Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Lời Mở Đầu
Từ những năm 70, nhu cầu xi măng cho xây dựng công nghiệp, cơ sở hạ tầng
và nhà ở tăng lên nhanh chóng trên thế giới ,đặc biệt là sự bùng nổ về đầu tư phát
triển công nghiệp xi măng tại các nước đang phát triển.mặtkhác để đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của khách hàngvề chất lượng ,tính đa dạng của xi măng và yêu cầu
khắt khe về môi trường, tiết kiệm năng lượng do giá nhiên liệu tăng nhanh sau cơn
sốc dầu lửa, các nhà nghiên cứu ,thiết kế công nghệ và chế tạo thiết bị không ngừng
đầu tư vào việc cải tiến, đổi mới công nghệ và thiết bị xi măng ngày càng tiên tiến
và có hiệu quả cao .
Việt nam là đất nước còn nghèo, kinh tế và khoa học kỹ thuật còn chưa phát
triển ,song trong bối cảnh phát triển kinh tế chung của khu vực và với chính sách
mở cửa đúng đắn của Đảng và nhà nước ,thị trường Việt Nam đã và đang thu hút
vốn đầu tư của nước ngoài ngày càng nhiều ,trong đó có ngành xi măng .Thừa
hưởng những thành tựu mới nhất của công nghệ và thiết bị sản suất xi măng trên thế
giới những năm gần đây,tổng công ti xi măng việt nam đã nhanh chóng tiếp cận và
ứng dụng ngay vào các công trình xi măng lớn mới được đầu tư và đã mang lại hiệu
quả kinh tế –kỹ thuật rõ rệt ngang tầm với các nước trong khu vực.
Để giúp sinh viên có thêm kiến thức thực tế trước khi rời ghế nhà trường thì bộ
môn tự động hoá tạo điều kiện cho sinh viên năm thứ 5 có một đợt thực tập dài
ngày xuống phân xưởng sản xuất để tiếp thu những kinh nghiệm, cũng như tiếp cận
những công nghệ được áp dụng vào trong sản xuất tại nơi mình thực tập .
Do thời gian thực tập ngắn cộng với sự hiểu biết còn hạn chế lại đứng trước
một công chình to lớn và đồ sộ ở đó là sự kết chặt chẽ của nhiều lĩnh vực khoa học
kỹ thuật .Bản báo cáo này của em là kết quả nhận thức của hơn một tháng thực tập
tại công ty xi măng Bỉm Sơn nó chỉ nói lên phần nào quy trình SXXM của nhà
máy . Bài viếtkhông thể tránh khỏi những lỗ hổng và sai sót kính mong thầy cô
cùng các bạn giúp đỡ và chỉ bảo .Qua đây em còng xin chân thành cảm ơn thầy
giáo hướng dẫn Nguyễn Văn Chất và thầy Phan Cung các cô các chú các bác ở
công ty đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tâp để em hoàn
thành bản báo cáo này.
nguyên nhiên liệu cho công ty, hệ thống đường bộ được làm bằng bê tông và thảm
nhựa để vận chuyển đất đá, sản phẩm đi tiêu thụ.
Công ty xi măng Bỉm Sơn được khởi công xây dựng từ năm 1976 do Liên Xô
(cũ) thiết kế và giúp đỡ xây dựng với dây chuyền công nghệ sản suất xi măng bằng
phương pháp ướt và năm 1983 nhà máy đã đi vào hoạt động với công suất thiết kế
1.200.000T/năm. Dây chuyền sản suất được thiết kế và lắp đặt trang thiết bị hiện
đại, có đội ngũ cán bộ kỹ sư và công nhân lành nghề đáp ứng được yêu cầu sản suất
và kinh doanh cho ra đời những sản phẩm đạt chất lượng cao trên thị trường trong
nước và quốc tế, đã tham gia xây dựng các công trình trọng điểm của nhà nước như
cầu Thăng Long, thuỷ điện Hoà Bình …Hiện nay công ty xi măng Bỉm Sơn đang
đầu tư cải tạo hiện đại hoá dây chuyền công nghệ, chuyển sản suất xi măng từ
phương pháp ướt sang phương pháp khô, bước đầu nâng sản lượng giai đoạn đầu
lên 1,8Triệu Tấn/năm, kết thúc giai đoạn cải tạo sẽ đưa công suất lên 3,5 triệu tấn
/năm.
Công ty xi măng Bỉm Sơn với mạng lưới tiêu thụ rộng rãi được nhiều người tiêu
dùng tin tưởng sử dụng, được các nhà thầu quốc tế chấp nhận xây dựng các công
trình lớn, trọng điểm. Ngoài trung tâm giao dịch tiêu thụ là nơi đầu não để phân
phối sản phẩm, Công ty xi măng Bỉm Sơn còn có 6 chi nhánh ở các tỉnh thành để
thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, bao gồm
Bỏo cỏo thc tp tt nghip
chi nhỏnh xi mng Bm Sn Thỏi Bỡnh, Ninh Bỡnh, Nam nh, Ngh An, H
Tnh, Thanh Hoỏ.
CHNG I
DY CHUYN CễNG NGH SN SUấT XI MNG BM SN
Cỏc Phng Phỏp Sn Xut Xi Mng: Cú 2 phng phỏp chớnh sn xut Xi
Mng l: Phng phỏp t v phng phỏp khụ. Tu thucvo tớnh cht c lý, hoỏ
hc ca nguyờn liu, iu kin in nng, nhit nng, thit b, t ú ngũi ta quyt
nh chn phng phỏp sn xut v phng thc nung clinker.
Mụ hỡnh sn xut xi mng
§¸ v«i, ®Êt sÐt
Phô gia
§Ëp
NghiÒn nguyªn liÖu
Lß nung
§ång nhÊt bét liÖu
NghiÒn than
Clinker
Xi M¨ng rêi
NghiÒn th¹ch cao,phô gia, Clinker
Th¹ch cao, phô gia
XuÊt Xi M¨ng rêi
§ãng bao
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
* Công nghệ sản xuất xi măng bằng phương pháp ướt.
Là phương pháp chế biến hỗn hợp nghiền thành 1 thể bùn đồng nhất có độ Èm 30-
40%. Dùng phương pháp ít khi nguyên liệu xốp mềm dễ hoà tan vào nước hoặc độ
Èm thiên nhiên lớn.
Ưu điểm : - Dễ nghiền, tốn Ýt điện năng.
- Dễ nhào trộn đồng nhất.
- Dễ điều chỉnh các thành phần phối liệu.
- Dễ chuyên trở.
- Dễ bơm, Ýt bay bụi sạch sẽ hơn phương pháp khô.
⇒
Hiệu quả kinh tế kém
Nhược điểm:-Tiêu tốn nhiều nhiên liệu.
- Cồng kềnh khó lắp đặt
- Tốn nhiều nhân công.
- Khả năng tự động hoá kém.
kích thước không quá 1000mm được đưa qua máy đập hàm kích thước không quá
300mm được đưa qua máy đập búa kích thước không quá 60mm. Được vận chuyển
vào kho chứa bằng xe Benla trọng tải 27tấn.
+ Phiến sét được khai thác tại mỏ Cổ Đam bằng phương pháp khoan nổ mìn kích
thước không quá 500mm được đưa vào máy đập búa đến kích thước không quá
60mm, sau đó được bốc súc bằng máy xúc 0530, vận chuyển bằng ôtô Kmaz, có
trọng tải 12tấn về kho chứa.
+ Phiến silic Hà Trung .
Dùng để làm nguyên liệu điều chỉnh modun silicat MS được chở về bằng xe
KMAZ , đổ vào bãi chứa .
Phiến silic có kích thước không quá 500mm đập qua máy đập búa đến kích
thước không quá 60mm đưa vào kho chứa riêng trong ngăn kho cùng phiến sét.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
+ Sỉ pirit (Lâm Thao- Phú Thọ )
Sử dụng làm nguyên liệu điều chỉnh phối liệu sản suất clinke. Sỉ pirit được
chở về bằng tầu hoả qua hệ thống tiếp nhận rồi đưa về kho chứa.
+ Quặng sắt Thạch Thành.
Sử dụng làm nguyên liệu điều chỉnh phối liệu sản suất clinke, quặng sắt được
chở về bằng ôtô đưa vào kho chứa riêng.
+ Thạch cao.
Dùng làm phụ gia điều chỉnh tốc độ đóng rắn của xi măng. Thạch cao có kích
thước không quá 500mm được đập qua máy đập búa CMD 102 đến kích thước
không quá 25mm và đưa vào kho chứa.
+ Phô gia cho xi măng.
- Phô gia hoạt tính: Đá Bazan (Phủ quỳ -Quỳnh Thắng - Nghệ an; Nông cống -
Hà Trung - Thanh Hoá )
- Phô gia trơ: Đá đen Tam Điệp
II/ Kho chứa nguyên liệu thô
Đất sét được phân chia rại điểm tiếp liệu với kho chứa đất sét hiện có bằng
van 2 ngả (21.07-2ZV211) hoạt động bằng động cơ lắp mới. Một hướng dẫn tới kho
- Băng tải gầu 24.12
- Gầu nâng 24.15
- Két chứa 24.62
2. Nguồn nhiệt dùng để sấy liệu
Khí thải tháp trao đổi nhiệt được tận dụng để sấy liệu thô trong máy nghiền
sau khi gia nhiệt trong tháp điều hoà khí thải (Tháp phun nước). Bất cứ lúc nào
nhiệt độ của khí thải tại đầu vào lọc bụi tĩnh điện cũng được làm lạnl xuống nhiệt
độ nhỏ hơn hoặc bằng 150
0
C. Khi nguồn khí thải từ tháp trao đổi nhiệt không đủ
nóng để sấy liệu trong máy nghiền, một nguồn khí nóng từ lò đốt khí nóng lắp đặt
mới sẽ cung cấp khí nóng để sấy liệu.
3. Cấp liệu máy nghiền .
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Để định lượng nguyên liệu cấp cho máy nghiền, Ba phễu dùng để chứa đá vôi
và hai phễu chứa phụ gia hiện có được sử dụng lại. Thông thường chỉ sử dụng một
phễu đá vôi nên nhân viên vận hành lựa chọn một trong ba phễu trước khi khởi
động nhóm cấp liệu. Một thùng mới bằng thép được trang bị để chứa sét. Ba cân
băng định lượng đá vôi, một cấp liệu tấm cùng với cân băng sét, hai cân băng phụ
gia, tất cả đều lắp đạt mới để định lượng cho máy nghiền liệu.
4. Vận chuyển nguyên liệu.
Do cân băng định lượng sét đặt xa các cân băng đá vôi và cân băng phụ gia,
nên thời gian trễ khởi động sẽ được cân nhắc đối với cân trọng lượng sét. Trường
hợp bình thường, vào thời điểm khởi động, nguyên liệu không được để sót lại trên
băng tải đá vôi, cân định lượng đá vôi, phụ gia. Sau khoảng thời gian trễ, cân băng
khởi động sét sẽ vận chuyển tiếp theo. Khi dừng bình thường các cân sẽ dừng và
sau khoảng thời gian trễ cân định lượng sẽ dừng, máy nghiền liệu dừng.
IV/ Đồng nhất bột liệu và chứa.
Bột liệu được thu nhận bằng các cyclon chất lượng cao (24.23) và được vận
chuyển bằng các máng khí động tới silô bột liệu (25.03) bằng gầu nâng (24.35) hoặc
chỉnh độ mở của cổng điều khiển lưu lượng (ZCV2101).
Một tuyến dự phòng của hệ thống cân cấp liệu lò gồm một cấp liệu khí nén
với cổng điều khiển lưu lượng (ZCV3102) và một van cổng đóng khẩn cấp (31.11-
2). Việc chọn tuyến tính hoặc tuyến dự phòng được nhân viên vận hành chọn trước
khi khởi động nhóm cấp liệu. Khi tuyến dự phòng được chọn trong trường hợp khẩn
cấp, độ mở theo phần trăm của van cổng điều khiển lưu lượng được đóng mở theo
phần trăm và điều chỉnh từ CCR.
+Vận chuyển liệu đến tháp tiền nung .
Bột liệu đã được cân để dẫn tới lò nung sẽ được chuyển đến tháp tiền nung
bằng băng tải gầu (31.14) và máng khí động (31.12 và 31.16). Băng tải gầu (31.15)
được cung cấp làm dự phòng nhưng băng tải này cũng có thể được sử dụng để tuần
hoàn bột liệu tới silô bằng van 2 ngả (31.15b/ ZV3121) đặt tại đầu ra của băng tải
gầu. Việc chọn băng tải gầu và chọn tuyến tuần hoàn sẽ được nhân viên CCR thực
hiện trước khi khởi động nhóm này.
VI/ Tiền nung.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Bột liệu sau khi cân được chuyển vào tháp tiền nung (31.01) năm tầng thông
qua cấp liệu kín khí (31.18). các cyclone trên cùng thuộc loại thu gom hiệu quả cao
để làm giảm tổng số bột liệu xoáy tuần hoàn bên ngoài.
Để cung cấp than bét Antharcite tới tháp tiền nung cần có đủ thể tích. Trong
tháp tiền nung bộ đánh lửa mồi được đặt tại cửa vào của khí gió ba và việc đốt cháy
sẽ được thực hiện trong vùng có nhiệt độ cao sau khi pha trộn khí thải lò và khí gió
ba. Van điều tiết điều khiển lưu lượng (32.01- 1) được lắp đặt trên đường ống khí
gió ba (32.04). Cân bằng giữa khí gió hai đến lò nung và khí gió ba đến tháp tiền
nung sẽ được điều chỉnh từ xa bằng cách hiệu chỉnh van điều khiển lưu lượng do
nhân viên vận hành CCR giám sát theo phần trăm ôxi trong khoang đầu vào và ra
cyclone tầng 5.
Một quạt gió cho tháp tiền nung (32.03) được lắp đặt để hút khí thải tháp tiền
nung và giải thoát khí thải tới tháp điều hoà không khí (36.01). Tốc độ quay quạt
của tiền nung có thể điều khiển từ xa tại CCR. Bé van điều tiết (32.03-1) được lắp
3
có trang bị tế bào cân. Khí nóng cuối cùng được cung cấp bởi quạt
(35.45) và lưu lượng gió được điều chỉnh bằng độ mở của van trên đường ống quạt
hút máy nghiền (35.45-1). Tốc độ quay của bộ phân ly động được điều chỉnh từ
CCR. Khí nóng cuối cùng được khử bằng lọc bụi tĩnh điện (35.40) và khí sạch xả ra
môi trường. Than mịn cũng được thu bằng lọc bụi tĩnh điện và được chuyển đến két
than mới (35.03).
IX/ Đốt than
Cân trọng lượng than cho vòi đốt lò nung (35.06) và cho các vòi đốt ở tháp tiền
nung (35.09) được cung cấp từ két than (35.03). Than mịn đã cân được chuyển đến
từng vòi đốt bằng khí nén tạo ra từ các quạt thổi chân đế (35.07, 35.10-1, 35.10-2):
mét cho lò nung (37.07), mét cho tiền nung (35.10-1), một để dự phòng
chung(35.10-2).
X/ Đốt dầu
Dầu diezel sử dụng là chất đốt tạm thời cho vòi đốt lò nung và các vòi đốt tiền
nung.Dầu được chuyển tới téc dầu (35.61) và tới vòi đốt tiền nung bằng máy bơm
(35.64). Dầu cũng được sử dụng cho vòi đốt (35.36) của buồng đốt phụ để cung cấp
nguồn nhiệt tạm thời trong trường hợp sấy công đoạn nghiền than. Bình thường
không khí nóng của máy lạnh dùng để sấy than thô trong máy nghiền.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
XI/ Làm mát clinker
Máy lạnh clinker kiểu ghi liên hợp (37.01) hai tầng được dùng để làm mát
clinker xả ra từ lò nung. Các tấm ghi chịu nhiệt cao và hệ thống điều khiển không
khí làm mát có phân đoạn bảo đảm hiệu quả thu nhiệt rất cao và kéo dài tuổi thọ các
tấm ghi. Máy đập clinker (37.02) đập những mảnh lớn sau khi làm mát. Một xích tải
(36.03) được lắp dưới ghi làm mát, lọc bụi tĩnh điện (37.20) lọc bụi từ khí thải còn
dư lại của máy lạnh và được đưa lên bằng quạt (37.21), khí đã được sử lý thải qua
ống khói (37.22). Một phần không khí được quạt (35.35) thổi vào máy nghiền than.
Bôi thu lại qua băng xích tải (37.25 và 37.26) tới các băng tải (38.01-1 và 38.01-2).
XII/ Vận chuyển clinker
- Quạt nhá cho hệ thống máy nghiền.
- Bộ phận truyền động phụ với phanh hãm và khớp phân ly hợp
Thiết bị phun nước (44.51) được cung cấp làm mát xi măng trong máy nghiền.
Lưu tốc nước được điều chỉnh tự động theo nhiệt độ của xi măng tháo ra từ máy
nghiền. Nguyên liệu tháo từ máy nghiền xi măng được chuyển đi bằng máng khí
động (44.08), một băng tải gầu (44.10) và một máng khí động hai ngả (44.11) với
một xi phông nguyên liệu (44.12). Cyclone (44.15) và quạt tuần hoàn (44.16) được
trang bị để thu gom sản phẩm mịn và bộ lọc túi (44.54) lọc bụi bẩn khí xả của máy
nghiền.
XIV/ Vận chuyển xi măng
Sản phẩm xi măng sẽ được vận chuyển bằng máng khí động (44.17), gầu nâng
(44.22) và các băng tải (44.23 và 44.94) tới các silô hiện hành. Hệ thống phân phối
khí động với cửa đóng mở bằng động cơ được trang bị và việc cấp liệu silô có thẻe
lựa chọn tại CCR, thao tác viên CCR chọn trước khi khởi động nhóm vận chuyển xi
măng. Theo sự lựa chọn này, các thiết bị yêu cầu tự động khởi động và các van cửa
cũng chuyển dịch. Các bộ lọc bụi túi (44.61) và 44.65) được cung cấp để lọc bụi
băng tải gầu, các máng khí động, các băng tải và bốn silô.
XV/ Công đoạn đóng bao
Xi măng từ xilo được bơm từ buồng lên két chứa qua săng kiểm tra và máng sới
tơi, đi vào thùng của máy đóng bao bàn quay 14 vòi. Xi măng được vận chuyển qua
các hệ thống băng tải cao su cấp thẳng cho phương tiện hoặc xếp vào kho. Kho
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
chứa xi măng bao có sức chứa khoảng 3000tấn bao xi măng xếp trong kho theo
nguyên tắc lò :"hạ bãi trước khi xuất trước, hạ sau suất sau".
XVI/ Các phân xưởng phụ trợ
Bên cạnh các phân xưởng trực tiếp tham gia vào dây truyền công nghệ sản xuất
còn có các phân xươngr phụ trợ có nhiệm vụ bổ trợ cùng với các phân xưởng chính
nhằm đưa dây truyền sản xuất đựoc liên tục và giải phóng mọi sự cố nhanh nhất,
đáp ứng với yêu cầu của chất lượng.
Các phân xưởng phụ trợ bao gồm :
đảm sản xuất liên tục, an toàn, đảm bảo chât lượng sản phẩm.
-Phó giám đốc kinh doanh: giúp giám đốc chỉ đạo điều hành công tác cung ứng vật
tư thiết bị va tiêu thụ ản phẩm.
- Phó giám đốc phụ trách chung: giúp giám đốc công ty quản lý, chỉ đạo, điều
hành công tác hành chính, bảo vệ quân sự, công tác đời sống, an toàn lao động, y
tế
* Khối sản xuất chính: Bao gồm xưởng mỏ, xưởng ô tô, xưởng tạo nguyên liệu,
xưởng lò nung, xưởng nghiền xi măng, xưởng đóng bao. Các xưởng này có nhiẹm
vụ thực hiện theo đúng quy trình công nghệ sản xuất xi măng, tuỳ phụ gia mà sản
phẩm là PCB30,PCV40.
- Xưởng mỏ: với dụng cụ máy móc thiết bị phục vụ cho việc khai thác đá vôi, đá
sét tại các mỏ nằm cách nhà máy 3÷10Km
- Xưởng ô tô: gồm các loại ô tô có trọng tải lớn vận chuyển liẹu vè công ty.
- Xưởng tạo nguyên liệu: gồm các máy đập, máy nghiền và các thiết bị phụ trợ
khác để nghiền dá vôi, sét, tạo hỗn hợp dưới dạng bùn( cho dây truyền ướt) đồng
nhất liệu ( cho dây truyền khô).
- Xưởng lò nung: phụ trách các hoạt động cho 2 lò nung hỗn hợp tạo thành clinker.
- Xưởng nghiền xi măng: thiết bị chính là máy nghiên xi măng chuyên dụng và các
thiết bị chuyên dùng khác.
- Xưởng đóng bao: xi măng sau nghiền đưa về két chứa và đóng bao để đưa đi tiêu
thụ.
* Khối sán xuất phụ: gồm các xưởng sửa chữa thiết bị, xưởng sửa chữa công trình,
xưởng điện tự động, xưởng cấp thoát nước - nén khí, xưởng cơ khí. Các xưởng này
có nhiệm vụ cung cấp lao động phục vụ cho sản xuất chính.
* Nhiệm vụ của một số phòng ban chủ yếu:
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Phòng cơ khí: có nhiệm vụ theo dõi tình hình hoạt động của thiết bị và sửa chữa
khi nó bị hư hỏng, chế tạo thiết bị thay thế.
- Phòng kỹ thuật sản suất: theo dõi điều độ sản xuất, các phân xưởng sản xuất
chính và phụ, theo dõi kiểm tra chất lượng sản phẩm.
Trong một khoảng thời gian thực tập tại công ty xi măng Bỉm Sơn. Nằm trong
nội dung chương trình thực tập, em đã được thực tập tại công ty xi măng Bỉm Sơn.
Nằm trong nội dung chương trình thực tập, em đã được thực tập ở phòng năng
lượng đi xuống các trạm điện 110 kv, 6 kv và các trạm biến áp phân xưởng của
công ty để tìm hiểu mạng điện cung cấp cho nhà máy. Nội dung của hệ thống cung
cấp điện như sau:
HỆ THỐNG CUNG CẤP ĐIỆN CỦA CÔNG TY XI MĂNG BỈM SƠN
Công ty xi măng Bỉm Sơn được xếp vào phụ tải loại I, do tính chất quan
trọng của công ty nên 2 đường dây đi từ nguồn điện hệ thống đến được lấy từ 2 lộ :
Lộ Thanh Hoá (171 A37) và lộ Ninh Bình (174 A37). Nhưng công ty thường dùng
nguồn từ Ninh Bình, nhuồn từ Thanh Hoá chỉ làm dự phòng khi có sự cố từ 174
A37 .
Nguồn 110KV từ hệ thống về qua TBATG được hạ xuống điện áp 6KV để
cung cấp cho các trạm biến áp phân xưởng . Nhờ vậy sẽ giảm được vốn đầu tư cho
mạng điện cao áp trong nhà máy cũng nh các trạm biến áp phân xưởng, vận hành dễ
dàng, độ tin cậy cung cấp điện được cải thiện. Vì công ty thuộc hộ loại I nên trạm
biến áp trung gian phải đặt 2 máy biến áp 1T, 2T với công suất 40.000 KVAcho
mỗi máy .
Do tính chất quan trọng của hộ loại I nên hệ thống gồm 2 đường dây cung
cấp cho 2 thanh góp có phân đoạn , liên lạc giữa 2 phân đoạn của một thanh góp
bằng máy cắt hợp bộ . Trên mỗi phân đoạn của thanh góp đặt một máy biến áp đo
lường 3 pha 5 trụ có cuộn tam giác hở báo trạm đất 1 pha trên cáp 6KV, và (TU.1T;
TU.2T) báo trạm đất 1 pha trên cáp 110KV. Để chống sét từ đường day truyền vào
trạm đặt chống sét van. Máy bién dòng có tác dụng biến đổi dòng điện lớn (Sơ cấp )
thành dòng phù hợp (5A) để cung cấp cho các thiết bị đo lường và bảo vệ .
- Dao cách ly dùng để cách ly máy biến áp khi cấn sửa chữa .
- Cầu chì dùng để bảo vệ ngắn mạch và quá tải cho máy biến áp .
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Để hạn chế dòng ngắn mạch về phía hạ áp của trạmnên ở đây dùng 2 máy biến
áp làm việc độc lập ( Điêù áp dưới tải )
các phân xưởng trong một nhà máy, vận chuyển và bốc dỡ hàng ho từ nơi này đến
nơi khác
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Hệ thống câu trục có thể làm việc trong các môi trường độc hại (bụi bặm, Èm
ướt, nhiệt độ cao,ô nhiễm ),có thể bốc dỡ và vận chuyển một khối lượng rất lớn
trong thời gian ngắn là những việc mà chân tay con người không thể làm đuợc. Nh
vậy sử dụng cầu trục trong các hạng mục công trình sẽ làm tăng tiến độ thi công,
làm giảm bớt nhân công và mang lại hiệu quả kinh tế to lớn trong SX .
2-Kết cấu của cầu trục.
Cầu trục gồm 3 phần tử cơ bản.
- Xe cầu .
- Xe con.
- Thiết bị nâng hạ.
Xe cầu di chuyển dọc theo phân xưởng.
Xe con di chuyển trên xe cầu
Thiết bị nâng-hạ dùng để bốc dỡ hàng hoá, nó di chuyển lên xuống.
II.Gới thiệu về cầu trục 20 tấn ở phân xưởng nguyên liệu nhà máy xi măng
Bỉm Sơn.
+ Hệ thống cầu trục số 2 cho phẫn xưởng nguyên liệu có nhiệm vụ bốc nguyên
liệu(thạch cao , than đá, clinker ) từ kho đổ vào xilô và di chuyển nguyên liệu từ vị
trí này xang vị trí khác trong kho. Công xuất bốc rỡ trung bình là 200tấn/giờ với
dung lượng 10tấn/gầu. Có các thông số kỹ thuật:
- Tải trọng định mức 20 tấn
- Tốc độ di chuyển của xe cầu 120 m/ph
- Tốc độ di chuyển của xe con 60 m/ph
- Tốc độ di chuyển của cơ cấu nâng-hạ 42 m/ph
- Độ cao nâng lên 14 m
Điều khiển cầu trục : Hệ truyền động cầu trục là hệ truyền động xoay chiều
với động cơ không đồng bộ Rotor dây quấn.
- Công suất động cơ xe cầu là 2ì22KW
định được các yêu cầu công nghệ và điều khiển của hệ thống cầu trục truyền động .
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Cầu trục trong phân xưởng nguyên luyện phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật
trong chế độ quá độ, cầu trục trong các phân xưởng lắp ráp phải đảm bảo quá trình
mở máy êm ,dải điều chỉnh tốc độ rộng ,dừng chính xác đúng nơi lấy hàng và hạ
hàng.vv đặc biệt phải đảm bảo an toàn và có độ tin cậy cao.
Có 2 yêu cầu cơ bản: –yêu cầu thiết bị điện .
-yêu cầu điều khiển .
1).Yêu cầu điều khiển:
Hệ thống điều khiển phải có độ tin cậy cao, khả năng làm việc tốt trong các môi
trường khắc nghiệt (ẩm ướt, nhiệt độ cao , bụi bặm, rung xóc mạnh ) . hệ thống
điều khiển có thể tạo nên toàn bbộ chu trình động của cầu trục, có chức năng dự báo
sự cố, bảo vệ thiết bị khi có sự cố: bảo vệ mất pha, lệch pha, quá tải, ngắn
mạch nhằm nâng cao độ bền của thiết bị điện .
Hệ thống điều khiển phải có khả năng lưu lại các thông sốcủa hệ thống tại thời
điểm xảy ra sự cố nhằm giúp các kỹ thuật viên tìm ra nguyên nhân và khắc phục
nhanh chóng sự cố sớm đưa hrệ thống vào làm việc.
2 ) Yêu cầu thiết bị của cầu trục.
Thiết bị đi kèm phải có độ quá tải lớn, đảm bảo độ an toàn, tin cậy, độ nhạy cao,
tuổi thọ lớn và có khả năng làm việc trong môi trường khắc nghiệt.
Những cầu bắt buộc phải có trong cầu trục là
a) Dụng cụ hạn chế hành trình.
Ta phải có các thiết bị để hạn chế hành trình của hệ thống như:chuyển động của
hệ thống xe con xe lớn, hành trình lên của cơ cấu nâng-hạ
để khống chế hành trình của cơ cấu ta dùng các công tắc hạn vị chúng được lắp
đặt ở cuối các hành trình.
-Trên bộ phận nâng có công tắc hạn vị ở cuối hành trình lên.
-Trên bộ phận di chuyển ngang cần hạn ché hành trình cả 2 hướng ở cuối 2 hành
trình.
Đối với xe con chạy trên xe lớn phải dùng công tắc hành trình để cắt nguồn điện
trong cầu trục là rất quan trọng nhằm đảm bảo ánh sáng cho quá trình làm việc và
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
sửa chữa. điện áp dùng cho đèn chiếu sáng cao nhất là 220V, điện áp của đèn an
toàn dùng cho việc sửa chữa là 36V.
Nguồn của đèn an toàn thường là nguỗn xoay chiều do một máy biến áp cung cấp.
Nếu đèn an toàn dùng nguồn 1 chiều thí có thể dùng ắc quy. Nguồn điện dùng cho
việc chiếu sáng trong cầu trục thường lấy ở cầu dao lắp trong buồng lái và bộ phận
đường dây sơ cấp của công tắc tơ. Cách nối dây thế nào sao cho khi nguồn động lực
cắt thì nguồn chiếu sáng vẫn không bị ảnh hưởng.
g)Thiết bị cung cấp điện.
Thiết bị cung cấp điên thường dùng hệ thống dây trượt. Dây trượt thường dùng
dây bừng thép , trường hợp đặc biệt có thể dùng dây đồng. Mặt không làm việc của
dây thép dùng làm dây trượtcần thiết phải sơn nâu để phân biệt rõ ràng vơí dây kim
loại không mang điện. Khoảng cách giữa các giá đỡ của dây trượt cứng không quá
6m. Nếu dây trượt nhỏ và chỉ có giá đỡ thì khoảng cách giữa 2 đầu giá đỡ không
nên xa quá 8m.
h)Những yêu cầu khác.
Điện áp của nguồn của cầu trục không nên quá 500V. Tuy nhiên cũng có thể
dùng được điện áp cao hơn nhưng phải đảm bảo độ an toàn tin cậy và tính kinh tế
cao.
Tất cả thiết bị lắp ráp trên cầu trục phải thật chắc chắn chịu đựng được độ rung
lớn và được bố chí vào những nơi thích hợp. Nếu thiết bị ngoái trời phải có màng
lưới bảo vệ để đề phòng mưa làm hỏng.
Khoảng cách giữa các bộ phận cầu trục với hệ thống dây dẫn phải đảm bảo an
toàn ( >=50mm )
IV.Hệ truyền động dùng trong càu trục.
1)Động cơ truyền động.
Để đạt hiệu quả kinh tế cao , đạt yêu cầu về đặc tính khởi động cũng như đặc tính
điều chỉnh. Động cơ truyền động sử dụng các động cơ không đồng bộ rôto dây
quấn.