BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN HÓA HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM Báo cáo tổng kết khoa học, kỹ thuật Đề tài: NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT
PHỤ GIA CHO DẦU GIA CÔNG KIM LOẠI
Chủ nhiệm đề tài: ThS. TRẦN THẮM
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT
PHỤ GIA CHO DẦU GIA CÔNG KIM LOẠI
Chủ nhiệm đề tài: ThS. TRẦN THẮM
Các cán bộ tham gia thực hiện đề tài:
1. Nguyễn Công Bắc- Thành viên
2. Nguyễn Thị Huyền Châu - Thành viên
3. Th.s. Nguyễn Công Long - Thành viên
4. Trần Ngọc Hương - Thành viên
5. Th.s.Phạm Thị Thúy Nga - Thành viên
HÀ NỘI 12-2009
Tài liệu này được chuẩn bị trên cơ sở kết quả thực hiện đề tài cấp Bộ,
axit olêic và LAS làm phụ gia tạo nhũ cho dầu gia công kim loại. Khi sử dụng phụ
gia này hy vọng khắc phục được hai nhược điểm trên và có thể sử dụng cả
dầu gốc
parafinic và naphtenic để pha chế sản phẩm.
2
PHẦN I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I.1. Dầu gia công kim loại
I.1.1. Mô tả chung về quá trình gia công kim loại [6]
Trong gia công kim loại cần phân biệt quá trình cắt gọt kim loại và sự xử lý,
tạo hình cho kim loại. Trong quá trình cắt gọt, kim loại bị gọt bỏ gây nên sự biến
dạng và đứt gẫy thành những mảnh nhỏ. Lượng nhiệt đáng kể sinh ra do chuyển hóa
năng lượng trong quá trình gia công và do ma sát giữa bề mặt kim loại, phôi mạt
kim loại và dụng cụ cắt gọt. Còn trong quá trình xử lý và tạo hình cho kim loại như
cán kéo kim loại, uốn
ống, vuốt ống, dưới tác dụng của ngoại lực, phôi kim loại
được tạo hình nhờ biến dạng dẻo nhưng vẫn giữ nguyên thể tích. Chi tiết kim loại
qua gia công áp lực có cơ lý tính tốt hơn. Các quá trình này xuất hiện ở hầu hết các
lĩnh vực công nghiệp: công nghiệp ô tô, máy bay, đồng hồ, thiết bị điện, điện
tử…90% sản phẩm kim loại và hầu hết kim loại trong công nghi
Hình I.1: Các kiểu chất bôi trơn trong quá trình gia công kim loại
Chất bôi trơn được sử dụng trong một quá trình biến hình kim loại nào đó
trước hết phải là giảm ma sát, yếu tố này nói chung, có ảnh hưởng đến tuổi thọ, công
cụ, sự dịch chuyển êm nhẹ của kim loại, đến lượng tiêu hao năng lượng, đến sự gia
tăng nhiệt và đến chất lượng bề mặt. Thường hệ số ma sát càng thấp thì mức độ tiêu
hao về lực và công su
ất đòi hỏi càng giảm. Ví dụ, việc bôi trơn tốt trong rèn dập sẽ
làm giảm mài mòn khuôn và hạ thấp được lực rèn dập, chống xước khuôn và dễ lấy
sản phẩm ra khỏi khuôn. Ngoài ra nó còn làm cho sự dịch chuyển của vật liệu trong
khuôn được dễ dàng và đóng vai trò như một lớp cách nhiệt ngăn giữa vật liệu rèn
và bề mặt khuôn. Tuy nhiên, trong nguyên công cán, hệ số ma sát giữa trục lăn và
phôi cán không quá cao cũ
ng không quá thấp. Rõ ràng là ma sát thấp sẽ làm giảm
lượng tiêu hao năng lượng, giảm lượng nhiệt phát sinh và giảm mài mòn trục lăn.
Nhưng ma sát quá thấp lại gây ra hiện tượng trượt mà có thể làm hỏng bề mặt phôi
cán và có ảnh hưởng xấu đến quá trình biến hình.
Các chất bôi trơn lỏng, các dịch huyền phù, past, mỡ, các chất bôi trơn và che
phủ rắn là những chất bôi trơn được chọn cho các quá trình biến hình kim loại. Vì
kim loại được gia công có th
ể rất khác nhau về thành phần, từ những kim loại hầu
như tinh khiết (như nhôm, berili, đồng, magiê, niken, titan) đến các hợp kim rất
phức tạp (như thép không gỉ) nên chất bôi trơn được sử dụng cho quá trình biến
dạng kim loại rất khác nhau. Chúng có thể là chất lỏng, nửa rắn hoặc rắn, cũng như
có thể là hỗn hợp của chúng. Chất bôi trơn sử dụng thông thường nhất trong quá
trình này là các dầu khoáng, d
ầu khoáng cộng với các dầu béo (các dầu hỗn hợp),
Chiều dày
của phôi
Chiều sâu
20% các chất tạo nhũ kiểu anion hoặc kiểu không ion và 5 -10% các chất hợp phần.
Các chất hợp phần có thể gồm nhiều hợp chất củ
a các nhóm phụ gia sau đây: các
phụ gia chịu tải (tribo), các chất ức chế oxy hóa, các tác nhân thấm ướt, các chất
chống vi khuẩn và các chất chống tạo bọt. Chúng có thể gồm dẫn xuất của axit oleic
hoặc các chất béo khác, các ester của axit photphoric (như tricrezyn photphat), các
etanolamin và các hợp chất khác.
Trong cán nóng, chức năng qua trọng nhất của chất bôi trơn là làm mát, tuy nhiên
nó cũng làm giảm lượng tiêu hao năng lượng, cải thiện chất lượng bề mặt của v
ật
được cán và làm mỏng tối đa vật liệu cán. Vì thế ma sát cũng là yếu tố quan trọng.
Trong cán nguội, những thanh đã qua cán nóng được cán ở nhiệt độ môi
trường thành tấm hoặc lá. Do nhôm có xu hướng bám sang trục lăn trong khi cán
nguội (giống như trong quá trình cán nóng) nên chức năng đầu tiên của các chất bôi
trơn dùng cho cán nguội là làm giảm được xu hướng này. Các phân đoạn chưng cất
hẹp được tinh chế kỹ nhận đượ
c từ các dầu thô gốc parafin thường được sử dụng
nhất làm dầu gốc cho các chất bôi trơn này. Nhiệt độ nung trong công nghiệp nhôm
5
là khoảng 320
0
C, do vậy việc sử dụng các phân đoạn dầu khoáng gốc này sẽ rơi vào
phân đoạn keroxin. Để tạo cho chất bôi trơn dùng trong cán nguội nhôm có được các
đặc tính ma sát và khả năng mang tải thích hợp cần phải pha thêm các dầu gốc
khoáng có độ nhớt thấp một tổ hợp phụ gia đặc biệt. Các phụ gia được sử dụng chủ
yếu gồm các ancol béo, các axit béo và các ester béo. Các ancol béo đảm bảo cho
chất bôi trơn có đượ
6
vy cht lng ct gt dựng trong vic chut phi cú tớnh cht bụi trn v chng hn
dớnh rt tt bo v dng c ct gt v m bo gia cụng chớnh xỏc.
Hỡnh I.2: Ch lm vic khc nghit ca mt s quỏ trỡnh ct gt kim loi
Hỡnh I.2 cho thy rng ch lm vic khc nghit tng thng i lin vi tc
ct gt gim. Ch lm vic khc nghit ũi hi cht lng ct gt phi cú hot
tớnh cao. iu ny cú ngha l di iu kin lm vic kh
c nghit phi s dng cỏc
cht lng ct gt cú cha ph gia m c bit l ph gia chu cc ỏp. Cỏc cht lng
ct gt ngy nay thng cha nhiu loi húa phm c bit c tớnh toỏn sao cho
cht lng cú c kh nng bụi trn, hot ng b mt, n nh v cỏc tớnh
cht chng hn dớnh cn thit.
Hỡnh I.3: Tớnh cht bụi trn, lm mỏt ca cỏc cht lng gia cụng kim loi
nh hng ca iu kin lm vic n yờu cu i vi mt cht lng ct gt
Dầu khoáng
Dầu khoáng
Với phụ gia
Nhũ loãng
Nớc với phụ gia
Tớnh lm mỏt
7
nhưng lại là một chất bôi trơn rất kém. Do vậy, các sản phẩm gốc nước có chứa các
tác nhân thấm ướt, các phụ gia chịu cực áp, các chất ức chế ăn mòn và một số hóa
chất khác thường được chọn để làm chất lỏng cắt gọt dùng cho các nguyên công có
điều kiện làm việc ít khắc nghiệt như tiện, phay, khoan … Hình trên cho thấy rằng
một số chất lỏng cắt gọt kim lo
ại có tính chất làm mát tuyệt hảo cũng có tính chất
bôi trơn tốt.
2. Trong các nguyên công có tốc độ thấp hơn, mà thường đi liền với ma sát và
mài mòn dụng cụ cao, như gia công răng, tarô hoặc chuốt thì bôi trơn là yếu tố quyết
định còn yếu tố làm mát ít quan trọng hơn.
Trong những trường hợp như vậy, do điều kiện làm việc khắc nghiệt nên
người ta thường sử dụng các chất bôi trơn g
ốc dầu có chứa phụ gia mà chủ yếu là
các phụ gia chịu cực áp.
I.2. Thành phần cơ bản của dầu gia công kim loại
I.2.1. Dầu gốc
Dầu thương phẩm bao gồm hai hợp phần là dầu gốc và phụ gia. Dầu gốc được
sử dụng nhiều nhất là các phân đoạn dầu khoáng gốc dầu mỏ gọi là dầu gốc khoáng
và được chế biến theo công nghệ truyền thống. Ngoài ra còn có thể dùng một số loại
dầu gốc tổng hợp có nguồn gốc là sản phẩm của những phản ứng hóa học.
nhau về tính chất vật lý, hóa học và dầu bôi trơn có cấu trúc khác nhau. Ba loại dầu
này đều là dầu thương phẩm và được chọn có độ nhớt gần bằng nhau.
Bảng I.1. Đặc tính vật lý và hóa học của các dầu gốc khoáng [6]
Tính chất/thành phần hóa học Dầu parafin Naphten Aromat
Độ nhớt động học ở 40
0
C, mm
2
/s 40 40 36
Độ nhớt động học ở 100
0
C, mm
2
/s 6,2 5,0 4,0
Chỉ số độ nhớt 100 0 -185
Tỷ trọng d
4
20
0,8628 0,9194 0,9826
Nhiệt độ chớp cháy,
0
C 299 174 160
Điểm anilin,
0
C 107 73 17
Nhiệt độ đông đặc,
0
C -15 -30 -24
Phân tử lượng 440 330 246
Chỉ số khúc xạ 1,4755 1,5068 1,5503
19
37
44 41
36
23
9
I.2.1.2. Dầu gốc tổng hợpGần đây, hướng nghiên cứu của nước ngoài về pha chế dầu bôi trơn cho quá
trình gia công kim loại có sử dụng dầu gốc bán tổng hợp và tổng hợp làm chất bôi
trơn nền. US Patent 6448207 nghiên cứu sử dụng nước, các sản phẩm tan trong nước
để pha chế chất lỏng gia công kim loại (etylenglycol, sterat kim loại, cacbonat, chất
hoạt động bề mặt, silicon, phụ gia ức chế ăn mòn kim loại, phụ gia chống tạo b
ọt).
US Patent 6242391 lại sử dụng dung môi ancol làm chất nền, các muối brom, flo
làm phụ gia chống hàn dính, ngoài ra còn có phụ gia ức chế gỉ, phụ gia diệt khuẩn.
So với dầu gốc khoáng thì dầu gốc tổng hợp có nhiều ưu điểm hơn, khoảng
nhiệt độ làm việc rộng (từ -55
0
C đến 320
0
gồm các sản phẩm không tan trong nước. Tuy nhiên, chúng không tương hợp với
các dầu khoáng hoặc các phụ gia dùng cho dầu khoáng. Hiện nay, polyglycol là loại
dầu gốc tổng hợp phổ biến nhất. Một trong những ưu điểm của polyglycol là chúng
phân hủy hoàn toàn dưới
điều kiện oxy hóa ở nhiệt độ cao. Điều này dẫn đến sự tạo
10
cặn thấp trong điều kiện nhiệt độ làm việc bình thường và nhiệt độ cao, hoặc phân
hủy hoàn toàn, không tạo cặn khi sử dụng ở nhiệt độ cao.
Polyglycol là chất bôi trơn tuyệt vời, chịu nhiệt độ thấp tốt mặc dù ở nhiệt độ
thấp chúng có xu hướng trở nên nhớt hơn so với một số dầu tổng hợp khác, chúng có
độ dẫn nhiệt cao, điể
m đông tương đối thấp và có ít hoặc không có tác dụng ngược
lại đối với vật liệu làm kín thông thường. Nhưng với các sản phẩm tan trong nước
phải xem xét việc làm kín để chắc chắn rằng các chất làm kín tương hợp với nước.
Mặt khác, chúng có tác dụng như dung môi mạnh đối với các loại sơn không bền.
Các polyglycol hòa tan trong nước được ứng dụng rộng rãi và phổ biến trong chất
lỏng cắ
t gọt kim loại.
I.2.2. Phụ gia tạo nhũ [6,8,12,14]
Trong trường hợp cần tạo ra hệ nhũ tương dầu trong nước hoặc ngược lại với
những mục đích khác nhau như tạo chất lỏng thủy lực chống cháy, chất bôi trơn
dùng trong khoan đá và loại thể lỏng dùng gia công kim loại thì sử dụng phụ gia tạo
nhũ. Phụ gia nhóm này là các muối sunfonat, các axit béo và muối của chúng, các
ester của axit béo, các phenol và phenol ete…
Theo định nghĩa, nồng độ cân bằng của chất tạ
o nhũ trên phân cách dầu -
nước cao hơn trong thể tích.
- Chất tạo nhũ không ion: Chúng thường là các este được tạo ra bởi phản ứng của
một axit béo mạch dài ưa dầu với một ancol polyhydric ưa nước hoặc axit béo với
polyoxyetylen (-CH
2
-CH
2
-O-)
n
Những ảnh hưởng của chất hoạt động bề mặt HLB (Hydrophile Lyophile
Balance), lượng chất phân tán và nhiệt độ lên kích thước hạt nhũ của dầu gia
công kim loại.
Đối với một quá trình gia công kim loại thì người ta sử dụng nhũ như một dầu
bôi trơn gia công, sự tạo thành màng dầu trên bề mặt kim loại bằng quá trình phủ kín
qua các giọt dầu trong thời gian nhất định. Do đó, với các y
ếu tố khác không thay
đổi nếu tăng tốc độ làm việc trong quá trình gia công thì sẽ phải tăng lớp dầu bảo vệ
lên, kết quả được nói lên trong các trường hợp ít chất bôi trơn và trường hợp có phụ
gia tăng khả năng ma sát, nó cũng được sử dụng rộng rãi như phụ gia cực áp, axit
béo…
Dầu cho gia công kim loại dựa trên dầu trong nước nhũ có thể tạo ra chất bôi
trơn tốt và bền. L
ượng dầu có độ dày phù hợp được phủ lên bề mặt kim loại trong
quá trình gia công là do tỷ lệ kích thước hạt của nhũ dùng cho quá trình gia công,
kích thước hạt nhũ to hơn sẽ có tính chất che phủ và bôi trơn tốt hơn [12, 13]. Do đó,
việc kiểm tra kích thước hạt của dầu gia công kim loại là phổ biến và được sử dụng
như một dấu hiệu cho các điều kiện dầu sử dụng trong công nghi
ệp.
Trong công nghệ trước đây, việc gia công kim loại ở tốc độ thấp hay cao thì
dầu gia công sẽ có chứa chất hoạt động bề mặt tạo nhũ có khả năng tan trong dầu
ặt ion sẽ ra độ bền nhũ khi pH
thay đổi và ion mạnh trong pha nhũ. Đối với chất hoạt động bề mặt riêng biệt, giá trị
HLB của nó có khả năng tạo nhũ và phân tán chất lỏng, chất rắn khác nhau. Trong
dầu gia công kim loại, sự có mặt của các dầu và bột sắt thì yêu cầu chọn lựa chất
hoạt động bề mặt có giá trị HLB tối ưu, theo đó duy trì sự bền hóa nhũ
của giọt dầu
và thậm chí ngay cả có sự phân tán của bột sắt để đạt được sự bền hóa của kích
thước hạt nhũ cuối cùng.
Nghiên cứu trực tiếp về độ bền của dầu gia công kim loại, như bột sắt và giọt
dầu, tương tác của chúng với chất hoạt động bề mặt rất khó, do trạng thái động học
và sự phân nhỏ củ
a hệ thống. Tuy nhiên, kích thước hạt nhũ có thể bị ảnh hưởng bởi
các yếu tố thay đổi như giá trị HLB của chất tạo nhũ/ phân tán, nhiệt độ làm việc
quá trình, pH, lượng bột sắt trong dung dịch và tạp chất của dầu. Bằng việc nghiên
cứu các ảnh hưởng của những yếu tố và thiết lập mối quan hệ giữa chúng với kích
thước hạt nhũ trong d
ầu gia công kim loại.
13
I.2.2.1.Tình hình sản xuất phụ gia tạo nhũ ở trong nước
Hiện nay phụ gia tạo nhũ được sản xuất tại Viện Hóa học Công nghiệp Việt
Nam trên cơ sở xà phòng hóa của LAS với TEA. Phụ gia tạo nhũ này có ưu điểm là
cho khả năng tạo nhũ tốt và bền nhưng nhược điểm là môi trường của sản phẩm dầu
gia công kim loại khi pha vào nước là pH<7 do đó dẫn đến bề mặt kim loại sau khi
gia công thường bị gỉ. Ph
ụ gia tạo nhũ cũng được sản xuất tại công ty phụ gia và các
sản phẩm dầu mỏ (APP) trên cơ sở là xà phòng của TEA với dầu đậu nành hoặc dầu
cọ và có sử dụng thêm phụ gia sunphonat theo công nghệ của Nga. Phụ gia này cho
Bảng I.3. Tỷ lệ pha trong dầu gốc parafinic
STT Hợp phần Tỷ lệ (%TT)
1 GT 1500S 15
2 Phụ gia khác 10
3 Dầu gốc parafinic vừa đủ
14
- Ứng dụng: GT 1500S có thể đuợc sử dụng như là phụ gia dầu gia công kim
loại có tính năng tốt. Các phụ gia cực áp khác có thể đuợc bổ sung theo tỷ lệ thích
hợp. Các este của glycol có thể đuợc sử dụng để đạt đuợc tính chất bôi trơn tốt mà
không cần phải dùng phụ gia cực áp truyền thống có chứa clo, lưu huỳnh hay
photpho. Công thức cuối cùng có thể đu
ợc điều chỉnh bởi axit béo, trietanolamin hay
các tác nhân khác có khả năng bền nhũ.
- Các sản phẩm thay thế: Phụ gia GT 1200S và GT 1580VS được sử dụng
khi pha chế với dầu gốc parafinic; khi pha chế với dầu gốc naphtenic thì sử dụng
phụ gia GT 1900S và GT 1990S . Phụ gia ADCONATE BASE 2114 có thể sử dụng
để pha chế dầu gia công kim loại với cả hai loại dầu là naphtenic và parafinic.
* COLA
®
LUBE 4715
Là phụ gia cần thiết cho dầu gia công kim loại do hãng Colonical Chemical
(CCI) phát triển và sáng tạo ra để sử dụng cho các loại dầu hòa tan, chất lỏng tổng
hợp và chất lỏng bán tổng hợp gia công kim loại. Cola
®
Lube 4715 là công thức hữu
ích trong các ứng dụng như tiện, doa, nghiền, khoan và nghiến. Cola
®
15
+ Isoparaffinic: Không tan
- Công thức: Dầu hòa tan, chất lỏng cán và mài:
+ Metyl este của đậu tương : 60% KL
+ Cola®Lube 4715: 15 % KL
+ Cola®Lube 3414 : 10% KL
+ TOFA (5-(tetradecyloxy)- 2-furoic acid) : 5% KL
+ TEA-99 : 10 % KL
Trộn các thành phần và khuấy đều cho đến khi đồng nhất.
+ Dữ liệu làm việc (5% trong nước):
Bề ngoài: Nhũ tương màu sữa tươi.
pH: 9,4
+ Cách pha loãng:
Mài: 2% - 4% trong nước
Gia công nhẹ: 3% - 6% trong nước
Gia công vừa phả
i: 5% - 8% trong nước
Gia công nặng: 7% - 10% trong nước
- Tổng hợp chất lỏng gia công kim loại và định hình:
+ Nước: 50% + Cola®Lube 4715: 20%
+ TEA-99: 20% + Cola®Lube 3404: 10%
Trộn các thành phần và khuấy đều cho đến khi đồng nhất.
+ Dữ liệu làm việc (5% trong nước):
Bề ngoài: Nhũ tương màu sữa
pH : 9,4
+ Cách pha loãng:
Gia công vừa phải: 4% - 8%
Gia công nặng: 6% - 10%
+ pH (5% khối lượng trong nước): 9,4
- Công thức: 18% Becrosan
TM
E2155 trong dầu paraffinic
+ Mẫu nhũ màu trắng đục ổn định ở 0 - 50
0
C
+ Độ ổn định nhũ theo tỷ lệ 20:01 trong nước ở 40
0
F , 0/0,1 ml
+ Không ăn mòn gang (5% trong nước ở 20
0
F)
+ Khả năng tạo bọt (tỷ lệ 20:1 trong nước ở 20
0
F): 0 bọt<30s
- Ứng dụng:
+ Các mẫu Becrosan
TM
E2155 là cơ sở nền có nồng độ dầu hòa tan đặc
trưng là 18% khối lượng trong dầu khoáng. Khi kết hợp với biocide của
Biozid ST -1 và Contram J30 sẽ làm tăng tuổi thọ của dầu.
+ Có thể kết hợp các nồng độ dầu hòa tan với SYN - ESTER
®
GY10
hoặc ESTER
®
GY25 và ADDCO
®
370-P hoặc Becrosan OS 20 chịu tải trọng
mốc, chất nhờn bẩn,
Phụ gia diệt khuẩn hiện được dùng chủ yếu trong dầu bôi trơn động cơ tàu
thủy, chất lỏng cắt gọt kim loại là những môi trường lý tưởng cho sự phát triển của
một số lớn các vi sinh vật, làm cho chất bôi trơn bị biến chất đi.
Các chất diệt khuẩn quan trọng nhất thuộc các nhóm hợp chất sau: phenol,
hợp chất chứa clo, etanolamin, fomaldehyt và các hợp chất giải phóng ra
fomaldehyt, triazin, hợp chất dạng morphin. Các chất chelat như tetranatri
etylendiamin tetraxetat khi được bổ sung vào hệ chứa phụ gia diệt khuẩn thích hợp
có thể làm tăng hoạt tính một cách đáng kể.
Có một điều quan trọng c
ần lưu ý ở đây là nhiều phụ gia diệt khuẩn dùng cho
chất lỏng cắt gọt bị giảm hoạt tính đi khá nhanh. Hơn nữa, cần phải biết là do thành
phần các chất lỏng cắt gọt quá khác nhau nên không có một loại phụ gia diệt khuẩn
nào có hiệu quả cho tất cả các chất lỏng cắt gọt. Vì vậy, đối với từng chất lỏng cắt
gọt gốc n
ước phải được nghiên cứu cụ thể để xem chất diệt khuẩn nào có hiệu quả
nhất. Nhiều phụ gia diệt khuẩn gây độc hại cho người.
* CONTRAM ST - 1
Là chất diệt khuẩn công nghiệp có hàm luợng cao có công thức :
O
N
N
ON, N Metylen bismorpholin
- Đặc trưng kỹ thuật:
+ Cảm quan: sạch, chất lỏng màu vàng
+ pH( pha loãng): 9,0 - 11,0
* BIOBAN DB - 20
(dung dịch 20% của 2,2 -Dibrôm - 3 - nitrilopropionamide)
- Bioban DB - 20 là chất kháng khuẩn hiệu quả, không có fomandehit và
tương thích với mọi loại chất lỏng gia công kim loại
- Đặc tính: Không mùi, không tạo bọt, bền trong môi trường kiềm, ảnh
hưởng ít tới môi trường
- Tính chất vật lý:
+ Bề ngoài: Chất lỏng trong màu hổ phách
+ Khối lượng riêng: 1,28 g/ml
19
+ Độ nhớt ở 25
0
C: 47 cSt
+ pH: 1,5 ÷ 5,0
+ Tính tan: Trộn lẫn hoàn toàn với nước
+ Điểm đông đặc: ~ -50
0
C
+ Điểm sôi: > 70
0
C
+ Điểm chớp cháy cốc hở: > 100
0
C
+ Độ bền nhiệt: > 70
0
+ Điểm sôi: 97
0
C
+ Điểm đông đặc: <-15
0
C
+ Độ nhớt ở 25
0
C: 175 - 350 cSt
+ Điểm đông đặc: < -15
0
C
20
+ Khối lượng riêng ở 20
0
C: 1,12 - 1,16
+ pH ứng dụng: 2 - 12
+ Tính ổn định: bình thường
- Đặc tính
+ Rất bền nhiệt
+ Có hiệu quả diệt đa dạng : vi khuẩn, nấm
+ Khoảng pH rộng
+ Thường dùng ở nhiệt độ cao và trong môi trường kiềm
+ Bền hóa học
+ Không có fomanđehit,5-clo-2-metyl-4isothiazolin-3-one, halogen và phenol
- Sử dụng: Thường dùng ở nồng độ khoảng 0,04% - 0,18% Kl. Có thể ảnh hưởng
tới da , mắt
0
C: trộn lẫn
+ Độ tan trong dầu: trộn lẫn
+ Điểm sôi: 100
0
C
+ Điểm đông đặc: < - 10
0
C
+ Tỷ trọng ở 25
0
C: 1,26 - 1,30
21
+ Độ nhớt ở 25
0
C: 12 - 15 cSt
+ Độ bền: tạm ổn
+ pH ứng dụng: 2 - 9
- Thành phần:
CMIT + MIT: nhỏ nhất là 14%
MgCl
2
: 7 - 11 %
Mg(NO
3
) : 16 - 18 %
- Đặc tính
phần Bioban CM14.
22
*BIOBAN BIT 10
- Bioban bit 10 có độ độc thấp, phổ rộng, không chứa fomanđehit , bảo vệ các
sản phẩm khỏi vi khuẩn , men, và nấm. Bioban Bit 10 bền trong môi trường kiềm và
thường dùng bảo quản nhũ dầu trong nước và chất lỏng gia công kim loại. Bioban
Bit 10 là dung dịch gốc glycol của 1,2 - benzisothiazolin - 3 -one.
- Công thức
NH
S
O
- Tính chất vật lý
+ Bề ngoài: chất lỏng mầu be đến nâu
+ pH: 12 - 13,5
+ Độ tan trong nước ở 20
0
C : trộn lẫn
+ Độ tan trong dầu: trộn lẫn
+ Điểm sôi: 97
0
C
+ Điểm đông: <-5
0
23
I.2.3.2.Chất ức chế gỉ
Chất ức chế gỉ là chất chính trong chất lỏng gia công kim loại trên cơ sở nền
nước. Thực tế, nước làm tăng quá trình tạo gỉ trên kim loại, nhưng với sự kết hợp
của phụ gia Polartech, ảnh hưởng này bị giảm tối thiểu.
Ba dòng sản phẩm riêng biệt được sản xuất để đáp ứng yêu cầu này. Thử nghiệm
phạm vi rộng và quá trình phát triển sản phẩm đảm bảo những sản phẩm này hoàn
toàn thích hợp với nhiều hệ phụ gia và những chất lỏng nền.
*DÒNG SẢN PHẨM BA
TM
Este Borat được dùng để bảo vệ khỏi gỉ sắt rất tốt trong nhiều chất lỏng nền
nước, từ sản phẩm tổng hợp đến sản phẩm có hàm lượng gốc dầu mỏ cao. Phẩm cấp
BA
TM
của ester borat quyết định chọn lựa sự kết hợp của hàm lượng amin và Bo, để
phù hợp theo yêu cầu khách hàng và những quy định của nơi sử dụng. Hơn nữa, sản
phẩm cuối còn được tăng thêm tính kiềm, độ bền trong thời gian dài và tính chống gỉ
tốt.
*DÒNG SẢN PHẨM BA
TM
Được sử dụng ban đầu như là các chất ức chế gỉ sắt, dòng sản phẩm DA
TM
thích hợp đặc biệt với kiểu tổng hợp và bán tổng hợp. Chúng tan trong nước, glycol
và chất lỏng polyglycol. Dòng sản phẩm này có tính chống gỉ chấp nhận được và là
sự kết hợp của amin và mono, đi, poli cacboxylic axit.