ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN THANH THỦY PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VINASHIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số: 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM HÙNG TIẾN
Hà Nội – 2013
MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
2.2.2. Phân tích các chỉ số tài chính 38
2.2.3. Phân tích tình hình và khả năng thanh toán 45
2.2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty 48
2.2.5. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ của Công ty 52
2.3. Đánh giá tình hình tài chính của Công ty xuất nhập khẩu Vinashin 56
2.3.1. Điểm mạnh 56
2.3.2. Tồn tại và nguyên nhân 56
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 58
Chƣơng 3 59
Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính của Công ty
xuất nhập khẩu Vinashin và bài học kinh nghiệm đối với Công ty Intraco 59
3.1. Quan điểm, phương hướng phát triển của Công ty 59
3.1.1 Quan điểm phát triển Công ty 59
3.1.2. Định hướng phát triển Công ty INTRACO 60
3.1.3 Mục tiêu phát triển 61
3.1.4. Dự báo thị trường 62
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả tình hình tài chính của Công ty 65
3.3. Kiến nghị 70
3.3.1. Kiến nghị với Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Vinashin 70
3.3.2. Kiến nghị với Nhà nước 71
3.4. Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp khác 71
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 72
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một hoạt động vô cùng quan trọng của doanh nghiệp. Hoạt động này
giúp các nhà quản lý đánh giá được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của
Từ những thông tin tài chính của Công ty, luận văn tiến hành phân tích tình hình tài chính và chỉ ra
những nguyên nhân yếu kém của Công ty, từ đó làm cơ sở để đề xuất một số giải pháp tham khảo cho các
nhà quản lý của Công ty.
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau :
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính
- Đánh giá về thực trạng tài chính của Công ty xuất nhập khẩu Vinashin
- Đề xuất giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty
- Rút ra bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp khác
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Công ty xuất nhập khẩu Vinashin
* Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Nghiên cứu Công ty xuất nhập khẩu Vinashin thông qua các báo cáo tài chính của Công
ty.
Về thời gian: Từ năm 2009 - 2011
2
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích tổng hợp, so sánh và thống kê để nghiên cứu nhằm đạt
được mục tiêu của đề tài.
Các số liệu trong luận văn dựa trên các Báo cáo tài chính của Công ty xuất nhập khẩu Vinashin từ năm
2009 đến năm 2011; các bài viết được đăng trên các tạp chí, các báo; sách; luận văn; các báo cáo hàng năm
của Bộ Tài chính; các website.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích một cách hệ thống về tình hình tài chính của Công ty xuất nhập khẩu Vinashin
- Dựa vào kết quả phân tích, đánh giá một cách khoa học những ưu điểm, hạn chế của hoạt động tài
chính của Công ty.
- Đề xuất một số giải pháp thực tế nhằm khắc phục các hạn chế trong hoạt động tài chính và nâng cao
hiệu quả hoạt động tài chính của Công ty.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
- Mức độ và yêu cầu công nghệ của ngành.
- Mức độ cạnh tranh và quy mô của thị trường.
- Mối quan hệ giữa doanh nghiệp, nhà cung cấp và khách hàng.
3
- Nhịp độ và xu hướng vận động của ngành.
- Nguy cơ xuất hiện những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng.
1.3.3 Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp
Thông tin về tài chính của doanh nghiệp được phản ánh đầy đủ trong báo cáo tài chính của doanh
nghiệp. Báo cáo tài chính là tài liệu cung cấp những thông tin quan trọng cho chủ doanh nghiệp và các nhà
đầu tư, người mua, người bán, các cơ quan quản lý, cơ quan thuế…Báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối
kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính.
1.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.4.1 Phân tích biến động tài sản và nguồn vốn
1.4.1.1 Phân tích biến động tài sản của doanh nghiệp
Phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra và so sánh tình hình biến
động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản.
1.4.1.2 Phân tích biến động nguồn vốn của doanh nghiệp
Phương pháp phân tích là xác định tỷ trọng từng loại nguồn vốn trong tổng số, so sánh từng loại nguồn
vốn giữa đầu kỳ với cuối kỳ và giữa các năm với nhau cả về số tuyệt đối lẫn tương đối.
1.4.2 Phân tích các chỉ số tài chính
1.4.2.1 Nhóm các hệ số thanh khoản
* Hệ số thanh toán hiện hành:
Hệ số thanh toán hiện hành =
Giá trị tài sản lưu động
Giá trị nợ ngắn hạn
* Hệ số thanh khoản nhanh:
Hệ số thanh khoản nhanh =
Giá trị tài sản lưu động - Giá trị hàng tồn kho
Giá trị nợ ngắn hạn
1.4.2.2 Nhóm các hệ số lợi nhuận
4
Vòng quay tài sản lưu động =
Doanh thu thuần
Giá trị tài sản lưu động bình quân
* Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán
Giá trị hàng tồn kho bình quân
1.4.2.4 Nhóm tỷ số quản lý nợ
* Tỷ số nợ trên tài sản: Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp là từ đi vay.
Tỷ số nợ =
Tổng nợ bình quân
Tổng tài sản bình quân
*Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu: Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở
hữu.
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu =
Tổng nợ bình quân
Giá trị vốn chủ sở hữu bình quân
* Tỷ số khả năng trả lãi: đo lường khả năng trả lãi của doanh nghiệp
Tỷ số khả năng trả lãi =
EBIT
Chi phí lãi vay
* Tỷ số khả năng trả nợ: Tỷ số khả năng trả nợ là một tỷ số tài chính đánh giá khả năng thanh
toán nợ nói chung của doanh nghiệp.
Tỷ số khả năng trả nợ =
Giá vốn hàng bán + khấu hao + EBIT
Nợ gốc + chi phí lãi vay
1.4.2.5 Nhóm tỷ số khả năng tăng trưởng
* Tỷ số lợi nhuận giữ lại (hay hệ số tái đầu tư) là một tỷ số tài chính đánh giá mức độ sử dụng lợi nhuận
sau thuế cho tái đầu tư của doanh nghiệp.
ROA
=
Lợi nhuận sau thuế
x
Doanh thu thuần
=
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
Tổng tài sản
ROE
=
Lợi nhuận
sau thuế
x
Doanh thu
thuần
x
Tổng tài
sản
=
Lợi nhuận
sau thuế
Doanh thu
thuần
Tổng
tài sản
Vốn chủ
sở hữu
Vốn chủ sở
thời hơn. Trong chương 1, tác giả đã hệ thống được những lý luận cần thiết để tiến hành phân tích tài chính
của Công ty XNK Vinashin trong chương 2.
Chƣơng 2
Thực trạng tài chính tại Công ty xuất nhập khẩu Vinashin
2.1. Khái quát về Công ty xuất nhập khẩu Vinashin
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 31 tháng 10 năm 2003, Công ty Xuất nhập khẩu Vinashin được thành lập theo quyết định số
1051/QĐ-TCCB-LĐ của Hội đồng quản trị Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam, nay là Tập đoàn
Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam.
Công ty xuất nhập khẩu Vinashin được thành lập với mục đích ban đầu là đáp ứng nhu cầu nhập khẩu
vật tư thiết bị máy móc cho hoạt động đóng tàu của các công ty thuộc Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt
Nam.
2.1.2. Chức năng hoạt động
Công ty xuất nhập khẩu Vinashin thực hiện hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực: xuất nhập khẩu, kinh
doanh và đầu tư, dịch vụ.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức bộ máy gồm: 1 giám đốc và 4 phòng nghiệp vụ phòng nội chính (gồm tài chính kế toán, tổ
chức nhân sự và hành chính); phòng kinh doanh; phòng kế hoạch dự án; phòng giao nhận (quản lý hai văn phòng
đại diện tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh).
2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính của Công ty xuất nhập khẩu Vinashin
6
Sự suy thoái của nền kinh tế khiến Công ty XNK Vinashin phải đối mặt với tình trạng giảm sút các hợp
đồng kinh tế cả về số lượng và giá trị. Kinh tế đình đốn khiến các khoản phải thu của Công ty cũng trở nên
khó đòi hơn.
Lạm phát: Tỷ lệ lạm phát theo ở Việt Nam liên tục tăng trong ba năm 2009-2011 (6,52% - 11,75% -
18,18%) [4]. Lạm phát cao đồng nghĩa với việc giá nguyên vật liệu tăng làm cho giá vốn hàng bán cao ảnh
hưởng đến khả năng cạnh tranh và sản lượng bán hàng.
Lãi vay: Cũng giống như các doanh nghiệp khác, Công ty XNK Vinashin phải đối mặt với nhiều khó
khăn trong việc tiếp cận với nguồn tín dụng của các ngân hàng và với mức lãi suất cao ngất ngưởng. Tỷ lệ lãi
Tỷ trọng
(%)
Giá trị
(triệu đồng)
Tỷ trọng
(%)
Giá trị
(triệu đồng)
Tỷ trọng
(%)
Giá trị
(triệu đồng)
Tỷ trọng
(%)
TSCĐ
477,8
0,04
288,8
0,02
(189)
-0,04
87,2
0,01
(202)
-0,01
TSLĐ
1.301.198,8
99,96
1.200.444,2
99,98
0,4%.
Bảng 2.4: Cơ cấu tài sản lƣu động qua các năm 2009-2011
Chỉ tiêu
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Giá trị
(triệu đồng)
Tỷ
trọng
(%)
Giá trị
(triệu đồng)
Tỷ
trọng
(%)
Tăng trƣởng so
với 2009
Giá trị
(triệu
đồng)
Tỷ
trọng
(%)
Tăng trƣởng
so với 2010
Giá trị
(triệu
đồng)
Tỷ
16,12
7
86
88
90
92
94
96
98
100
102
2009 2010 2011
Năm
Tỷ trọng TSLĐ
Công ty XNK Vinashin
Công ty A
Tiền
72.802,9
5,60
57.724,7
4,81
(15.078,2)
-0,79
3.445,1
0,25
(54.279,5)
-4,56
Các khoản đầu tư tài
chính ngắn hạn
29.350,2
(68.781,6)
-5,8
TSLĐ khác
1.717,7
0,13
310,1
0,03
(1.407,6)
-0,1
327,8
0,02
17,7
-0,01
Tổng TSLĐ
1.301.198,8
100
1.200.444,2
100
(100.754,6)
-
1.394.200,7
100
193.756,47
-
Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty Xuất nhập khẩu Vinashin 2009-2011
So sánh với Công ty cổ phần XNK Hàng không:
Bảng 2.5: So sánh tổng tài sản của Công ty XNK Vinashin và Công ty XNK hàng không năm 2011
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Công ty XNK Vinashin
phần lớn từ nợ phải
trả (>96%).
Trong khi đó, nguồn
vốn chủ sở hữu mặc dù tăng lên hàng năm nhưng chiếm tỷ trọng thấp và hầu hết là do lợi nhuận giữ lại.
Còn đối với Công ty XNK Vinashin, với một tỷ lệ nợ phải trả cao như vậy thì tài sản của công ty chủ
yếu được tài trợ bằng nguồn tiền đi vay. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tính thanh khoản, khả năng trả nợ của
Công ty rất lớn.
Nợ ngắn hạn của công ty cao (chiếm 100% nợ phải trả), chủ yếu được cấu thành từ vay ngắn hạn để tài
trợ cho các hoạt động kinh doanh của Công ty.
Chỉ
tiêu
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Giá trị
(triệu đồng)
Tỷ trọng
(%)
Giá trị
(triệu đồng)
Tỷ trọng
(%)
Tăng trƣởng so
với 2009
Giá trị
(triệu
đồng)
Tỷ trọng
(%)
Tăng trƣởng so
24.481
1,51
Tổng
nguồn vốn
1.301.676,6
100
1.200.733,1
100
(100.943,5)
-
1.394.287,9
100
193.554,8
-
8
-40,00
-20,00
0,00
20,00
40,00
60,00
80,00
100,00
120,00
2009 2010 2011
năm
ROS, ROA, ROE (%)
ROS
ROA
ROE
96,74
- Nguồn vốn sở hữu/Tổng nguồn vốn
%
1,56
1,75
3,26
Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty Xuất nhập khẩu Vinashin 2009-2011
Nhìn vào bảng trên ta thấy, tỷ lệ tài sản cố định giảm dần qua các năm, đồng nghĩa với tỷ lệ tài sản lưu
động tăng dần qua các năm. Năm 2011, công ty sử dụng 0,01% tài sản cố định và 99,99% tài sản lưu động.
Cơ cấu này có sự chênh lệch rất lớn giữa tài sản cố định và tài sản lưu động, một phần là do đặc thù kinh
doanh, Công ty không phải là một công ty sản xuất mà là công ty thương mại chuyên về xuất nhập khẩu;
phần khác là do Công ty đã có quyết định sát nhập với một đơn vị khác của Tập đoàn, do đó những tài sản
không còn phù hợp với nhiệm vụ của Công ty trong giai đoạn mới được thanh lý theo đúng thủ tục, quy định
của Công ty.
Về cơ cấu nguồn vốn, năm 2011, nợ phải trả chiếm 96,74% và nguồn vốn chủ sở hữu chiếm 3,26%. Như
vậy, có thể thấy cơ cấu vốn luôn nằm trong khoảng nguy hiểm. Hệ số nợ của Công ty qua các năm đều nằm
ở mức rất cao, lớn hơn 90% cho thấy khả năng tự chủ về mặt tài chính của Công ty là rất thấp.
2.2.2. Phân tích các chỉ số tài chính
2.2.2.1. Nhóm các chỉ số thanh khoản
Bảng 2.9: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản
Các chỉ số thanh khoản
ĐVT
2009
2010
2011
Hệ số thanh toán hiện hành
lần
0,97
1,02
1,03
Bên cạnh đó, tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) cũng không ngừng tăng lên qua các năm. Năm
2009 đạt -12,22%; năm 2010 đạt 3,46%; năm 2011 đạt 74,86%. Các con số này cho thấy Công ty ngày sử
dụng có hiệu quả hơn nguồn vốn chủ sở hữu.
2.2.2.3. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng quản lý tài sản
Nhóm tỷ số phản ánh khả năng quản lý tài sản có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả sử
dụng tài sản của doanh nghiệp.
Bảng 2.11: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng quản lý tài sản
Chỉ tiêu
ĐVT
2009
2010
2011
Kỳ thu tiền bình quân
ngày
32.136,28
3.681,68
18.639,11
Vòng quay tổng tài sản
lần
0,01
0,08
0,02
Vòng quay TSCĐ
lần
18,79
259,02
122,15
Vòng quay TSLĐ
lần
0,01
* Vòng quay hàng tồn kho: Năm 2009 số vòng quay hàng tồn kho là 0,04 vòng, năm 2010 là 0,61 vòng
và năm 2011 là 0,21 vòng. Mặc dù giá trị hàng tồn kho bình quân giảm dần qua các năm nhưng số vòng quay
hàng tồn kho vẫn thấp. Điều này do giá trị hàng tồn kho lớn hơn hẳn so với giá vốn hàng bán. Số vòng quay
hàng tồn kho thấp đồng nghĩa với việc hàng tồn kho bị ứ đọng nhiều, gây lãng phí nguồn lực của Công ty.
2.2.2.4. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng quản lý nợ
Thông qua việc phân tích các chỉ tiêu trong bảng dưới đây sẽ thấy được cơ cấu tài sản và nguồn vốn của
Công ty có đảm bảo an toàn cho khả năng trả nợ và với tốc độ tăng giảm nợ qua các năm như vậy có ảnh
hưởng gì đến khả năng huy động vốn trong tương lai của Công ty hay không.
Bảng 2.12: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng quả lý nợ
Chỉ tiêu
ĐVT
Cách tính
2009
2010
2011
Tỷ số nợ trên tổng tài sản
lần
Tổng nợ BQ/
Tổng tài sản BQ
0,98
0,98
0,97
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
lần
Tổng nợ BQ/
57,77
59,59
37,82
10
0
thời kỳ toàn bộ nền kinh tế rơi vào khủng hoảng như giai đoạn này.
Nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu có nghĩa là Công ty đi vay mượn nhiều hơn số
vốn hiện có, nên Công ty có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt là khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng
cao (có khi lên đến 18-21%). Mặc dù, việc sử dụng nợ có ưu điểm là chi phí lãi vay sẽ được trừ vào thuế thu
nhập doanh nghiệp nhưng Công ty phải cân nhắc giữa rủi ro về tài chính và ưu điểm của vay nợ để đảm bảo
một tỷ lệ hợp lý nhất.
* Tỷ số khả năng trả lãi:
Năm 2009, tình hình kinh doanh của Công ty không được khả quan. Lợi nhuận trước thuế và lãi không
đủ để trả lãi vay. Tỷ số khả năng trả lãi là 0,98 lần. Năm 2010 và 2011 tỷ số này tăng lên tương ứng là 1,01
lần và 1,19 lần. Tuy tỷ số này đã lớn hơn 1 nhưng khả năng trả lãi vay của Công ty vẫn còn thấp. Điều này
đồng nghĩa với việc khả năng sinh lợi của tài sản thấp.
Khả năng thanh toán lãi vay thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế
có thể làm giảm lợi nhuận trước thuế và lãi vay xuống dưới mức nợ lãi mà công ty phải trả, do đó dẫn tới
mất khả năng thanh toán và vỡ nợ. Để không bị rơi vào tình trạng này, Công ty cần tạo ra một độ an toàn hợp
lý, bảo đảm khả năng thanh toán cho các khoản nợ của mình.
2.2.3. Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
* Phân tích tình hình thanh toán:
Hình 2.5: Các khoản phải thu, phải
trả của Công ty giai đoạn 2009-2011
Nguồn: Số liệu từ bảng 2.13
Các khoản phải trả của Công ty luôn
trong tình trạng lớn hơn các khoản phải
thu. Năm 2009, các khoản phải trả cao
gấp 1,3 lần các khoản phải thu. Tỷ lệ này
năm 2010 và 2011 là 1,1 lần và 1,0 lần.
Những con số này phản ánh Công ty đã
chiếm dụng vốn của đối tác.
* Phân tích khả năng thanh toán
Bảng 2.14: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Chỉ tiêu
Kỳ thu tiền bình quân
Ngày
32136,28
3681,68
18639,11
Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty Xuất nhập khẩu Vinashin 2009-2011
Qua phân tích trên cho thấy hệ số thanh khoản hiện hành, hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của
công ty đều lớn hơn 1 điều này cho thấy tổng tài sản của Công ty có khả năng thanh toán hết các khoản nợ và
những tài sản của Công ty có thể chuyển đổi trong thời gian dưới 1 năm có thể thanh toán cho nợ ngắn hạn.
Tuy nhiên, phần lớn tài sản lưu động được cấu thành từ các khoản phải thu ngắn hạn nên khi có phát sinh
trong việc thu hồi các khoản nợ này sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh toán của Công ty.
Hệ số thanh toán nhanh của công ty tăng lên qua các năm (0,81 lần năm 2009; 0,95 lần năm 2010; 1,03
lần năm 2011) cho thấy khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng số tiền hiện có và tài sản có thể
chuyển đổi nhanh thành tiền của Công ty ngày càng tăng. Đây là dấu hiệu tích cực đối với công ty và các chủ
nợ.
Năm 2011, vòng quay các khoản phải thu (0,02 lần) giảm hẳn so với năm 2010 (0,1 lần). Nguyên nhân
chính là do doanh thu trong năm 2011 giảm mạnh. Mức độ bị chiếm dụng vốn của Công ty tăng nhẹ so với
năm 2010 trong khi tình hình thu hồi nợ của Công ty đã tăng lên đột biến (kỳ thu tiền bình quân năm 2011 là
18.639 ngày).
Về mức độ chiếm dụng vốn, vòng quay các khoản phải trả có xu hướng giảm xuống, năm 2009 có hệ số
0.06 lần, năm 2010 và 2011 là -0,04 lần. Nhìn chung, số vòng quay các khoản phải trả của Công ty quá thấp,
điều này ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của Công ty. Khi chỉ số vòng quay các khoản phải
trả quá nhỏ (đồng nghĩa với việc các khoản phải trả lớn), Công ty phải đối mặt với nhiều tiềm ẩn rủi ro về
khả năng thanh khoản mặc dù, việc chiếm dụng khoản vốn này có thể sẽ giúp Công ty giảm được chi phí về
vốn. Trong điều kiện khó khăn của nền kinh tế, duy trì hoạt động và tồn tại sẽ là mục tiêu quan trọng nhất,
nên việc hạ thấp tỷ lệ vay nợ có thể là một quyết định hợp lý của Công ty. Do đó, Công ty nên cân đối giữa
các khoản phải trả và tài sản của Công ty theo một tỷ lệ an toàn nhất trong điều kiện hiện tại.
2.2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty
* Về doanh thu của Công ty:
Doanh thu của Công ty năm 2009 là 10.975 triệu đồng, năm 2010 tăng 804,7% đạt mức 99.287,4 triệu
* So sánh với Công ty XNK hàng không
Mặc dù tổng tài sản và nguồn vốn của Công ty XNK Vinashin cao hơn nhiều so với Công ty XNK hàng
không nhưng kết quả kinh doanh của Công ty XNK hàng không lại tốt hơn nhiều sơ với Công ty XNK
Vinashin. Năm 2009, doanh thu thuần của Công ty XNK hàng không cao hơn Công ty XNK Vinashin 22,4
lần; năm 2010 và 2011 tỷ lệ này tương ứng là 2,4 và 13,6 lần. Doanh thu thuần của Công ty XNK hàng
không có xu hướng tăng lên trong khi hạng mục này của Công ty XNK Vinashin lại không ngừng giảm
xuống. Điều này báo hiệu một sự xuống dốc và bất ổn trong việc kinh doanh của Công ty XNK Vinashin.
Năm 2009 và 2010, lợi nhuận sau thuế của Công ty XNK hàng không đều cao hơn lợi nhuận sau thuế
của Công ty XNK Vinashin (năm 2010 cao hơn 3,5 lần). Tuy nhiên đến năm 2011 lại tụt xuống, thấp hơn 9,9
lần. Nguyên nhân không phải do tình hình kinh doanh của Công ty XNK Vinashin tốt lên mà do Công ty đã
thu được những khoản này từ doanh thu hoạt động tài chính.
2.2.5. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ của Công ty
Hình 2.6: Lƣu chuyển tiền thuần
từ hoạt động kinh doanh, đầu tƣ và
tài chính của Công ty XNK
Vinashin
Nguồn: Số liệu từ bảng 2.17
Từ số liệu bảng 2.17 cho thấy
khả năng tạo tiền của Công ty kém,
nguồn tiền tương đối hạn hẹp và
giảm dần qua các năm. Cụ thể:
Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh năm 2009 đạt 90.110 triệu đồng cho thấy công tác bán hàng và
thu hồi nợ của Công ty tốt, nguồn tiền này có thể trang trải cho các khoản chi trong năm kịp thời. Tuy nhiên
sang đến năm 2010, luồng tiền này giảm xuống còn 27.849,3 triệu đồng cho thấy Công ty đang phải đối mặt
với những khó khăn trong kinh doanh. Vấn đề này càng trầm trọng hơn trong năm 2011 khi giá trị của khoản
tiền này là âm 41.355,8 triệu đồng cho thấy Công ty không thu được các khoản nợ của mình, từ đó, Công ty
có thể gặp khó khăn khi đối mặt với những khoản nợ đến hạn phải trả.
Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư có giá trị nhỏ, chủ yếu thu được từ tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi
nhuận được chia; năm 2009 đạt 2,1 tỷ đồng; năm 2010 đạt 3,7 tỷ đồng. Sang đến năm 2011, giá trị này là -
- Giá trị tài sản và nguồn vốn của Công ty ổn định qua các năm.
- Vòng quay TSCĐ cao (có khi lên đến 259 lần).
- Tỷ lệ hàng tồn kho giảm dần qua các năm đáp ứng chủ trương tối thiểu hóa các tồn dư trước khi sát
nhập vào Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tư vấn, Đầu tư và Thương mại.
- Hệ số thanh khoản hiện hành năm 2010 và 2011 đều lớn hơn 1 chứng tỏ Công ty có khả năng thanh
toán được những khoản nợ sắp đáo hạn.
- Hai năm 2010, 2011, Công ty làm ăn có lãi, mặc dù doanh thu thuần giảm nhưng lợi nhuận sau thuế
năm 2011 đã tăng lên 3.385% so với năm 2010.
2.3.2. Tồn tại và nguyên nhân
2.3.2.1. Tồn tại
* Về cơ cấu vốn: Nợ phải trả chiếm tỷ lệ lớn trong giá trị nguồn vốn (>95% qua các năm). Trong đó, các
khoản vay ngắn hạn lại chiếm tỷ lệ lớn trong nợ phải trả (>50%). Đặt trong bối cảnh hiện nay, lãi suất cho
vay của các ngân hàng từ 12-20% là quá sức chịu đựng đối với nhiều doanh nghiệp. Năm 2011, chi phí lãi
vay của Công ty là 130,13 tỷ đồng; gấp 8,4 lần chi phí bán hàng và gấp 8,96 lần lợi nhuận gộp. Điều này dẫn
đến một thực trạng là khả năng trả lãi vay của Công ty thấp đồng nghĩa với việc khả năng sinh lợi của tài sản
thấp.
* Về khả năng thanh toán:
Mặc dù hệ số thanh khoản nhanh của Công ty lớn hơn 1 nhưng do phần lớn TSLĐ được cấu thành từ các
khoản phải thu ngắn hạn nên khi không thu được các khoản phải thu đúng hạn, Công ty sẽ gặp khó khăn
trong vấn đề thanh toán nợ vay.
Hệ số nợ của Công ty cao (>90% qua các năm), dẫn tới khả năng tự chủ tài chính của Công ty thấp.
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu cao có nghĩa là tài sản của Công ty được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ.
Do đó, khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của Công ty càng lớn.
* Về khả năng thu hồi công nợ: Các khoản phải thu tăng lên qua các năm chứng tỏ Công ty gặp khó khăn
trong vấn đề thu hồi công nợ.
* Về khả năng sinh lợi của tài sản
Vòng quay tài sản lưu động thấp, Công ty chưa sử dụng hiệu quả TSLĐ.
Số vòng quay hàng tồn kho thấp đồng nghĩa với việc hàng tồn kho bị ứ đọng nhiều, gây lãng phí nguồn
lực của Công ty.
* Về doanh thu: Doanh thu của Công ty giảm mạnh trong năm 2011.
Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính của Công ty xuất nhập khẩu Vinashin và
bài học kinh nghiệm đối với Công ty Intraco
3.1. Quan điểm, phƣơng hƣớng phát triển của Công ty
3.1.1 Quan điểm phát triển Công ty
Do khủng hoảng kinh tế thế giới kéo dài, Tập đoàn Vinashin rơi vào khủng hoảng, nên việc tái cơ cấu
Tập đoàn Vinashin hết sức cần thiết và bức thiết.
Theo đó, Công ty xuất nhập khẩu Vinashin chấm dứt hoạt động theo quyết định số 595/QĐ-CNT ngày
29/06/2011. Toàn bộ bộ máy tổ chức của Công ty chuyển về Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tư
vấn, Đầu tư và Thương mại (INTRACO).
Tập trung xây dựng đội ngũ xuất nhập khẩu, cung ứng vật tư thiết bị tàu thủy, dịch vụ hàng hải để trở
thành một Công ty hàng đầu tại Việt nam về các dịch vụ cho ngành công nghiệp đóng tàu.
Trở thành một công cụ điều tiết tập trung của Tập đoàn về thị trường, cung ứng giải pháp cho nhu cầu
vật tư thiết bị đóng tàu của các đơn vị thành viên và ngành công nghiệp biển Việt nam, tăng sức cạnh tranh
của ngành Công nghiệp tàu thủy.
3.1.2. Định hướng phát triển Công ty INTRACO
Tập trung kinh doanh các dịch vụ và sản phẩm sau: Thép tấm, thép hình, máy chính, máy phụ, thiết bị
trên boong, thiết bị nội thất tàu thủy, các thiết xích, neo, bơm, van, quạt , dịch vụ vận hành, bảo dưỡng vật
tư thiết bị, giao nhận kho vận, logistic, kho ngoại quan
3.1.4. Dự báo thị trường
3.1.4.1. Thị trường xuất nhập khẩu cung ứng vật tư thiết bị tàu thủy
Giai đoạn 2015-2020: Sản lượng đơn hàng xuất khẩu sẽ phát triển khoảng 15-20% mỗi năm. Đến cuối
giai đoạn này, dự kiến Tập đoàn sẽ nhận được các đơn hàng có tổng giá trị khoảng 900 triệuUSD/năm.
3.1.4.2. Thị trường tư vấn xây dựng:
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả tình hình tài chính của Công ty
3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ hướng đến sự chuẩn mực về tài chính, tạo sự minh
bạch trong quản lý về tài chính, lành mạnh hóa tài chính doanh nghiệp. Để đạt được hiệu quả trong công tác
này, Công ty cần:
- Hoàn thiện căn cứ để phân tích tài chính
+ Bổ sung một số chỉ tiêu trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
tư. Đây là giải pháp quyết định, tạo sự minh bạch về tài chính và là động lực cơ bản cho sự phát triển của
Công ty các giai đoạn sau này.
3.3. Kiến nghị
3.3.1. Kiến nghị với Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Vinashin
Trong tình hình mới, tác giả xin có một số kiến nghị, đề xuất Tập đoàn xem xét và giải quyết cho
INTRACO:
- Đề nghị Tập đoàn sớm cấp bổ sung 1,153 tỷ cho đủ vốn điều lệ theo Quyết định số: 781/QĐ-CNT
ngày 17/08/2011.
Với quy mô hoạt động, ngành nghề kinh doanh của Công ty trong bản đề án thì mức vốn điều lệ của
Công ty 2,509 tỷ đồng là quá nhỏ, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty
theo định hướng phát triển của Tập đoàn, khó khăn trong việc triển khai công tác đấu thầu, ký kết các hợp
đồng mua bán với các đối tác trong và ngoài nước, đại lý các hãng thiết bị nước ngoài cũng như huy động
vốn lưu động từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng. Đề nghị Tập đoàn xem xét mức vốn điều lệ tối thiểu cho
Công ty trong giai đoạn 2013 – 2015 là 21,5 tỷ đồng và hạn mức vốn lưu động cho Công ty giai đoạn 2013 –
2015 là 57 tỷ đồng.
- Tập đoàn có phương án xử lý nợ thuế của Công ty XNK Vinashin và chỉ đạo giải quyết dứt điểm việc
giải thể Công ty XNK Vinashin phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị, của Tập đoàn và theo đúng quy
định của pháp luật.
- Tập đoàn chỉ đạo thực hiện bù trừ công nợ ba bên: Tập đoàn – Intraco – Các đơn vị trực thuộc Tập
đoàn (Bao gồm cả các đơn vị cũ thuộc Tập đoàn đã chuyển sang Vinalines và Petro Vietnam)
- Tập đoàn có chính sách đối với các khoản INTRACO vay Tập đoàn, vay VFC. Cụ thể là: giãn nợ,
khoanh nợ, xóa nợ đồng thời không tính lãi các khoản vay.
16
- Tập đoàn hỗ trợ INTRACO về nguồn Tài chính trong giai đoạn tái cơ cấu để kịp thời chi trả các chi
phí thường xuyên; giải quyết chính sách cho người lao động, đặc biệt chính sách đối với lao động dôi dư, lao
động không có việc làm buộc phải cắt giảm.
- Đề xuất Tập đoàn xem xét áp dụng hình thức chỉ định thầu cho INTRACO để cung cấp vật tư thiết bị
đối với các dự án đóng mới và sửa chữa tàu của Tập đoàn.
3.3.2. Kiến nghị với Nhà nước
Chính phủ, các cơ quan chức năng có những biện pháp hỗ trợ cho Tập đoàn công nghiệp tàu thủy nói