LỜI MỞ ĐẦU
Qua nhiều năm đổi mới, dưới sự quản lý và điều tiết vĩ mô của nhà nước
nền kinh tế của nước ta có sự chuyển biến rõ rệt. Các đơn vị sản xuất kinh doanh
thuộc mọi lĩnh vực thành phần kinh tế cùng cạnh tranh bình đẳng trước pháp
luật đã tìm được vị trí xứng đáng trên thị trường trong và ngoài nước.
Trong điều kiện hiện nay xu hướng toàn cầu hóa, quan hệ buôn bán
Thương mại giữa nước ta với các nước bạn ngày càng được mở rộng về nhiều
mặt. Do vậy vai trò của ngành Thương mại đã trở nên rất quan trọng không chỉ
là cầu nối giữa sản xuất kinh doanh trong nước mà còn mở rộng sang các nước
trên thế giới. Điều này đã làm cho sản xuất trong nước phát triển cả về chiều
sâu, chiều rộng đồng thời hàng hóa thì ngày càng phong phú và đa dạng về
chủng loại, mẫu mã với một chất lượng đảm bảo
Một nền kinh tế càng phát triển thì các doanh nghiệp đều có cơ hội phát
triển như nhau ngược lại một doanh nghiệp có thể phát triển tốt thì nền kinh tế
đó mới có thể nói là phát triển toàn diện vì mỗi một doanh nghiệp phát triển là
một tế bào tốt của xã hội. Trong một doanh nghiệp để đo lường sự hoàn thiện
hơn về mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị sản xuất kinh
doanh và việc phân tích các chỉ tiêu kết hoạt động sản xuất kinh doanh là việc
làm hết sức cần thiết. Việc phân tích này cho phép đánh giá hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp qua thời gian và cung cấp thông tin quan trọng để
lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian tới. Xuất
phát từ những nhận thức trên, qua thời gian thực tập tại Công ty Thương mại-
Dịch vụ Cửa Nam em đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu thống kê kết quả kinh
doanh của Công ty Thương mại - Dịch vụ Cửa Nam thời kỳ 1998 - 2002”
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm ba phần chính:
Chương I: Những vấn đề chung về doanh nghiệp và phân tích kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Chương II: Phân tích kết quả kinh doanh của công ty thương mại dịch vụ
cửa nam thời kỳ 1998-2002
1
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả kinh doanh của
tạo ra sản phẩm. Như vậy có thể hiểu hoạt động xản xuất là hoạt động có mục
đích của con người nhằm tạo ra sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ để thỏa
mãn nhu cầu nào đó của cá nhân hoặc của xã hội. Kết quả của nó không chỉ bao
gồm hàng hóa cá nhân mà gồm cả hàng hóa công cộng. Qua khái niệm cho thấy
hoạt đọng sản xuất được xác định bởi các điểm sau:
- Là hoạt động có mục đích và có thể làm thay được.
- Bao gồm cả hoạt động sản xuất sản phẩm vật chất và hoạt động sản xuất
sản phẩm dịch vụ.
- Nhằm thỏa mãn không chỉ nhu cầu cá nhân mà cả nhu cầu chung của xã
hội. Tuy nhiên, không phải mọi hoạt động sản xuất nói trên đều được coi là hoạt
3
động sản xuất mà phải có loại trừ. Các loại hoạt động sau đây về bản chất là
hoạt động sản xuất nhưng tạm coi là không sản xuất.
- Các loại sản xuất bất hợp pháp.
- Các hoạt động sản xuất sản phẩm xã hội cấm .
- Các hoạt động dịch vụ tự sản tự tiêu.
Để có thể hiểu đúng phạm trù sản xuất là vấn đề hết sức quan trọng vì nó cho
phép:
- Phân định hoạt động nào là hoạt động sản xuất, hoạt động nào là phi sản
xuất.
- Chi phí nào được tính vào chi phí sản xuất( tiêu dùng trung gian) và chi phí
nào được tính vào tiêu dùng cuối cùng.
- Kết quả nào được tính vào kết quả sản xuất.
2.2. Các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu các
đối tượng tiêu dùng không tự làm được hoặc không đủ điều kiện để làm được
sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ mà mình có nhu cầu. Những hoạt động
sáng tạo ra sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ để bán cho người tiêu dùng
nhằm thu lợi nhuận. Trong các doanh nghiệp thương mại hoạt động kinh doanh
là hoạt động động chủ yếu của doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận và sự tông tại của
doanh nghiệp
3.1. Khái niệm kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là những sản phẩm hữu ích
do lao động của doanh nghiệp làm ra trong một thời kỳ nhất định. Nó bao gồm
bốn tiêu chí:
- Là những sản phẩm do doanh nghiệp tạo ra và được giới tiêu dùng chấp
nhận.
- Là những sản phẩm hữu ích do lao hoạt động trong lĩnh vực sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp sáng tạo ra trong một thời kỳ nhất dịnh , thường là
một năm. Sản phẩm của doanh nghiệp phải có đủ giá trị sử dụng và giá trị hưởng
thụ. Đến lượt mình giá trị sử dụng của sản phẩm phải lại phụ thuộc vào trình độ
phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật và văn minh xã hội.
- Nó có thể là các sản phẩm vật chất hay sản phẩm dịch vụ của doanh
nghiệp nhưng phải đảm bảo được lợi ích của người tiêu dùng và cả doanh
nghiệp. Do vậy, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp không vượt quá giới hạn
lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp và người tiêu dùng chấp nhận được. Lợi ích của
doanh nghiệp thể hiện ở chi phí sản xuất sản phẩm không vượt quả giới hạn kinh
doah của sản phẩm trên thị trường. Còn lợi ích của người tiêu dùng là thể hiện ở
khả năng thanh toán và mức tiết kiệm chi phí trong quá trình sử dụng sản phẩm.
5
- Là kết quả tạo ra trong khâu sản xuất, phân phối, lưu thông… và là kết
quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp, đồng thời góp phần làm tăng thêm
của cải vật chất cho xã hội.
3.2.Nguyên tắc chung tính kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Khi tính kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người ta thường
tuân thủ các nguyên tắc sau:
3.2.1. Tính theo thới điểm sản xuất.
Kết quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu thời kỳ và là kết quả sản xuất kinh
4.1. Chỉ tiêu sản phẩm tính theo đơn vị hiện vật.
Chỉ tiêu sản phẩm tính theo đơn vị hiện vật biểu hiện khối lượng sản phẩm
sản xuất ra theo các đơn vị đo lường tự nhiên như: tấn, mét, cái tùy theo đặc
điểm từng loại sản phẩm mà chúng ta sử dụng đơn vị đo phù hợp.
Đơn vị hiện vật vhir dùng để tổng hợp cho từng loại sản phẩm không đùng
để tổng hợp chung cho nhiều sản phẩm khác nhau.
Trong quản lý kinh tế còn dùng đơn vị hiện vật quy ước để mở rộng phạm vi
tính cho những sản phẩm có công dụng giồng nhưng khác về quy cách theo đơn
vị tính.
4.2. Chỉ tiêu sản phẩm tính theo đơn vị giá trị (tiền).
Đơn vị đo lường có khả năng tổng hợp được tất cả các loại sản phẩm sản
xuất ra trong nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ nhất định là đơn vị tiền tệ.
Đo lường sản phẩm theo chỉ tiêu giá trị không chỉ tổng hợp được các loại sản
phẩm khác Nhau mà còn cho phép phản ánh hết kết quả sản xuất theo các mức
độ hoàn thành, cho phép phản ánh khồn chỉ số lượng mà cả chất lượng sản
phẩm. Nó là căn cứ để tính các chỉ tiêu kinh tế liên quan như thu nhập của lao
động trong doanh nghiệp hay khả năng huy động vốn của ngân sách
Vấn đề quan trọng của đơn vị giá trị là đơn vị giá cả. Các chỉ tiêu kinh tế
tổng hợp của hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) thường tính theo giá hiện hành
và giá so sánh.
Giá hiện hành: (giá thực tế năm báo các) phản ánh thành quả sản xuất năm
đó, phản ánh mối quan hệ kinh tế thực tế; là căn cứ để phân phối, sử dụng và
tính các chỉ tiêu kinh tế khác. Giá thực tế báo cáo trong SNA là giá thị trường,
tức là giá xuất hiện trên thị trường, giá theo đó người bán bán sản phẩm và
người mua mua sản phẩm trên thị trường, bao gồm giá cơ bản, giá sản xuất và
giá sử dụng cuối cùng theo phạm vi tính và nội dung kinh tế của từng loại giá.
Giá này biến động thường xuyên trên thị trường để phù hợp với sự thay đổi liên
tục của thị trường.
Giá so sánh: là giá của thời kỳ được chọn làm gốc so sánh. Nó được dùng để
nghiên cứu biến động về mặt khối lượng, được sử dụng để so sánh tốc độ phát
2. Những vấn đề chủ yếu của phân tích thống kê.
Phân tích thống kê là sử dụng các phương pháp thống kê tính toán hàng
loạt các chỉ tiêu và rút ra kết luận về bản chất của hiện tượng. Khi phân tích
thống kê phải xem xét các vấn đề sau:
Xác định nhiệm vụ cụ thể của phân tích thống kê là xem xét đợt phân tích
đó nhằm giải quyết nhiệm vụ gì. Vì một hiện tượng có nhiều khía cạnh khác
nhau, do đó mỗi lần phân tích ta chỉ giải quyết được một số vấn đề. Khi xác
8
định nhiệm vụ cụ thể phân tích thống kê phải dựa vào sự cần thiết, cấp bách của
từng nhiệm vụ, từng vấn đề.
Lựa chọn và đánh giá tài liệu: Khi phân tích và dự đoán thống kê có nhiều
số liệu, nhiều hình thức thu thập thông tin. Để đảm bảo yêu cầu của phân tích
phải lựa chọn tài liệu. Khi lựa chọn tài liệu phải tiến hành đánh giá xem xét tài
liệu có đủ độ tin cậy hay không. Nguồn số liệu có đủ để đáp ứng kịp thời yêu
cầu phân tích, số liệu có hợp logíc không. Lựa chọn, đánh giá tài liệu là một vấn
đề quan trọng để phân tích và dự đoán. Mỗi số liệu cho ta một khía cạnh của
hiện tượng, một tính chất và quy luật của hiện tượng.
Lựa chọn các phương pháp và chi tiêu dùng để phân tích: Sự lựa chọn các
phương pháp phân tích là cần thiết vì thống kê có rất nhiều phương án và
phương pháp phân tích khác nhau như: phân tổ, dãy số thời gian, hồi quy tương
quan, chỉ số Các phương pháp này đều có đặc điểm riêng. Vì vậy chọn phương
pháp thích hợp là phải dựa trên yêu cầu, mục đích và nguồn số liệu thu thập
được, tác dụng của mỗi phương pháp.
So sánh đối chiếu các chỉ tiêu với nhau: sau khi lựa chọn các phương
pháp và chỉ tiêu phân tích thống kê thì ta phải đối chiếu so sánh các chỉ tiêu với
nhau.
Sau khi hoàn thành xong nhiệm vụ phân tích ta phải dự đoán các mức độ
có thể xảy ra trong tương lai. Là dự đoán khả năng về số lượng, bản chất hoặc
các vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai. Muốn dự đoán được phải căn cứ
vào số liệu ban đầu để dự đoán khả năng.
Để đánh gia được một cách chi tiết hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
thi báo cáo kết quả kinh doanh chua đáp ứng được đầy đủ thông tin có tính bộ
phận do vậy các doanh nghiệp cần phải xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đảm bảo
đầy đủ thông tin tổng hợp, thông tin bộ phận và thông tin ảnh hưởng…
1.Yêu cầu, nguyên tắc xây dựng hệ thông chỉ tiêu phân tích kết quả
kinh doanh.
1.1. Yêu cầu.
- Cung cấp thông tin một cách hệ thống.
- Đảm bảo tính so sánh được của thông tin.
- Đồng thời phải đảm vbảo tính hiện đại, tính hiệu quả và tính khả thi của
hệ thống chỉ tiêu đã được xây dựng.
1.2. Nguyên tắc.
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh không
chỉ đơn giản là nêu lên những chỉ tiêu nào đó trong hệ thống, mà phải đảm bảo
có thể hu thập nguồn thông tin để đánh giá các chỉ tiêu một cách đầy đủ. Vì vậy
để xây dựng hệ thống chỉ tiêu một cách khoa học và hợp lí, cần phải đảm bảo
các nguyên tắc sau:
Tính hướng đích.
Tính hệ thống.
10
Tính khả thi.
1.2.1. Đảm bảo tính hướng đích .
Thứ nhất: Phản ánh tính quy luật, xu thế phát triển và trình độ phổ biến của
hiện tượng kinh tế diễn ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của các công ty
trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.
Về không gian là toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh diẽn ra có liên
quan tới công ty. Về thời gian thường là tháng, quý, năm hoặc một thời kì nhất
định có thể phản ánh tính quy luật, tính hệ thống của hoạt động sản xuất kinh
doanh trong công ty .
Thứ hai: Đáp ứng được nhu cầu thông tin phục vụ yêu cầu quản lí hoạt
tăng thuần, tỷ xuất lợi nhuận và các chỉ tiêu kết quả khác nữa. Để đáp ứng
những yêu cầu trên khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê đánh gía kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần quán triệt những nguyên
tắc chủ yếu sau:
Thứ nhất: các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh phải được quy
định thống nhất, có hướng dẫn cho các doanh nghiệp của tất cả các nghành kinh
tế quốc dân về phương pháp tính toán đảm bảo yêu cầu:
Nội dung tính toán phải thống nhất từ chi tiết đến tổng hợp.
Phạm vi tính toán phải được quy định rõ ràng bao gồm cả phạm vi không
gian và thời gian.
Đơn vị tính toán phải thống nhất.
Việc thống nhất phương pháp tính toán nhằm đảm bảo việc so sánh hoạt
động của các doanh nghiệp theo không gian và thời gian. Việc tính toán các hệ
thống phải phù hợp với trình độ của cán bộ, điều kiện hạch toán và thu nhập số
liệu của các doanh nghiệp.
Thứ hai: phải đảm bảo tính hệ thống điều đó có nghĩa là:
Các chỉ tiêu trong hệ thống phải có mối liên hệ hữu cơ với nhau, được phân
tổ và xắp xếp một cách khoa học. Điều này liên quan đến việc chuẩn hoá thông
tin.
Phải bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu và thứ yếu các chỉ tiêu tổng hợp và chỉ
tiêu bộ phận phản ánh từng mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và từng nhân tố.
1.2.3- Đảm bảo tính khả thi.
Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
phải đảm bảo tính khả thi tức là dựa trên khả năng nhân tài, vật lực có cho phép
để tiến hành thu nhập tổng hợp các chỉ tiêu với chi phí ít nhất do đó đòi hỏi phải
cân nhắc kỹ lưỡng, xác định những chỉ tiêu cơ bản nhất đáp ứng mục tiêu nghiên
cứu.
Thứ nhất: Hệ thống chỉ tiêu cần gọn và từng chỉ tiêu cần có nội dung rõ
ràng, dễ thu nhập thông tin, đảm bảo tính khả thi, phù hợp với nhân lực, tài lực
b
+ ∑pq
cb
Trong đó:
- ∑pq
m
là tổng giá trị hàng hoá mua vào trong kỳ.
- ∑pq
b
là tổng giá trị hàng hoá bán ra.
- ∑pq
cb
giá trị hàng hoá chuyển bán chưa thanh toán.
Trong thực tế chỉ tiêu mua vào ít được chú ý mặc dù tự thân nó có ý nghĩa
trong việc cân đối mua bán và dự trữ cũng như trong việc xác định kết quả hoạt
động của các bộ phận .
* Ý nghĩa: chỉ tiêu này dùng để đánh giá quan hệ hài chính, xác định lãi , lỗ,
hiệu quả kinh doanh. Đồng thời đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và biết được số
vốn đã thu hồi trong kỳ.
* Nguồn số liệu từ báo cáo thu thập của kết quả kinh doanh của công ty.
13
2.2. Doanh thu .
a. Doanh thu là số tiền thu được nhờ tiêu thụ hàng hoá hoặc cung cấp các
dịch vụ. Nhưng trong nghiên cứu này thì doanh thu đồng nhất với doanh số bán
hàng, coi doanh số mua vào chỉ là một bộ phận của chi phí kinh doanh như các
chi phí khác.
* Nguồn số liệu lấy từ bản tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp .
b. Doanh thu thuần là chỉ tiêu phản ánh giá trị còn lại của doanh thu sau
khi đã trừ đi các khoản giảm trừ.
14
* Ý nghĩa: là chỉ tiêu quan trọng trong phân tích tình hình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp
* Nguồn số liệu từ báo cáo thu thập của công ty: từ bảng chi phi, và kết quả sản
xuất kinh doanh.
2.4.Giá trị tăng thêm thương mại :
* Khái niệm: Giá trị tăng thêm thương mại là bộ phận giá trị mới do lao động
trong thương mại tạo ra trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. nói
cách khác, giá trị tăng thêm thương mạilà bộ phận giá trị sản xuất thương mại
còn lại sau khi trừ đi chi phí trung gian.
* Phương pháp tính:
Phù hợp với chỉ tiêu giá trị sản xuất thương mại, giá trị tăng thêm thương
mại được tính theo giá thị trường.
Giá trị tăng thêm thương mại được xác định theo một trong hai phương pháp
: phương pháp sản xuất và phương pháp phân phối.
+ Theo phương pháp sản xuất ta có;
VA
TM
= GO
TM
-IC
TM
- Trong đó, chi phí trung gian thương mại ( IC
TM
=PM =C
2
) là toàn bộ chi
phí sản phẩm vật chất và dịch vụ cho nhu cầu sản xuất thường xuyên của doanh
nghiệp, không kể chi phí khấu hao. Chi phí sản phẩm dịch vụ ở đây bao gồm cả
cho nhu cầu trực tiếp, thường xuyên của sản xuất và cho nhu cầu văn hoá, tinh
trình kinh doanh. Đây còn là chỉ tiêu quan trọng trong phân tích kết quả sản xuất
kinh doanh.
* Nguồn số liệu lấy từ báo cáo chi phí, bản tổng hợp kết qủa sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
2.5.Tổng mức lợi nhuận kinh doanh thương mại.
* Khái niệm :
Lợi nhuận thương mại là bộ phận giá trị thặng dư do lao động thương mại
tạo ra trong một thời kỳ nhất định. Đó là phần tăng thêm của kết quả hoạt động
kinh doanh thương mại so với chi phí lưu thông. Chỉ tiêu này cũng phản ánh kết
quả sản xuất kinh doanh thương mại trong một thời kỳ nhất định thường là một
năm.
Cần phân biệt các chỉ tiêu: lợi nhuận của doanh nghiệp thương mại và lợi
nhuận thương mại: lãi gộp, lãi thuần và thực lãi thuần kinh doanh thương mại.lợi
nhuận nói chung bao gồm cả lợi nhuận ngoài kinh doanh thương mại. Lợi nhuận
thuần là lợi nhuận đã trừ hết thuế sản xuất. Thực lợi nhuận thuần đã trừ thuế lợi
tức.
* Phương pháp tính;
Tổng mức lợi nhuận kinh doanh thương mại được tính theo công thức:
∑LN = Doanh thu (C) – chi phí lưu thông hoàn toàn hay mở rộng (F)
= Doanh thu – ( Chi phí lưu thông + Thuế )
= ∑(P
b
– p
m
– n ) q
b
* Ý nghĩa: Xác đinh được mức độ lỗ lãi của doanh nghiệp và đây là chỉ tiêu
đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp .
16
* Nguồn số liệu lấy từ bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả sản xuất kih
ncl
−=
(5)
Do đó tỷ suất lợi nhuận bình quân được tính như sau:
∑
∑
∑
∑
∑
===
q
dl
q
ql
q
L
l *
*
(1)
∑
∑
∑
∑
∑
===
pq
dl
pq
pql
pq
L
l *
*
(4)
*
ncl
−=
(5)
3. Một số phương pháp thống kê vận dụng phân tích kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thương mại dịch vụ.
3.1.Phương pháp dãy số thời gian.
3.1.1. Các dãy số.
- Dãy số chỉ tiêu tuyệt đối:
+ Dãy số giá trị sản xuất (GO)
+ Dãy số giá trị tăng thêm (VA)
+ Dãy số doanh thu (DT)
+ Dãy số lợi nhuận (LN)
+ Dãy số lượng tăng (giảm) liên hoàn của (GO,VA,DT,LN)
17
+ Dãy số lượng tăng (giảm) định gốc của (GO,VA,DT,LN)
- Dãy số chỉ tiêu tương đối:
+ Dãy số kết cấu (GO,VA,DT,LN)
+ Dãy số tốc độ phát triển liên hoàn (GO,VA,DT,LN)
+ Dãy số tốc độ phát triển định gốc (GO,VA,DT,LN)
- Dãy số chỉ tiêu bình quân:
+ Doanh thu bình quân
+ Lợi nhuận bình quân
+ Tỷ suất doanh lợi bình quân
3.1.2. Đặc điẻm vận dụng trong phân tích kết quả sản xuất kinh doanh
Kết quả hoạt động kinh doanh được thu thập đầy đủ và thường xuyên sẽ lập
hệ phổ biến và nhiều vẻ, giữa chúng có mối mật thiết với Nhau, tác động qua lại
lẫn nhau. Không có một hiện tượng nào lại phát sinh phát triển một cách cô lập
tách rời các hiện tượng khác. Việc nghiên cứu mối quan hệ đó là nhiệm vụ quan
trọng của thống kê và trong nghiên cứu kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp việc vận dụng phương pháp này là rất cần thiết để tìm ra mối liên hệ của
các hiện tượng.
Khi nghiên cứu theo phương pháp này chúng ta thường sử dụng các hàm hồi
quy phù hợp từng hiện tượng. Do sự biến động của các hiện tượng là vô cùng đa
dạng nên các hàm xu thế có các dạng sao cho gần đúng nhất với sự biến động
thực tế của hiện tượng. Chúng ta có thể gặp các hàm xu thế như hàm xu thế
tuyến tính, hàm xu thế parabol,hàm xu thế mũ Qua phân tích hiện tượng
nghiên cứu theo phương pháp hồi quy chúng ta có thể biết:
- Tính quy luật về sự liên hệ phụ thuộc giữa các hiện tượng nghiên cứu.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố.
+ Ảnh hưởng tuyệt đối biểu hiện qua hệ số hồi quy b
1
& b
2
+ Ảnh hưởng tương đối biểu hiện qua hệ số co dãn.
- Xác định các vại trò của nhân tố qua hệ số tương quan, tỷ số tương quan.
- Dự báo ngắn hạn hiện tượng.
3.3.Phương pháp chỉ số.
Chỉ số là số tương đối ( nó thường biểu hiện bằng số lần hoặc %) tính được
băng cách so sánh hai mức độ của hiện tượng xã hội. Đối tượng nghiên cứu chủ
yếu của chỉ số là hiện tượng phức tạp, gồm nhiều phần tử, đơn vị cá biệt có khác
nhau về đặc điểm tính chất. Thông qua phương pháp này ta có thể xác định
- Biểu hiện biến động của hiện tượng kinh tế xã hội qua thời gian.
- Phân tích nhiệm vụ kế hoạch và thực hiện kế hoạch.
- Phân tích vai trò ảnh hưởng biến động của từng nhân tố đến sự biến
010
10
1
11
00
11
0
1
*
*
*
*
*
*
*
VH
VH
VH
VH
VH
VH
DT
DT
I
V
V
VO
V
V
V
TM
/∑T
Tổng lao động : ∑T
Mô hình 2: Biến động của giá trị sản xuất do ảnh hưởng của hai nhân tố, hiệu
suất sử dụng TSCĐ và tổng giá trị TSCĐ.
Trong đó: Giá trị sản xuất thương mại: GO
Hiệu suất sử dụng TSCĐ: H= GO
TM
/∑G
Tổng giá trị TSCĐ : ∑G
Mô hình 3: . Biến động của giá trị sản xuất do ảnh hưởng của ba nhân tố, hiệu
suất sử dụng TSCĐ, mức trang bị TSCĐ trên một lao động và tổng lao động
trong công ty.
Trong đó: Giá trị sản xuất thương mại: GO
TM
Hiệu suất sử dụng TSCĐ: H= GO
TM
/∑G
Tổng giá trị TSCĐ: ∑G
Mức trang bị TSCĐ: M= ∑G/∑T
Tổng lao động: ∑T
3.3.3. Mô hình phân tích VA
Mô hinh 1: Biến động của VA do ảnh hưởng của hai nhân tố: Năng xuất lao
động bình quân (theo VA
TM
) và tổng lao động của công ty.
Trong đó: Giá trị tăng thêm thương mại: VA
Năng xuất lao động bình quân:
W
= VA
TW
TW
TW
TW
TW
GO
GO
I
GO
∑
∑
∑
∑
∑
∑
===
00
10
10
11
00
11
0
1
*
*
*
*
*
*
1
**
**
*
**
**
*
**
**
**
**
TMH
TMH
TMH
TMH
TMH
TMH
TMH
TMH
GO
GO
I
GO
===
∑
∑
∑
∑
∑
∑
lưu động(theo VA
TM
),mức trang bị vốn lưu động bình quân người và tổng lao
động.
Trong đó: Giá trị tăng thêm thương mại: VA
TM
Hiệu suất sử dụng V
LĐ
: H
LĐ
= VA
TM
/ V
LĐ
Vốn lưu động : V
LĐ
Mức trang bị V
LĐ
: M
LĐ
= ∑G/∑T
Tổng lao động : ∑T
3.3.4. Mô hình phân tích LN
Mô hinh 1: Biến động của lợi nhuận thương mại do ảnh hưởng của bốn nhân tố,
tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu,tỷ suất doanh thu trên vốn lưu động, mức trang
bị vốn lưu động trên một lao động, do tổng lao động của công ty.
Trong đó: + Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.
+ Tỷ suất doanh thu trên vốn lưu động.
+ Mức trang bị vốn lưu động trên một lao động.
+ Do tổng lao động của công ty.
**
**
*
**
**
*
**
**
**
**
00
00
00
10
10
11
00
11
TMH
TMH
TMH
TMH
TMH
TMH
TMH
TMH
VA
VA
I
VLLD
***
***
***
dcba
dcba
dcba
dcba
dcba
dcba
dcba
dcba
dcba
dcba
LN
LN
I
LN
===
0
1
1
1
0
1
*
*
*
*
*
*
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty TM-DV Cửa Nam.
Công ty Thương mại - dịch vụ Cửa Nam là một doanh nghiệp Nhà nước.
Công ty là đơn vị trực thuộc Công ty Thương mại - dịch vụ Tràng Thi và Sở
Thương mại Hà Nội. Hiện nay, trụ sở chính của Công ty đặt tại số 2-4 Điện Biên
Phủ.
Công ty TM-DV Cửa Nam là một trong số 12 đơn vị kinh doanh trực
thuộc công ty TM-DV Tràng Thi.
Công ty TM-DV Cửa Nam có tiền thân ban đầu là xí nghiệp sửa chữa xe
đạp trực thuộc công ty kim khí điện máy Hà Nội. Cùng với quyết định đổi tên
của công ty là việc thay đổi tên gọi của tất cả các đơn vị trực thuôcj công ty cho
phù hợp với thực tế kinh doanh của mình. Cũng như 12 đơn vị tực thuộc khác,
thì cửa hàng kim khí điện máy Cửa Nam ra đời thay thế cho xí nghiệp sửa chữa
trước đây và trong những năm gần đây cửa hàng kim khí điện máy Cửa Nam đổi
tên thành cửa hàng TM-DV Cửa Nam, năm 2002 của hàng TM-DV Cửa Nam đã
đựoc quyết định đổi tên thành công ty TM-DV Cửa Nam lấy trụ sở tại số 2-4
đường Điện Biên Phủ Hà Nội.
Công ty chịu sự quản lý, lãnh đạo trực tiếp của công ty TM-DV Tràng Thi
về công tác quả lý và công tác tài chính.song công ty TM-DV Cửa Nam vẫn
phải tự chủ trong kinh doanh, đảm bảo lấy thu bù chi và có lãi, đồng thời hoạch
toán độc lập kết quả kinh doanh. Công ty TM-DV Cửa Nam đã chấp hành mọi
chế độ tài chính kế toán theo quy định của Nhà Nước ban hành, thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ với ngân sách Nhà Nước.
2. Đặc điểm công tác tổ chức bộ máy quản lý của công ty TM-DV Cửa
Nam.
Từ khi thành lập tới nay công ty TM-DV Cửa Nam đã không ngừng thay đổi
bộ máy quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý cùng với nâng cao chất lượng
phục vụ khách hàng ngày càng mở rộng quy mô kinh doanh
23
Tổng số cán bộ nhân viên của công ty TM-DV Cửa Nam năm 2002 gồm
27 người, lãnh đạo là giám đốc, trợ giúp cho giám đốc là phó giám đốc và các
* Chức năng, nhiệm vụ: Tổ chức các hoạt động về kế hoạch tài chính và
công tác kế toán theo pháp luật của nhà nước quy định. Cụ thể là: Lập kế hoạch
tài chính, dự trữ ngân sách hàng năm cho từng dự án. Tổ chức theo dõi và kiểm
soát các công việc chi tiêu và tình hình thực hiện các chính sách tài chính của
công ty và nhà nước. Đồng thời, làm vhiệm vụ ghi chép đầy đủ các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh trong kỳ hoạch toán.tại phòng kế toán có sự phân công rõ ràng,
mỗi nhân viên phụ trách một mảng công việc cụ thể và tất các thành viên liên
kết với nhau tạo thành một chuỗi mắt xích quản lý vốn, tiền hàng,tài sản của
công ty, cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ nhu cầu phân tích nhàm đưa ra
những giải pháp tích cực cho giai đoạn tới.
Kế toán trưởng có nhiệm vụ:
+ Điều hành mọi hoạt động kế toán, tài vụ và quản lý cán bộ công nhân viên
dưới quyền. Chịu trách nhiệm trước giám đốc Công ty về công việc của phòng.
+ Giúp giám đốc Công ty chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kế toán thống
kê, phân tích hoạt động kinh doanh, quản lý và sử dụng vốn do Công ty quản lý
có hiệu quả.
2.2.Phòng kinh doanh:
* Chức năng, nhiệm vụ: Tham mưu cho giám đốc về các nghiệp vụ hoạt
động kinh doanh và quản lý chất lượng hàng hóa của doanh nghiệp, thực hiện
nhiệm vụ bán buôn mà công ty giao cho (bao gồm cả khai thác tìm nguồn hàng,
tổ chức tiêu thụ) và tổ chức xuất nhập khẩu.
Trưởng phòng kinh doanh có nhiệm vụ: Tổ chức,điều hành mọi hoạt động
của phòng và quản lí cán bộ công nhân viên dưới quyền. Chịu trách nhiệm trước
giám đốc Công ty về mọi hoạt động của phòng theo chức năng và nhiệm vụ
được giao.
Phòng kinh doanh gồm 18 người chia thành 3 đơn vị kinh doanh đềuchịu
sự lãn đạo của ban lãnh đạo và trưởng phòng kinh doanh . Mỗi đơn vị kinh
doanh đều có tổ trưởng, phụ trách mọi công việc của đơn vị mình nhưu sắp xếp
nhân lực, đẩy mạnh doanh thu bán ra…đồng thời mỗi đơn vị kinh doanh đều
phải quản lý các mặt hàng về số lượng nhập xuất tồn thông qua kiểm kê thường