mục lục
Trang
Đặt vấn đề
Nội dung chuyên đề
Phần thứ nhất
một số vấn đề lý luận chung về ngân sách Nhà nớc
I. Khái niệm về NSNN và chính sách tài khoá.
II. Bản chất, chức năng và vai trò của NSNN nói chung, của Hà
Giang nói riêng trong sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội .
III. Quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về chính sách động
viên tài chính nói chung và thuế nói riêng cho ngân sách
Nhà nớc.
Phần thứ hai
tình hình về tự nhiên- kinh tế-xã hội và thc trạng công
tác quản lý sử dụng NSNN tỉnh hà giang
I. Điệu kiện tự nhiên- kinh tế-xã hội của tỉnh Hà Giang.
II. Thực trạng công tác quản lý và sử dụng NSNN tỉnh Hà Giang
1997- 1999.
III. Đánh giá tình hình công tác quản lý thu thuế trong mấy
năm qua.
Phần thứ ba
phơng hớng và những giải pháp chủ yếu để nâng cao
công tác quản lý và sử dụng NSNN của tỉnh hà giang
I. Phơng hớng, mục tiêu chung.
II. Những giải pháp chung chủ yếu để nâng cao công tác quản
lý và sử dụng NSNN của tỉnh Hà Giang
Kiến nghị và kết luận.
I. Kiến nghị
II. Kết luận.
Danh mục tài liệu tham khảo
đặt vấn đề
của nớc ta. Điều đó đợc thể hiện rõ nhất trên các mặt kinh tế, xã hội, về
các cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là kết cấu hạ tầng, về lực lợng sản
xuất và NSLĐ đang yếu kém và lạc hậu. Với tình trạng đó thì cha thể
đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH nền kinh tế của tỉnhvà đồng thời cũng gặp
khó khăn trong việc cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc
trong tỉnh. Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó là Hà
Giang còn quá thiếu nguồn vốn vật chất. Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫn
trên đây cần phải tiến hành đồng bộ nhiều vấn đề. Một trong những vấn đề
có tầm quan trọng đặc biệt là giải quyết tốt vấn đề ngân sách.
Chính vì vậy tôi chọn đề tài "Một số vấn đề về nâng cao công tác
quản lý và sử dụng NSNN trên địa bàn tỉnh Hà Giang" để viết luận
văn tốt nghiệp cử nhân chính trị.
2. Mục đích, nhiệm vụ, phơng pháp và phạm vi của đề tài.
- Mục đích của đề tài: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề về lý luận,
quan điểm của Đảng, thực tiễn của địa phơng để trình bày bản luận văn
tốt nghiệp cử nhân chính trị của mình; đồng thời thông qua sự nghiên cứu
này có thể có đóng góp nhỏ về suy nghĩ của bản thân tôi trong lĩnh vực
quản lý NSNN ở tỉnh Hà Giang.
2
- Nhiệm vụ của đề tài: Từ mục đích nói trên, đề tài luận văn có các
nhiệm vụ sau:
+ Khái quát một vài nét chung nhất về lý luận của NSNN và vai trò
của NSNN trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của n-
ớc ta trong TKQĐ lên CNXH.
+ Phân tích, đánh giá những nét lớn về thực trạng kinh tế - xã hội
cũng nh thực trạng quản lý và sử dụng NSNN của tỉnh Hà Giang hiện nay.
+ Từ hai nhiệm vụ trên, đề tài có nhiệm vụ phải nêu lên đợc phơng
hớng và những giải pháp chủ yếu để quản lý và sử dụng NSNN của tỉnh
Hà Giang tốt hơn trong thời gian tới.
- Phơng pháp của đề tài:
Nội Dung Luận Văn
Ph ầ n t h ứ nh ấ t
Một số vấn đề lý luận chung về
ngân sách Nhà nớc (NSNN )
I. Khái niệm về NSNN và chính sách tài khoá.
1. Ngân sách Nhà nớc .
a. Khái niệm NSNN:
Thuật ngữ "NSNN " có từ lâu và ngày nay đợc dùng phổ biến trong
đời sống kinh tế - xã hội và đợc diễn đạt dới nhiều góc độ khác nhau.
Song quan niệm NSNN đợc bao quát nhất cả về lý luận và thực tiễn của
nớc ta hiện nay là:
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nớc trong dự toán đã
đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền quyết định và đợc thực hiện trong
một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng của Nhà nớc.
Trong thực tế nhìn bề ngoài, hoạt động NSNN là hoạt động thu chi
tài chính của Nhà nớc. Hoạt động đó đa dạng, phong phú, đợc tiến hành
hầu hết trên các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội. Tuy
đa dạng, phong phú nh vậy, nhng chúng có những đặc điểm chung:
Các hoạt động thu chi của NSNN luôn luôn gắn chặt với quyền lực
kinh tế - chính trị của Nhà nớc, đợc Nhà nớc tiến hành trên cơ sở những
luật lệ nhất định. Đằng sau những hoạt động thu chi tài chính đó chứa
đựng nội dung kinh tế - xã hội nhất định và chứa đựng các quan hệ kinh
tế, quan hệ lợi ích nhất định. Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc
gia, lợi ích chung bao giờ cũng đợc đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt
lợi ích khác trong thu, chi ngân sách Nhà nớc.
Quá trình thực hiện các chỉ tiêu thu, chi NSNN nhằm hình thành
quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nớc và là quá trình phân phối và phối lại
4
giá trị tổng sản phẩm xã hội phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nớc trên các lĩnh vực, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
dụng các công cụ, chính sách giải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nớc và
lợi ích của các thành viên trong xã hội. Do vậy muốn có NSNN đúng
đắn, lành mạnh thì phải tôn trọng và vận dụng các quy luật kinh tế một
cách khách quan, phải dựa trên cơ sở đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà n-
ớc và lợi ích cho các thành viên trong xã hội. Một NSNN lớn mạnh phải
đảm bảo sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinh
doanh, bao quát hết toàn bộ các nguồn thu, nuôi dỡng nguồn thu để đáp
ứng nhu cầu chi ngày càng tăng.
5
Nh vậy bản chất của NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa
Nhà nớc và các thành viên trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nớc
huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính, nhằm đảm bảo thực hiện các
chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế, xã hội của Nhà nớc.
Chức năng đầu tiên của NSNN là chức năng phân phối. Bất kỳ một
Nhà nớc nào, muốn tồn tại và duy trì đợc các chức năng của mình, trớc
hết phải có nguồn lực tài chính. Đó là các khoản chi cho bộ máy quản lý
Nhà nớc, cho lực lợng quân đội, cảnh sát, cho nhu cầu văn hoá, giáo dục,
y tế, phúc lợi xã hội, chi cho đầu t phát triển v.v Nhng muốn tạo lập đợc
NSNN, trớc hết phải tập hợp các khoản thu theo luật định, cân đối chi
tiêu theo tiêu chuẩn định mức đúng với chính sách hiện hành. Đó chính
là sự huy động các nguồn lực tài chính và đảm bảo nhu cầu chi tiêu theo
kế hoạch của Nhà nớc, thực hiện việc cân đối thu chi bằng tiền của Nhà
nớc.
Chức năng thứ hai của NSNN là giám đốc quá trình huy động các
khoản thu và thực hiện các khoản chi. Thông qua chức năng này, NSNN
kiểm tra, giám sát quá trình động viên các nguồn thu, tránh tình trạng
trốn lậu thuế, chây ỳ nộp thuế của các đối tợng thực hiện nghĩa vụ nộp
NSNN hoặc bị lạm dụng, làm trái pháp luật, coi thờng pháp luật và các
chính sách động viên khác. Trong khâu cấp phát nếu buông lỏng việc
kiểm tra, kiểm soát chi thì dễ dẫn đến tình trạng làm sai luật định và các
hiện quản lý chặt các tài sản thuộc sở hữu Nhà nớc để bảo tồn và phát
triển chế độ sở hữu toàn dân.
- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân thuộc đối tợng
phải đóng góp theo luật định.
- Các khoản viện trợ: Hình thức chủ yếu là viện trợ không hoàn lại,
của các tổ chức, các tổ chức phi chính phủ của các nớc và quốc tế.
Nguồn thu này chủ yếu phụ thuộc vào đờng lối đối ngoại của Đảng và
Nhà nớc. Đây là nguồn thu nhất thời, không ổn định, không tính toán tr-
ớc một cách chính xác.
- Các khoản do Nhà nớc vay để bù đắp bội chi đợc đa vào cân đối
NSNN.
Khoản thu này đợc thực hiện thông qua quan hệ tín dụng Nhà nớc
trong nớc và quốc tế để sử dụng vào mục đích đầu t phát triển kinh tế.
Đây là nguồn thu không thuộc quyền sở hữu Nhà nớc, đến kỳ hạn Nhà n-
ớc phải thanh toán. Vì vậy, việc sử dụng hình thức này đòi hỏi các tổ chức
Nhà nớc phải tính toán nhu cầu đầu t, hiệu quả kinh tế - xã hội của công
trình và khả năng thu hồi vốn để trả nợ.
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
* Các khoản chi lấy từ NSNN.
Chi NSNN là một hệ thống các quan hệ rất đa dạng, phức tạp, bao gồm:
- Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội.
- Các khoản chi bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động
của bộ máy Nhà nớc.
Đây là những khoản chi bắt buộc trong NSNN của mọi quốc gia
nhằm để giữ vững an ninh tổ quốc, ổn định chính trị - xã hội.
7
Quy mô khoản chi này tuỳ thuộc vào việc xác định chức năng
nhiệm vụ và tổ chức bộ máy Nhà nớc xuất phát từ tình hình kinh tế -
chính trị - xã hội ở trong nớc và quốc tế. Trên cơ sở xác định quy mô chi
tiêu cần thiết cho lĩnh vực này, tiến hành phân bổ các loại thuế trực thu
vào đầu t phát triển. Nếu có bội chi thì số bội chi đó phải nhỏ hơn chi
đầu t phát triển, tiến tới cân bằng thu - chi ngân sách. Nếu có vay để bù
đắp bội chi NSNN thì phải trên nguyên tắc tiền vay đợc không sử dụng
cho tiêu dùng mà chỉ sử dụng vào mục đích phát triển và có kế hoạch
thu hồi vốn vay để đảm bảo cân đối ngân sách, chủ động trả nợ đến hạn.
8
Ngân sách địa phơng đợc cân đối theo quy tắc: tổng số chi không đợc vợt
quá tổng số thu
2. Chính sách tài khoá.
Chính sách tài khoá là chính sách của Nhà nớc trong việc huy động
các nguồn thu vào NSNN và sử dụng nó trong hạn nhất định (thờng là 1
năm).
Chính sách tài khoá có tác động đến sản lợng thực tế, đến kiềm chế
lạm phát và tình trạng thất nghiệp; có tác động đến điều chỉnh nền kinh
tế, cơ cấu kinh tế. Mục tiêu của chính sách tài khoá là bảo đảm các
nguồn lực tài chính, tạo môi trờng và điều kiện cho phát triển kinh tế - xã
hội. Để đạt đợc mục tiêu đó, chính sách tài khoá cần xử lý nhiều mối
quan hệ, trong đó giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu sau đây
là nội dung cốt lõi của chính sách tài khoá:
+ Mâu thuẫn thu - chi NSNN. Đây là mâu thuẫn vốn có của bất kỳ
một quốc gia nào, đặc biệt gay gắt đối với các nớc kém phát triển. Xuất
phát của mâu thuẫn này là do chi tiêu của Nhà nớc lớn, trong khi nguồn
thu bị hạn chế. Vì vậy, cần có những biện pháp tích cực để khống chế
nhu cầu chi của Nhà nớc. Đồng thời tích cực thu đúng, thu đủ, tận dụng
các nguồn thu.
Để thực hiện cân đối thu - chi, cần giữ vững 2 đối cân đối chủ yếu:
Một là, thu từ các loại thuế trực thu và gián thu phải bảo đảm nhu
cầu chi thờng xuyên của bộ máy Nhà nớc, quốc phòng, an ninh
Hai là, quy mô đầu t phát triển kinh tế - xã hội phải tơng ứng với
tổng số thu từ thực hiện lợi ích kinh tế các tài sản thuộc sở hữu Nhà nớc
quản lý mọi mặt của đời sống xã hội của một quốc gia thì nhất thiết phải
có nguồn NSNN đảm bảo.
Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nớc sử dụng các công cụ, các
biện pháp bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các
nguồn lực tài chính cần thiết. Nhng cơ sở để hình thành nguồn lực tài
chính đó là từ sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh. Vì
vậy, muốn động viên đợc nguồn thu NSNN ngày càng tăng và có hiệu
quả thì nền kinh tế nói chung, sản xuất kinh doanh nói riêng phải đợc
phát triển với tốc độ nhanh, bền vững và có hiệu quả cao. Vì vậy, Nhà n-
ớc trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội phải nắm đợc quy luật kinh tế
và tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan. Đồng thời phải bảo đảm
hài hoà các quan hệ lợi ích của các chủ thể của nền kinh tế.
Một NSNN vững mạnh là một ngân sách mà cơ chế phân phối của
nó đảm bảo đợc sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất
kinh doanh nuôi dỡng nguồn thu, trên cơ sở đó tăng đợc thu để đáp ứng
nhu cầu chi tiêu của Nhà nớc ngày càng tăng lên.
Mặt khác, một NSNN vững mạnh còn phải thể hiện việc phân phối
và quản lý chi đúng đắn, hợp lý và hiệu quả. Nhà nớc sử dụng khối lợng
tài chính từ nguồn NSNN để chi tiêu vào mục đích phát triển kinh tế - xã
hội và chi tiêu cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nớc. Nh vậy, chức năng
của NSNN, ngoài việc động viên nguồn thu thì còn phải thực hiện quản
lý và phân phối chi tiêu sao cho có hiệu quả. Đó cũng là một tất yếu
khách quan.
10
Từ sự phân tích trên đây, ta có thể hiểu đợc bản chất của NSNN -
đó là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nớc với các thành viên
trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nớc huy động và sử dụng các
nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện trong các chức
năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của Nhà nớc. Hoạt động
của NSNN luôn luôn gắn liền với thực hiện các chức năng của Nhà nớc.
vừa phát huy tốt các nguồn lực bên trong và tranh thủ cao độ, có hiệu quả
11
nguồn lực tài chính bên ngoài; vừa phù hợp với pháp luật của Nhà nớc ta,
vừa phù hợp với thông lệ quốc tế và bảo đảm sự chủ động của NSNN.
+ Đổi mới chế độ phân cấp quản lý NSNN theo hớng giảm bớt
chức năng quản lý kinh tế của chính quyền địa phơng, tránh để tình trạng
phân tán và sử dụng kém hiệu quả nguồn vốn ngân sách.
+ Ban hành đồng bộ hoá và tiếp tục hoàn thiện luật NSNN. Đồng thời
giáo dục, nâng cao trình độ cho toàn dân, cho các chủ thể của nền kinh tế
cũng nh trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chức năng trực tiếp làm
công tác quản lý NSNN. Nghiêm chỉnh chấp hành luật NSNN.
3. Vai trò của NSNN trong các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội.
Chúng ta biết rằng, trong cơ chế thị trờng, mọi hoạt động kinh tế,
sản xuất kinh doanh chủ yếu của các thành phần kinh tế, các ngành kinh
tế chủ yếu tuân theo sự điều tiết của các quy luật vốn có của thị trờng.
Nhận thức đợc điều đó, Nhà nớc ta đã có những cơ chế, chính sách hạn
chế sự can thiệp và kiểm soát trực tiếp đối với các hoạt động kinh tế, nhất
là các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nớc ta với chức năng của
mình là thực hiện quản lý hành chính kinh tế bằng các công cụ pháp luật,
kế hoạch hoá và các chính sách do Nhà nớc ban hành tuân theo pháp luật
hiện hành do cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội ban hành. Đó chính
là sự đổi mới cơ bản về cơ chế quản lý của Nhà nớc ta: từ chỗ quản lý,
điều hành nên kinh tế một cách trực tiếp đến chỗ quản lý và điều hành
mọi hoạt động kinh tế- xã hội thông qua việc tạo mọi điều kiện, môi tr-
ờng, hành lang (trong đó có cả hành lang pháp lý) để cho nền kinh tế
phát triển vừa tuân theo qui lụt kinh tế khách quan, vừa bảo đảm sự định
hớng XHCN, nhằm nhanh chóng đạt đợc các mục tiêu mà Đảng ta đã đề
ra trong các kỳ đại hội.
Trong tất cả các công cụ để quản lý mọi hoạt động kinh tế- xã hội, Nhà
nớc ta hết sức quan tâm đến công cụ NSNN, vì nó là yếu tố vật chất vô cùng
lĩnh vực sau:
- Về kinh tế: Nhà nớc tạo các môi trờng và điều kiện để xây dựng
cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống
độc quyền. NSNN đảm bảo cung cấp kinh phí đầu t xây dựng và nâng
cấp cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp Nhà nớc thuộc
các ngành kinh tế, các lĩnh vực kinh tế then chốt. Trên cơ sở đó từng bớc
làm cho kinh tế Nhà nớc đảm đơng đợc vai trò chủ đạo nền kinh tế nhiều
thành phần.
Mặt khác, trong những điều kiện cho phép thì nguồn kinh phí từ
NSNN cũng có thể đợc sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh
nghiệp thuộc các TPKT khác để các doanh nghiệp đó có cơ sở về tài
chính tốt hơn và do đó có đợc phơng hớng kinh doanh có hiệu quả hơn.
- Về mặt xã hội: Thông qua hoạt động thu, chi NSNN cấp phát
kinh phí cho tất cả các lĩnh vực hoạt động vì mục đích phúc lợi xã hội.
Thông qua công cụ ngân sách, Nhà nớc có thể điều chỉnh các mặt hoạt
động trong đời sống xã hội nh: Thông qua chính sách thuế để kích thích
sản xuất đối với những sản phẩm cần thiết cấp bách, đồng thời có thể hạn
chế sản xuất những sản phẩm không cần khuyến khích sản xuất. Hoặc để
hớng dẫn sản xuất và tiêu dùng hợp lý. Thông qua nguồn vốn ngân sách
để thực hiện hình thức trợ cấp giá đối với các hoạt động thuộc chính sách dân
số, chính sách việc làm, chính sách thu nhập, chính sách bảo trợ xã hội v.v
13
- Về thị trờng: Thông qua các khoản thu, chi NSNN sẽ góp phần bình
ổn giá cả thị trờng. Ta biết rằng, trong điều kiện kinh tế thị trờng, sự biến
động giá cả đến mức gây ảnh hởng xấu đến sự phát triển nền kinh tế có
nguyên nhân từ sự mất cân đối cung - cầu. Bằng công cụ thuế và dự trữ Nhà
nớc can thiệp đến quan hệ cung - cầu và bình ổn giá cả thị trờng.
Hoạt động thu chi NSNN có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề lạm
phát. Lạm phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế. Lạm phát xảy
ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng. Để kiềm chế đợc lạm phát
đáng cho đầu t xây dựng và phát triển các cơ sở vật chất- kỹ thuật cho
lĩnh vực giáo dục đào tạo, hệ thống trờng chuyên, lớp chọn, trờng dân tộc
14
nội trú, trờng cao đẳng s phạm. Mặc dù nguồn thu ngân sách còn hạn
chế, nhng tỉnh cũng rất quan tâm đầu t cho lĩnh vực y tế và dân số kế
hoạch hoá gia đình. Cụ thể là đầu t nâng cấp cải tạo các cơ sở khám chữa
bệnh, tạo điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân đợc tốt hơn.
Ngoài ra NSNN còn thực hiện một loạt các chơng trình khác nh:
củng cố mở rộng nâng cấp các đờng giao thông liên huyện, liên xã, đầu
t để xây dựng đờng dây, trạm biến áp để đa điện lới quốc gia về các
huyện vùng cao. Đầu t xây dựng các cơ sở phát thanh, truyền hình, bu
điện để đáp ứng nhu cầu đời sống văn hoá, tinh thần cho các dân tộc
trong tỉnh. Đồng thời cũng nhằm tạo các phơng tiện tuyên truyền đờng
lối chính sách của Đảng và Nhà nớc, để nhân dân các dân tộc hiểu rõ đ-
ờng lối, chủ trơng của Đảng và Nhà nớc trên tất cả các mặt của đời sống
xã hội, để họ có sự tin tởng và tự giác thực hiện.
Đối với lĩnh vực thu NSNN: thông qua các hình thức hoạt động thu
NSNN mà đã động viên đợc ngày càng nhiều hơn, tốt hơn nguồn lực tài
chính cho địa phơng. Sự động viên đó, một mặt đảm bảo nguồn thu,
tránh thất thu cho NSNN, nhng đồng thời cũng qua đó thực hiện sự bình
đẳng về quyền và nghĩa vụ đóng góp của nhân dân, của các chủ thể kinh
tế, các TPKT trong tỉnh.
Tóm lại, NSNN có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển
kinh tế - xã hội nói chung. Đối với tỉnh Hà Giang thì vai trò NSNN lại
càng đặc biệt quan trọng. Nhờ có nguồn thu NSNN mà đã tạo điều kiện
về nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế -
xã hội, đảm bảo kinh phí chi tiêu cho các hoạt động của bộ máy chính
quyền và các tổ chức Đảng, đoàn thể, các lực lợng vũ trang an ninh
Tuy nhiên, hiện nay NSNN của tỉnh còn hết sức nhỏ bé, cha đáp
ứng nhu cầu nói trên. Do đó, chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu để
lâm - công nghiệp với nhiều sản phẩm phong phú, có nhiều cảnh quan
thiên nhiên đẹp để phát triển du lịch, dã ngoại
- Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi trên còn không ít khó khăn
do địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, nhiều dãy núi đá nên không ít khó
khăn trong phát triển sản xuất nông nghiệp đặc biệt ở các huyện vùng cao.
* Đất đai:
Tổng diện tích tự nhiên là: 788.437 ha (7884,37 km
2
).
Trong đó:
- Đất nông nghiệp : 106.425,113 ha
+ Đất trồng cây hàng năm : 39.817,77 ha
Đất ruộng lúa, mầu : 28.372,09 ha
Đất nơng rẫy : 52.192,03 ha
Đất cây hàng năm khác : 9.353,65 ha
+ Đất vờn tạp : 4.908,20 ha
+ Đất dùng vào chăn nuôi : 1.140,45 ha
+ Đất cây lâu năm : 9.874,87 ha
+ Đất có mặt nớc nuôi thuỷ sản : 683,75 ha
- Đất nông nghiệp : 279.450,7 ha
+ Đất có rừng tự nhiên : 229.587,96 ha
Đất có rừng sản xuất : 34.071,03 ha
16
Đất có rừng phòng hộ : 177.439,97 ha
Đất có rừng đặc dụng : 17.191,36 ha
+ Đất có rừng trồng : 49.861,09 ha
Đất có rừng sản xuất : 41.030,68 ha
Đất có rừng phòng hộ : 8.793,46 ha
+ Đất cây ơm giống : 1,65 ha
- Đất chuyên dùng : 4.183,33 ha
Chảy, Sông Nho Quế, Sông Niệm, Sông Con, Sông Bạc, còn lại là suối
cạn. Lu lợng nớc sông phụ thuộc lớn vào mùa ma lũ, mùa khô thờng cạn
17
kiệt, các dòng sông phân bổ không đều, đặc biệt là vùng cao núi đá, rất ít
nớc. Những tháng mùa khô còn trên 100.000 ngời thiếu nớc sinh hoạt.
* Về thổ nhỡng: Trên địa hình tỉnh Hà Giang hình thành các nhóm
đất chính nh đất phù sa tập trung ở vùng Bắc Quang, nhóm đất đỏ vàng
( có tác dụng tốt phát triển cây công nghiệp ăn quả) ở Vị Xuyên, Bắc
Quang, Thị xã Hà Giang, Xín Mần, Hoàng Su Phì, nhóm đất phù sa cổ
trên cao nguyên Đồng Văn và các huyện vùng cao.
* Tài nguyên khoáng sản: Qua khảo sát điều tra Hà Giang phát
hiện đợc 28 loại khoáng sản khác nhau nh ( Ăngtimon, vàng, chì, kẽm,
sắt, Măngan, thuỷ ngân , nớc khoáng) với số lợng 149 mỏ và các điểm
quặng. Hiện nay đang tiến hành thăm dò khai thác các loại khoáng sản
nh Măngan, Firit, Kẽm, Thiếc, đồng, chì, sắt, vàng, nớc khoáng khoáng
sản có nhiều triển vọng nếu đợc đầu t thăm dò khai thác thích hợp.
2. Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang
* Dân số và lao động: Dân số toàn tỉnh tính đến 1/4/1999 có:
60,268 vạn ngời với 22 dân tộc, trong đó 90% là đồng bào dân tộc thiểu
số. Trong đó dân tộc Mông chiếm 31,3%; Tày 26,5%; Dao 15,3%; Kinh
11,8% còn lại các dân tộc ít ngời khác.
Hà Giang có 9 Huyện và 1 thị xã tỉnh lỵ, trong đó có 7 Huyện
vùng cao biên giới thì có 4 huyện đặc biệt khó khăn trong 9 Huyện khó
khăn nhất cả nớc. Hiện nay toàn tỉnh có 128/191 xã thuộc diện xã đặc
biệt khó khăn (vùng III).
* Về sự phân vùng kinh tế:
Xuất phát từ điều kiện, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Hà
Giang hình thành làm 3 vùng kinh tế - xã hội và mỗi vùng có các tiềm
năng thế mạnh khác nhau:
- Vùng cao núi đá gồm 4 huyện phía Bắc là Mèo Vạc, Đồng Văn,
2
, độ cao trung bình
100 - 500 m; dân số: 294.574 ngời. Đây là vùng phù hợp với cây nhiệt
đới phát triển nh cam, quýt, dợc liệu, cây công nghiệp nh chè, cà phê,
quế, dâu tằm, đậu tơng, lạc cây lơng thực chủ yếu là lúa nớc, ngô. Chăn
nuôi: trâu bò, dê, cá và gia cầm. Trong vùng có cửa khẩu quốc gia Thanh
Thuỷ rất thuận lợi cho giao lu kinh tế, văn hoá với Trung Quốc, có điều
kiện về xuất nhập khẩu và phát triển thơng mại, dịch vụ
Đây là vùng thuận lợi nhất của tỉnh, song vẫn là khu vực còn
những khó khăn về đời sống kinh tế - xã hội. Thu nhập bình quân ở mức
100 - 130 USD/ngời/năm. Hầu hết hệ thống thuỷ lợi, kênh mơng cha đợc
kiên cố hoá.
* Thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh trong những năm vừa
qua:
- Một số kết quả chung về phát triển kinh tế xã hội của tỉnh:
Thực hiện đờng lối của Đảng và chính sách của Nhà nớc, trong đó
vấn đề quan trọng có tính chiến lợc lầu dài là chủ trơng phát triển kinh tế
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà
nớc theo định hớng XHCN. Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh
tế Tỉnh đã phát huy đợc cơ bản các thành phần kinh tế tham gia trong sản
xuất kinh doanh, khẳng định hộ nông dân là một đơn vị tự chủ trong kinh
tế đồng thời đã thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nớc nhất
là Nghị quyết 22 NQ Trung ơng của Bộ Chính trị, và Nghị quyết 72CT
của Chủ tịch Hội đồng Bộ Trởng về một số chính sách phát triển kinh tế
xã hội miền núi, các Quyết định 327CP về sử dụng đất trống đồi núi trọc,
và các chính sách vay vốn, trợ giá trợ cớc vận chuyển và đảm bảo các
hàng thiết yếu cho miền núi, chơng trình 06CP về không trồng thuốc
19
phiện và cai nghiện ma tuý; chơng trình y tế và giáo dục VHXH đã trực
tiếp thúc đẩy kinh tế xã hội ở địa phơng.
chất lợng, góp phần to lớn trong việc phát triển nền kinh tế xã hội theo h-
ớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ đang từng
bớc đợc nâng cấp, mở rộng nhựa hoá. Đến nay có 232 km đờng quốc lộ
và 91 km đờng tỉnh lộ đợc nhựa hoá. Đờng cửa khẩu quốc gia Thanh
Thuỷ, cửa khẩu tiểu ngạch đợc khai thông Đặc biệt đến nay có 183/191
xã có đờng về đến trung tâm xã
20
Công tác thuỷ lợi có những chuyển biến mạnh. Từ những công
trình trớc đây còn tạm bợ, cha đợc kiên cố hoá, khả năng tới 22.000 ha
thì đến nay đã có 215 công trình lớn nhỏ đợc sửa chữa nâng cấp, cộng
với 5283 công trình siêu nhỏ do dân tự làm với năng lực tới đạt trên
28.000 ha.
+ Sự nghiệp y tế - Giáo dục - phát thanh , truyền hình trên địa bàn
tỉnh đã từng bớc đợc phát triển mở rộng, đã xoá đợc tất cả các xã trắng
không có trạm xá và từng bớc xây dựng kiên cố vững chắc. Tỉnh đợc
công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu
học và chống mù chữ trên địa bàn toàn tỉnh vào năm 1999. Tỷ lệ phủ
sóng phát thanh đạt 67,7%, sóng truyền hình đạt 61% năm 1999. An ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội đợc đảm bảo. Từ những kết quả chung
nêu trên đã có tác dụng kích thích môi trờng thuận lợi cho sản xuất kinh
tế phát triển, có nhu nhập đời sống dần tăng lên. Tỷ lệ đói nghèo giảm từ
35% năm 1998 xuống còn 22% năm 1999, tỷ lệ hộ khá giàu đạt 3-4%,
các khoản thu cho NSNN cũng tăng lên.
- Thực trạng của cơ cấu ngành và sản xuất nông, lâm nghiệp trong
những năm qua của địa phơng:
+ Về nông nghiệp: Là một ngành kinh tế truyền thống đồng thời là
ngành quan trọng hàng đầu trong các ngành kinh tế của tỉnh. Trên cơ sở
về tiềm năng đất đai, khí hậu, đợc sự đầu t giúp đỡ của Chính phủ, sự
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, Chính quyền tỉnh cộng với sự vợt khó đi
lên của nhân dân các dân tộc trong những năm gần đây bộ mặt nông thôn
1995 75.600,1 29.208,3 46.451,8
1996 76.999,5 29.896,0 47.103,5
1997 77.100,4 29.447,7 47.652,7
1998 77.880,4 29.684,6 48.205,8
1999 76.280,0 30.364,6 45.916,0
Chỉ số phát triển về diện tích cây lơng thực: Năm trớc là 100% thì
năm sau thờng tăng hơn 1,02%- 1,068%.
Năng suất lúa ruộng cả năm: nếu năm 1995 đạt 31,3 tạ/ha cả năm
thì năm 1999 đạt 38,05 tạ/ha, tăng hơn 7,2 tạ/ha. Năng suất ngô cả năm
năm 1995 đạt 13,64 tạ/ha thì năm 1999 đạt 18-20 tạ/ha.
Bên cạnh cây lơng thực cây công nghiệp ngắn ngày cũng đuợc
phát triển khá tạo ra những vùng tập trung có sản lợng hàng hoá trao đổi
nh huyện Hoàng Su Phì, Bắc Quang, Vị Xuyên đặc biệt là cây đậu tơng:
Năm 1995 diện tích 3.271 ha đến năm 1999 diện tích 5079,9 ha tăng
1,826 ha, năng suất đạt 6,53 tạ/ha. Đa tổng sản lợng năm 1999 lên 3.338
tấn tăng gấp 2 lần so với năm 1995. Sản lợng bán ra hàng năm trên 2.500
tấn.
Một số cây công nghiệp ăn quả chính dài ngày nh cây chè, cà phê,
cây ăn quả cam, quýt đang có chiều hớng tăng lên đáng kể tạo ra hàng
hoá lớn trên địa bàn nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân. Cây soài,
cây lê, cây hồng cũng đã phát triển mở ra hớng chuyển đổi mới về cơ cấu
cây trồng cho vùng cao. Kết quả thể hiện:
Biểu 3. Diện tích cây công nghiệp lâu năm
Diện tích Tổng số Chia ra
Năm (ha) Chè (ha) Cà phê (ha)
1995 6.473,3 6.220,9 249
1997 8.617,3 7.613,6 1003,7
1998 9.361,1 8.621,3 739,4
22
1999 9.654,7 9.654,7 769,4
Trâu 390,1 411 423 450 115
Bò 369,4 392,8 412 430 116
Lợn 3.353,1 3.857,0 4.050 4.350 135
Gia cầm 1.102 1.175,4 1.223 1.320 119,7
Hiện nay tỉnh tập trung thực hiện chơng trình hỗ trợ cho vay đầu t
phát triển trâu bò hàng hoá với chơng trình 3 vạn con trâu bò. Năm 1999
đã thực hiện đợc gần 10.000 con.
Năm 1999 diện tích nuôi trồng thuỷ sản có 900 ha, tăng hơn năm
1995 là 120 ha. Sản lợng thuỷ sản năm 1999 đạt 820 tấn.
23
Đàn ong năm 1999 có 9.009 tổ, tăng 3% so với năm 1998 cho sản
lợng 40 tấn mật.
+ Về lâm nghiệp: Là tỉnh có diện tích đất rừng tự nhiên nhiều, nh-
ng hiện tại phần lớn là đất trống đồi núi trọc, rừng đầu nguồn và rừng
phòng hộ. Những năm trớc đây do tệ nạn khai thác không có tổ chức,
buôn bán trái phép, dân du canh d c nhiều, mặt khác ảnh hởng chiến
tranh thế giới tàn phá, nên đã làm cho rừng ngheo kiệt, làm mất cân bằng
hệ sinh thái; Ngoài ra việc giao đất giao rừng cha hợp lý, ngời dân cha
thực sự đợc làm chủ đất rừng, nên ảnh hởng đến sự phát triển kinh tế -xã
hội và nguồn thu của nhân dân.
Nhng những năm gần đây do thực hiện tốt chủ trơng giao đất giao
rừng đến từng hộ và nguời lao động (đến năm 1998 diện tích đất nông
nghiệp đã giao tới xã đạt 93% và 92,4% đất lâm nghiệp). Đặc biệt thông
qua chơng trình 327, ĐCĐC Rừng Hà Giang đã tái sinh trở lại. Công
tác trồng, chăm sóc, bảo vệ, khoanh nuôi đợc tăng cờng rừng đã trở lại
mầu xanh, độ che phủ của rừng từ 22% năm 1992 nay đã nâng lên 35%
năm 1999.
Kết quả năm 1995- 1999:
- Diện tích đất rừng đợc giao tới hộ 126.088 ha, bình quân mỗi hộ
4-5 ha đất rừng.
2000 hộ dân làm kinh tế trang trại, trong đó chính sách 478 hộ kinh
doanh nông, lâm, ng nghiệp theo mô hình trang trại quy mô từ 2 ha trở
lên, chiếm 0,48% tổng số hộ toàn tỉnh. Trong số hộ trên riêng huyện Bắc
Quang có khoảng 100 hộ, đạt doanh thu hàng năm từ 100-200 triệu đồng.
Đây thực sự là một mô hình mới về phát triển nông, lâm nghiệp hàng
hoá đúng hớng có hiệu quả cần đợc tiếp tục nghiên cứu, tổng kết và tạo
điều kiện để khuyến khích mở rộng.
+ Về đầu t phát triển:
Đợc sự hỗ trợ của Chính phủ cộng với tinh thần phát huy nội lực
của địa phơng trong những năm qua, hớng đầu t cho nông nghiệp, lâm
nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các chính sách trợ cớc, trợ giá
trong chơng trình phát triển nông, lâm nghiệp của tỉnh năm sau để tăng
hơn năm trớc. Đảm bảo cho sản xuất tăng trởng, phát triển ổn định bền
vững.
Trong 6 năm từ 1994-1999, tổng số nguồn vốn đầu t cho phát triển
các lĩnh vực trên toàn tỉnh là 1424,3 tỷ đồng thì đầu t cho nông, lâm
nghiệp là 297,4 tỷ đồng bằng 20,88%. Đặc biệt năm 1999 đầu t cho nông
nghiệp lên tới 88,2 tỷ đồng/354,6 tỷ đồng chiếm 24,87%.
+ Về hoạt động thơng mại- du lịch:
Hà Giang có đờng biên giới giáp với Trung Quốc dài trên 270 km
có cửa khẩu Quốc gia Thanh Thuỷ và Phó Bảng, ngoài ra còn có các cửa
khẩu tiểu ngạch rất thuận tiện cho giao lu buôn bán với Trung Quốc. Có
những địa danh độc đáo nh Căng Bắc Mê, Núi Cấm, Cổng Trời, Suối
Tiên, Chum vàng chum bạc, Núi Cô Tiên và một số di tích lịch sử đợc
xây dựng từ thế kỷ 19 nh Chùa Sùng Khánh, Nhà Vơng và các hang
động, rừng đặc dụng phòng hộ khu bảo tồn thiên nhiên khác
25