1
MỤC LỤC
Mở đầu 2
1. NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT 4
1.1 Tổng quan chung về gang cầu. 4
1.1.1 Đặc điểm chung của gang cầu. 4
1.1.2 Tính chất vật lý của gang cầu. 4
1.1.3 Tính chất cơ lý của gang cầu. 8
1.1.4 Tính công nghệ của gang cầu. 10
1.1.5 Ảnh hưởng của thành phần hóa học đến tính chất của gang cầu. 12
1.2 Gang Si có grafit dạng cầu 15
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công nghệ chế tạo gang cầu 19
1.3.1 Tác dụng của các chất biến tính cầu hóa trong gang lỏng 19
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình cầu hóa. 20
1.4 Lựa chọn mác gang nghiên cứu. 24
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 27
2.1.Nội dung nghiên cứu 27
2.2. Phương pháp nghiên cứu 27
3. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 29
3.1. Công nghệ chế tạo gang cầu silic RQTSi5 29
3.1.1. Công nghệ nấu luyện. 29
3.1.2. Công nghệ đúc 34
3.1.3. Công nghệ nhiệt luyện 37
3.2 Các tính chất của gang nghiên cứu. 38
3.2.1. Thành phần hoá học 38
3.2.2. Các tính chất cơ lý 38
3.2.3 Cấu trúc pha 39
3.3 Chế tạo và dùng thử sản phẩm 41
điều kiện nhiệt độ cao; đặc biệt là gang cầu được hợp kim hóa bằng silic (5-
6%) hoặc là bằng nhôm (19-24%). Vì tất cả những ưu điểm vừa nêu ở trên mà
người ta sử dụng ngày càng nhiều gang cầu thay thế cho gang xám và gang
dẻo, thép rèn và thép đúc. Do vậy mà sản lượng gang cầu ngày càng tăng.
Ở nước ta gang cầu đã được nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ
trước trong Bộ Công nghiệp và một số trường Đại học. Sau năm 1975, một số
cơ sở nghiên cứu như Viện Luyện kim đen, Viện Nghiên cứu mỏ và luyện
kim, Viện Công nghệ, trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã có một số đề tài
nghiên cứu cấp Nhà nước và cấp Bộ nghiên cứu về gang cầu và chất biến tính
cầu hóa. Các đề tài đều tập trung nghiên cứu về vấn đề cầu hóa gang và áp
3
dụng vào các chi có tiết đặc thù khác nhau. Trong giai đoạn hiện nay, nền
công nghiệp nước ta xuất hiện nhu cầu chế tạo gang cầu thay thế phụ tùng
nhập ngoại, thay thế thép và các vật liệu khác. Trong ngành công nghiệp luyện
kim và chế tạo cơ khí nhu cầu về vật liệu chịu nhiệt cũng tăng lên, đặc biệt là
vật liệu thép và gang. Để nâng cao tính chịu nhiệt cũng như cơ tính của vật
liệu, tiếp nối sự nghiên cứu về gang chịu nhiệt silic, việc tiếp tục nghiên cứu
công nghệ cầu hóa gang chịu nhiệt silic là hợp lý nhằm tạo ra sản phẩm có
tính chịu nhiệt cao hơn, cơ tính tốt hơn với giá cả hợp lý, thỏa mãn yêu cầu
trong nước là việc làm thiết thực và nên làm.
Nhân dịp này chúng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới :
- Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ Công thương đã giao nhiệm vụ
nghiên cứu và chỉ đạo sát sao trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
- Phân xưởng Thiêu kết, nhà máy Luyện gang, công ty cổ phần Gang
thép Thái Nguyên đã cho phép và tạo điều kiện cho việc dùng thử
sản phẩm.
- Phân xưởng Luyện thép cũng như toàn thể cán bộ và công nhân viên
Viện Luyện kim đen đã hết lòng ủng hộ và giúp đỡ đề tài hoàn thành
hoặc silic).
1.1.2 Tính chất vật lý của gang cầu.
Tỷ trọng. Do sự có mặt của grafit nên tỷ trọng của gang nhỏ hơn nhiều
so với tỷ trọng của thép các bon (khoảng 8-10%). Khi gang cầu có cấu trúc
xementit tự do tỷ trọng của chúng tương tự tỷ trọng của gang xám thường. Khi
có mặt xementit trong cấu trúc, tỷ trọng của gang tăng lên và gần bằng tỷ
5
trọng của gang trắng. Tỷ trọng của gang ở nhiệt độ phòng là 7,1-7,4g/cm
3
. Tỷ
trọng của gang thay đổi phụ thuộc vào hàm lượng magie, cacbon và silic
(bảng 1) cũng như cấu trúc nền kim loại.
Bảng 1. Sự thay đổi tỷ trọng của gang phụ thuộc vào hàm lượng Si, C
và Mg dư.
Hàm lượng các nguyên tố (%) g/cm
3
C Si Mn C+1/3(Si+P)
P S Mg
A, Phụ thuộc vào hàm lượng Mg
3,1-3,35
2,7-3,0
0,6-0,7
- 0,07-0,1
Hệ số nở nhiệt của gang. Ở nhiệt độ từ 0
0
C đến 200
0C
gang cầu có hệ
số nở nhiệt lớn hơn gang xám. Ở nhiệt độ cao hơn thì hệ số nở nhiệt của chúng
khác biệt không nhiều (bảng 2). 6 Bảng 2. Hệ số nở nhiệt của gang.
Gang
Hàm lượng các nguyên tố (%)
a.10
-
6
ở
nhiệt độ
từ 0-
200
0C
C Si Mn P S Mg
Xám 3,79 3,06 0,6-0,9
0,08
0,096
0,0910
0,0906
0,0902
0,0899
3,11
3,48
0,35
0,027
0,086
1,45
0,075
0,0821
0,0815
2,44
0,42
0,013
0,063
1,35
0,056
0,0742
0,0734
0,0725
0,0718Độ dẫn điện của gang và đại lượng ngược của chúng – điện trở phụ
thuộc vào dạng và sự phân bố của grafit, thành phần hóa học (bảng 4) và cấu
trúc nền kim loại của gang.
7
Bảng 4. Sự phụ thuộc độ dẫn điện của gang cầu vào thành phần hóa
học.
Hàm lượng các nguyên tố (%)
8
1.1.3 Tính chất cơ lý của gang cầu.
Dạng grafit cầu trong gang góp phần rất lớn làm tăng tính chất cơ học,
bởi vì chúng làm giảm mức độ suy yếu tiết diện làm việc của vật đúc ở mức
độ nhỏ nhất, ngoài ra dạng cầu không biểu hiện sự tác dụng cắt lõm mạnh lên
nền kim loại của gang và góp phần làm giảm mật độ ứng suất xung quang
grafit. Do đó gang cầu có cơbtính cao hơn rất nhiều so với gang có gafit tấm.
Độ bền kéo của gang cầu phụ thuộc vào cấu trúc của nền kim loại , cấu
trúc này lại phụ thuộc vào thành phần hóa học, tốc độ làm nguội, và chế độ
nhiệt luyện của gang.
Ở trạng thái đúc độ bền của gang có cấu trúc peclit đạt được đến 600 –
700Mpa. Khi tôi đẳng nhiệt cho phép đạt được độ bền kéo đến 1200Mpa. Khi
tăng chiều dày thành vật đúc giá trị độ bền kéo bị giảm xuống (bảng 5)
Bảng 5. Sự thay đổi độ bền của gang phụ thuộc vào chiều dày vật
đúc.
Chiều dày vật đúc
(mm)
Độ bền kéo (MPa)
Gang có cấu trúc peclit Gang có cấu trúc ferit
25 612 524
50 570 504
100 496 357
150 458 317
200 430 288
Đặc điểm nổi bật của gang cầu là độ bền kéo không thay đổi theo chiều
cao và tiết diện vật đúc, đây là điểm khác biệt thuận lợi của chúng với gang
xám và với thép. Độ bền nén của gang cầu là gần 2000 Mpa tức là cao hơn
Độ cứng(HB) thay đổi phụ thuộc vào cấu trúc nền kim loại, gang có
cấu trúc ferit có độ cứng thấp nhất, đạt 156-207HB; còn gang có cấu trúc
peclit đạt giá trị độ cứng cao hơn rất nhiều, đạt 187-268HB. Gang trắng và
gang biến trắng có gía trị độ cứng cao nhất. Khi tăng nhiệt độ độ cứng của
gang bị giảm đi nhiều. Sự phụ thuộc giữa độ bền kéo, giới hạn chảy và độ
cứng của gang được chỉ ra trên hình 1.
10 Hình 1. Sự phụ thuộc giữa độ bền kéo, giới hạn chảy và độ cứng.
Độ dai va đập của gang cầu cao hơn gang xám, nhưng thấp hơn độ dai
va đập của thép. Sau khi nhiệt luyện gang có cấu trúc ferit có độ dai va đập
cao nhất. Khi tăng hàm lượng phot pho, silic và mangan độ dai va đập giảm
(hình 2).
Hình 2. Sự thay đổi độ dai va đập phụ thuộc vào hàm lượng Si, P,
Mn.
1-Mẫu không khía; 2- Mẫu có khía.
1.1.4 Tính công nghệ của gang cầu.
Tính đúc của gang cầu khác biệt nhiều so với tính đúc của thép các bon,
gang xám và gang dẻo.
Độ chảy loãng của gang cầu tốt hơn gang có grafit tấm.Toàn bộ hợp
kim gang FeC có độ chảy loãng tốt nhất, điều đó cho phép đúc chi tiết thành
11
mỏng, hình dạng trạm trổ, mà đúc các chi tiết như vậy từ thép là rất khó khăn.
Ngoài ra, độ chảy loãng cao của gang góp phần làm cho vật đúc không có rỗ
co, xốp co, không rỗ khí và các khuyết tật đúc khác.
12
hoặc là theo tiết diện vật đúc không có, thì không xuất hiện ứng suất dư. Tuy
nhiên điều kiện như vậy thực tế không có khả năng thực hiện.
Ứng suất dư xuất hiện trong vật đúc, còn được thay đổi dần dần do bị
mất dần khi chuyển qua biến dạng dẻo. Sự chuyển đổi biến dạng đàn hồi thành
biến dạng dẻo kèm theo sự giảm mức độ ứng suất đúc. Điều này được sử dụng
để làm giảm ứng suất đúc trong vật đúc bằng cách sử dụng nhiệt luyện đến
nhiệt độ chuyển biến dạng đàn hồi thành dẻo. Nhiệt độ đốt nóng vật đúc càng
cao càng chuyển hoàn toàn biến dạng đàn hồi thành dẻo và càng hạ thấp ứng
suất ở điều kiện nếu sự làm lạnh vật đúc sau đó xảy ra chậm và đều đặn, tức là
khi đó không xuất hiện ứng suất mới. Để làm mất ứng suất đúc trong vật đúc
bằng gang nhiệt độ đốt nóng cao nhất không cần phải vượt quá 600
0
C, bởi vì
khi đốt nóng đến nhiệt độ cao hơn trong gang có thể xảy ra sự thay đổi cấu
trúc, điều này có thể dẫn đến sự thay đổi tính chất của gang. Sự giữ ở nhiệt độ
cao nhất được tiến hành trong khoảng 2-8h, phụ thuộc vào chiều dày thành vật
đúc; sự làm nguội vật đúc chủ yếu với tốc độ 30
0
C/h để tránh sự tạo thành ứng
suất mới.
Khả năng gia công của gang phụ thuộc vào độ bền và độ cứng của gang,
tức là cũng phụ thuộc vào cấu trúc nền kim loại. Gang có cấu trúc ferit có độ
bền thấp nhất, tương ứng là độ cứng thấp nhất và tính gia công tốt nhất.
1.1.5 Ảnh hưởng của thành phần hóa học đến tính chất của gang cầu.
Các nguyên tố hóa học thể hiện ảnh hưởng lên tính chất cơ lý, ngoài các
nguyên tố cầu hóa (Mg, Ce, v.v…) ra còn có các nguyên tố : C, Si, Mn, P, S.
Ảnh hưởng của cacbon. Hàm lượng C cao trong gang cầu làm giảm
lượng Si lên nữa ngược lại làm giảm độ bền kéo, điều này liên quan đến sự
giảm lượng peclit. Đại lượng độ giãn dài tương đối khi đó giảm từ 25-1%.
Khi hàm lượng Si ở trong khoảng 2,0-3,5% gang có độ dai va đập cao
nhất, còn khi hàm lượng Si lớn hơn độ dai va đập bị giảm xuống đến khi hàm
lượng Si là 5,5% độ dai va đập còn đến 1,0 KGm/cm
2
. Hàm lượng Si giảm
dẫn đến xuất hiện chai đặc biệt trong đúc thành mỏng, và sự tăng độ cứng của
gang liên quan đến sự tạo thành xementit.
Khi tăng hàm lượng Si từ 2,13 đến 3,5% đại lượng độ cứng giảm từ
214→163 HB, còn khi tăng nữa – độ cứng tăng, đạt 293 HB khi Si 6,06%.
Độ cứng tế vi của ferit tăng cùng với sự tăng hàm lượng Si, đặc biệt
tương đối lớn ở trong khoảng : 4,13-6,06% Si, còn độ cứng tế vi của peclit
giảm từ 520-530 KG/mm
2
(ở 2,13-2,7%C) đến 351-363 KG/mm
2
.
Độ cứng tế vi của cùng tinh fotfit là 1168-1348 KG/mm
2
, còn độ cứng
tế vi của grafit 57-119 KG/mm
2
.Khi hàm lượng Si đến 4,13%, ủ ở nhiệt độ cao
đẫn đến hạ thấp độ cứng tế vi ferit. Ở hàm lượng Si đã cho, độ cứng của gang
cầu càng cao hàm lượng C trong gang càng thấp.
Hàm lượng peclit trong cấu trúc nền kim loại tăng cùng với sự giảm
hàm lượng Si. Lượng ferit tăng cùng với sự tăng hàm lượng Si và xảy ra sự
giảm độ bền của gang. Thực tế sự điều chỉnh hàm lượng ferit trong nền kim
loại của gang ở trạng thái đúc được thực hiện bằng cách chọn hàm lượng Si
grafit và lên tính chất cơ lý của gang. Hàm lượng S trong gang ban đầu càng
cao sự điều chế hoàn toàn grafit cầu và tính chất cơ lý cao của gang càng khó
khăn.
Khi chế tạo gang cầu bằng Mg và Ce, cả 2 nguyên tố này trước hết kết
hợp với S, trong kết quả này dễ dàng xảy ra sự khử S của gang (đến 0,03%).
15
Sự phân bố S theo chiều cao và tiết diện vật đúc lớn tương đối đều đặn.
Điều này được xác nhận bằng phương pháp phân tích hóa học cũng như bằng
dấu ấn S. Hàm lượng S tăng được quan sát ở phần bề mặt (đậu ngót) của vật
đúc. Như thí dụ trong vật đúc hình trụ hàm lượng S tăng (áng chừng 10 lần) đã
được xác nhận trong đậu ngót ở khoảng cách 2000 mm từ dưới cùng của vật
đúc.
Ảnh hưởng của magiê và ceri. Để điều chế grafit dạng cầu cần thiết
xác định hàm lượng còn lại của các nguyên tố cầu hóa. Hàm lượng Mg còn lại
cần phải không được thấp hơn 0,03%, còn hàm lượng Ce còn lại không được
thấp hơn 0,02%. Khi hàm lượng thấp hơn nhiều thường một phần grafit kết
tinh thành cầu (Mg, Ce), còn một phần (hoặc là toàn bộ) thành dạng tấm, do
đó tính chất cơ lý của gang giảm đi. Khi hàm lượng Mg (hoặc là Ce) còn lại
cao hơn trong cấu trúc của gang xuất hiện xementit và bởi thế tính chất cơ lý
của gang giảm tương đối nhiều. Hàm lượng còn lại tối ưu là 0,04-0,08%.[1]
Sự phân bố Mg theo chiều cao và tiết diện vật đúc là không đều.
1.2 Gang Si có grafit dạng cầu [1]
Gang Si có grafit dạng cầu được phân biệt với gang có grafit dạng tấm
bởi giá trị tính chất cơ lý và tính chịu nhiệt cao hơn rất nhiều (bảng 7).
ở 800
0
C
δ
%
ψ
%
C Si Mn P S Cr
A. Với grafit tấm
2,55 5,40 0,71 0,14 0,48 11,2 155 1,5
2,87 5,90 0,74 0,64 - 9,2 131 0,7
2,91 5,85 0,69 0,15 0,66 7,5 - 0,6
2,68 6,04 0,85 0,22 0,06 0,16 7,05 121 0,83
2,89 5,61 0,80 0,24 - 1,26 8,6 187-207
1,43
B. Với grafit cầu
2,36 7,07 0,60 0,15 0,012
12,5 285-321
- - -
2,62 6,23 0,89 0,22 0,21 23,7 285-321
3,7 34,42,62 5,85 0,87 0,14 0,003
1,43 21,0 363 5,7 39,0
44,4Độ co ngót thể tích (xem bảng 8) ở gang có grafit dạng cầu cao hơn rất
nhiều so với gang silic không được biến tính bằng Mg.
17
Bảng 8 : Độ co ngót thể tích của gang silic
hàm lượng các nguyên tố (%)
Độ co
ngót
(%)
Nhiệt độ
rót (
0
C)
C Si Mn Cr P S Mg
A. Gang có grafit tấm
vài lần so với gang có grafit dạng tấm (xem bảng 9).
18
Bảng 9 : Khả năng chống gỉ của gang Si
Thành phần hóa học
Sự tăng trọng
lượng (g/m
2
.h)
ở nhiệt độ (
0
C)
C Si Mn P S Cr Mg 900 1000
A. Với grafit tấm
3,44 1,82 0,42 - 0,10 0,21 18,2 37,1
2,56 5,40 0,71
0,14
0,48 - 8,66 20,44
2,61 5,09 0,54 0,083 0,16 3,56 19,90
trong nền kim loại làm ngừng hoàn toàn sự tham gia của oxy hóa khí quyển
trong gang.
Sau khi tạo thành màng oxit mỏng để tiếp tục quá trình oxy hóa cần
thiết phải để các nguyên tử kim loại và oxy được thấm qua chúng, tức là các
quá trình oxy hóa tiếp theo trở nên sự khuyếch tán tinh khiết. Trong khi đó
như ở gang có grafit tấm, cùng với quá trình khuyếch tán, sự oxy hóa xảy ra
thường xuyên và quá trình tương tác hóa học trực tiếp của kim loại với môi
trường oxy hóa được thấm sâu vào kim loại theo tạp chất grafit tấm. Tính chất
chống gỉ của gang có grafit dạng tấm trong cùng điều kiện thấp hơn rất nhiều
so với gang có grafit dạng cầu.
Sự nở của gang Si có grafit cầu ở 900
0
C thực tế coi như không xảy ra. Ở
1000
0
C gang Si có grafit cầu mới biểu hiện sự nở. Sự nở của gang Si tăng lên
khi được hợp kim hóa bằng các nguyên tố tạo cacbit.
Người ta sử dụng gang Si để sản xuất các chi tiết chính khác nhau, làm
việc trong điều kiện nhiệt độ cao. Gang có grafit tấm – để làm việc đến nhiệt
độ 800
0
C, còn gang có grafit cầu – đến 900
0
C.
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công nghệ chế tạo gang cầu
Gang cầu là gang có grafit dạng cầu, grafit hình cầu ít gây phá hủy tính
liên tục của nền, hiệu ứng tập trung ứng suất nhỏ, do đó gang cầu là loại gang
có độ bền và độ dai cao nhất, xấp xỉ giá trị của thép. Vấn đề quan trọng trong
sản xuất gang cầu là hiệu quả xử lý cầu hóa nước gang. Trước đây người ta
dùng Mg làm chất cầu hóa, song chất lượng gang không ổn định, thao tác
phản ứng tỏa nhiệt, làm tăng nhiệt độ của gang và làm giảm độ nhớt của gang
lỏng nên sự nổi tạp chất suaphit cũng thuận lợi, tạo điều kiện cho các sunphit
đi vào xỉ. Nếu giữ gang lỏng lâu sau biến tính cầu hóa, lượng S tăng lên do
sunphit đất hiếm tác dụng với oxy ở bề mặt gang lỏng. Kết quả là hàm lượng S
trong gang sẽ tăng lên và hàm lượng đất hiếm (Ce) sẽ giảm đi.
- Sự tồn tại của các nguyên tố cầu hóa để duy trì grafit dạng cầu. Các
nguyên tố dùng để biến tính cầu hóa thường bị cháy hao trong quá trình biến
tính. Đặc biệt là Mg có nhiệt độ nóng chảy thấp (651
0
C), nhiệt độ sôi không
cao (1120
0
C) (thấp hơn nhiệt độ gang lỏng khi biến tính) nên bị cháy hao rất
mạnh. Tùy vào điều kiện biến tính như thiết bị biến tính, nhiệt độ gang lỏng,
thời gian biến tính mà hiệu suất thu hồi Mg rất khác nhau. Với các chất biến
tính đất hiếm do có nhiệt độ nóng chảy lớn (T
nc
của Ce là 793
0
C, của La là
920
0
C) và nhiệt độ sôi cao (T
s
của Ce là 2417
0
C) nên ít cháy hơn, không có sự
sôi à bắn tóe nên hiệu quả sử dụng của nó cao hơn nhiều. Để duy trì được
gang có grafit dạng cầu thì sau khi biến tính, các chất biến tính còn phải được
giữ một lượng ở trong gang. Khi biến tính bằng Mg thì lượng Mg dư trong
bề mặt của lăng trụ và do đó làm tăng tốc độ phát triển của bề mặt này lớn hơn
rất nhiều bề mặt cơ sở. Kết quả là grafit phát triển thành dạng tấm.
Khi biến tính gang bằng nguyên tố cầu hóa, các chất cầu hóa sẽ tác
dụng với lưu huỳnh nên hàm lượng lưu huỳnh sẽ giảm đi. Chỉ khi nào hàm
lượng lưu huỳnh ≤0,03% thì gang được biến tính bằng Mg mới có giá trị ở
dạng cầu.
Hàm lượng lưu huỳnh càng tăng thì lượng chất biến tính cần để cầu hóa
càng tăng. Lượng chất biến tính cần khử lưu huỳnh có thể tính theo công thức
sau :
Mg
s
=0,75 (S
đ
– S
s
).
Ce
s
=4,15 (S
đ
– S
s
).
Trong đó : Mg
s
, Ce
s
– lượng Mg, Ce cần để khử lưu huỳnh (%).
S
đ
2
– hàm lượng S ban đầu và S còn dư lại.
0,04 – 0,1 lượng Mg dư tùy thuộc vào chiều dày thành vật
đúc.
Khi lượng Mg không đủ thì sẽ tạo thành grafit lẫn lộn (cầu và tấm), khi
quá thừa Mg thì gang bị trắng từng phần hoặc toàn bộ và vật đúc có khuyết tật
đúc.
Hiệu xuất tác dụng phụ thuộc vào lượng cháy hao Mg không những
được quyết định bởi dạng và phương pháp cho chất biến tính vào mà còn được
quyết định bởi nhiệt độ của gang, thời gian của phản ứng, và thời gian giữ kim
loại sau khi xử lý.
Thành phần một số hợp kim biến tính cầu hóa mà các cơ sở sản xuất ở Việt
Nam thường sử dụng được nêu ở bảng 10.
23
Bảng 10. Thành phần hóa học các chất cầu hóa thường sử dụng ở Việt
nam.
Nước
sản xuất
Ký hiệu Thành phần hóa học ( %)
Mg Ce Ca Si Al Fe
Đài
Loan
KC-5
5,5 1,8 – 2,2
5,0 – 7,0
2,0 – 4,0
2,0 – 3,0
≤ 44 - Còn lại
- Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian biến tính.
Nhiệt độ biến tính có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu xuất sử
dụng chất biến tính. Điều này liên quan đến sự hòa tan đồng đều chất biến tính cũng
như khả năng cháy hao chất biến tính. Khi nhiệt độ biến tính thấp ( 1370
0
C) chất
biến tính chưa hòa tan hết, gang không được cầu hóa. Khi tăng nhiệt độ biến tính
(1380 – 1510
0
C) đã nhận được gang cầu, hệ số sử dụng Ce cao, tiếp tục tăng nhiệt
độ biến tính ( 1520
0
C) hệ số sử dụng Ce giảm do Ce bị cháy hao mạnh.
Giữ gang lỏng lâu sau khi biến tính sẽ dẫn đến làm giảm hàm lượng chất biến
tính dư trong gang và làm tăng hàm lượng S, kết quả là làm giảm chất lượng cầu
hóa, thâm chí chuyển grafit dạng cầu thành dạng tấm. Các kết quả thực nghiệm đã
chỉ ra rằng, khi giữ gang cầu sau biến tính 5 phút còn nhận được grafit dạng cầu, khi
giữ tới 20 phút grafit trở thành dạng giun, còn tới 30 phút sẽ nhận được grafit dạng
tấm. Ở trên bề mặt gang lỏng với không khí, tùy theo điều kiện nhiệt độ giữ gang
lỏng mà lượng Ce bị giảm đi đáng kể và lượng S sau một thời gian lại tăng lên ; vì
vậy sau khi biến tính 1 – 2 phút nên rót ngay vào khuôn.
Khi gang có các chỉ tiêu tương tự với thép về độ bền kéo, thì gang có
giới hạn chảy cao hơn nhiều điều này cho phép sử dụng chúng trong các chức
năng đặc biệt quan trọng.
Sự thay thế đúc thép bằng đúc gang độ bền cao thuận lợi chứng tỏ rằng
gang độ bền cao, ở các chỉ tiêu tính chất cơ lý tương tự, có tính chất đúc tốt
hơn nhiều, trong đó thì độ chảy loãng (cao hơn rất nhiều) và khuynh hướng
đối với sự tạo thành nứt nóng nhỏ nhất. Độ chảy loãng của gang tốt cho phép
đúc các chi tiết thành rất mỏng từ chúng mà sự sản xuất các chi tiết như vậy từ
thép là rất khó khăn. Khuynh hướng tạo thành nứt nóng không lớn của gang
rút gọn rất nhiều kỹ thuật sản xuất vật đúc và làm giảm rõ rệt phế phẩm về nứt
nóng của khuyết tật.
25
Nhiệt độ nóng chảy của gang thấp hơn thép rất nhiều làm giảm nhẹ rất
nhiều kỹ thuật nấu, bởi vì không yêu cầu vật liệu chịu lửa bền nhiệt cao đối
với lò và vật liệu làm khuôn chịu nhiệt cao.
Gang cầu được sử dụng thay cho gang có grafit tấm khi mà sự thay thế
này dẫn đến sự tăng thời hạn sử dụng chi tiết hoặc là dẫn đến sự tiết kiệm rất
lớn kim loại và làm giảm trọng lượng máy. Trục cán, các khuôn đúc thỏi và
ống là thí dụ đặc trưng sự thay thế thành công gang có grafit tấm bằng gang
cầu. Ở kết quả sự thay thế này độ bền của trục cán tăng 2-4 lần, độ bền khuôn
đúc thỏi tăng 2-3 lần. Còn trọng lượng ống giảm 20-30%.
Yêu cầu độ bền ở điều kiện tác dụng nhiệt độ và sự nguội không đều,
tạo điều kiện để phát triển ứng suất nhiệt; độ bền cao, độ dẻo và độ bền chống
lại sự trương nở và sự tạo thành vết nứt là yêu cầu cơ bản đưa ra đối với khuôn
đúc thép.Do khuôn đúc gang xám không đạt được độ bền, tiêu hao khuôn rất
cao, từ 12-22 kg trên 1 tấn thép. Các khuôn hư hỏng do xuất hiện vết nứt dọc
và tạo thành lưới. Gang cầu độ bền cao thỏa mãn yêu cầu cơ bản đối với
khuôn đúc là vật liệu thích hợp nhất để sản xuất khuôn đúc. Gang này có độ