ancol này có độ phân cực
nhỏ hơn nước. Do đó phản ứng thủy phân trong môi trường ancol làm biến
dạng tinh bột diễn ra chậm hơn so v
ới trong môi trường nước.Vì vậy, người
ta có thể điều chỉnh và khống chế quá trình biến tính tinh bột để tạo ra các
sản phẩm có mạch phân tử mong muốn một cách dễ dàng hơn và đạt hiệu
suất thu hồi cao hơn.
Theo phương pháp Robyt , thủy phân bằng axit tinh bột sắn theo sơ đồ sau:
Axít HCl đậm đặc trộn với dung môi, tinh bột, sau đó khuấy đều,
đậy kín miệng bình và thủy phân trong vòng 72 giờ.