nghiên cứu quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường - Pdf 13

Mã số: 201.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 201.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011. “Nghiên cứu
quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường” - CN. Đào Vĩnh Sơn
0
BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU DA -GIÀY BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tên đề tài: “Nghiên cứu quy trình thiết kế, chế tạo
giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường” Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương
Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Chủ nhiệm đề tài: CN. Đào Vĩnh Sơn


Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 201.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011. “Nghiên cứu
quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường” - CN. Đào Vĩnh Sơn
2
MỤC LỤC
Danh s¸ch nh÷ng ng−êi thùc hiÖn 0
PHẦN I. TỔNG QUAN 4
1.1. Cơ sở pháp lý, xuất xứ và sự cần thiết của đề tài. 4
1.1.1. Cơ sở pháp lý: 4
1.1.2. Sự cần thiết của đề tài: 4
1.5. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 5
1.5.1. Tình hình nghiên cứu trong nước: 5
1.5.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước: 6
1.6. Một số yêu cầu đối với giày và nguyên vật liệu sản xuất giày cho bệnh nhân tiểu
đường: 9
1.6.1. Yêu cầu đối với giày cho bệnh nhân tiểu đường 9
1.6.2. Vật liệu làm giầy cho người bị bệnh đái tháo đường và yêu cầu đối với chúng 11
1.6.2.1. Vật liệu làm phần mũ giầy và yêu cầu đối với chúng 12
1.6.2.2. Vật liệu làm phần đế giày và yêu cầu đối với chúng 19
PHẦN II. THỰC NGHIỆM VÀ BIỆN LUẬN 23
2.1. Thiết kế giày cho bệnh nhân tiểu đường 23
2.1.1. Cấu trúc giày 23
2.1.2. Phom để sản xuất giày cho bệnh nhân tiểu đường 25
2.1.3. Thiết kế mũ giày 26
2.1.4. Thiết kế các chi tiết phần đế giày 27
2.1.5. Đặc điểm thiết kế, cấu trúc giày cho bệnh nhân tiểu đường 28
2.1.6. Đặc điểm công nghệ sản xuất giày cho người bệnh tiểu đuờng 29
2.1.6.1. Pha cắt vật liệu thành các chi tiết giày và hoàn thiện chi tiết sau pha cắt 30
2.1.6.2. Ráp nối các chi tiết mũ giày 31
2.1.6.3. Định hình mũ giày trên phom 32
2.1.6.4. Ráp phần đế giày 33

của bệnh đái tháo đường.
Nội dung của đề tài:
- Khảo sát các dạng tổn thương bàn chân đặc trưng, nhu cầu sử dụng
- Xây dựng yêu cầu cơ bản đối với giầy dép bảo vệ bàn chân cho bệnh
nhân ĐTĐ.
- Lựa chọn kết cấu sản phẩm và loại NPL phù hợ
p.
- Xây dựng quy trình thiết kế và chế tạo giầy dép phù hợp với việc bảo
vệ bàn chân đã và sẽ bị tổn thương do hậu quả của bệnh ĐTĐ.
- Sản xuất thử nghiệm 100 đôi giầy cho bệnh nhân ĐTĐ.
- Đánh giá hiệu quả đề tài.
Kết quả đạt được:
Sản phẩm giầy dành cho bệnh nhân được đánh giá khá cao trên một số nội
dung như sau:
- Độ mềm mại phần da mũ giầy đạt yêu cầu
- Lót giầy mềm và êm
- Thấm hút mồ hôi và thông thoáng khí chống ẩm mốc tạo điều kiện cho
vi sinh vật phát triển
- Giầy dép vừa vặn với bàn chân, nhẹ tạo điều kiện cho việc di chuyển dễ

dàng, giảm bớt sự đau đớn của bàn chân
Kết luận: đề tài đã hoàn thành theo hợp đồng đã ký với Bộ Công thương

Mã số: 201.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 201.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011. “Nghiên cứu
quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường” - CN. Đào Vĩnh Sơn
4
PHẦN I. TỔNG QUAN
1.1. Cơ sở pháp lý, xuất xứ và sự cần thiết của đề tài.
1.1.1. Cơ sở pháp lý:

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đưa ra quy trình thiết kế và chế tạo giầy dép phù hợp với việc
bảo vệ bàn chân đã và sẽ bị tổn thương do hậu quả của bệnh đái tháo đường.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứ
u:
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là bệnh nhân đái tháo đường ở
Việt Nam.
Mã số: 201.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 201.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011. “Nghiên cứu
quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường” - CN. Đào Vĩnh Sơn
5
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trong 2 năm, với mục tiêu:
Thiết kế và chế tạo giầy dép phù hợp với việc bảo vệ bàn chân đã và sẽ bị
tổn thương do hậu quả của bệnh đái tháo đường ở Việt Nam
1.4. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Nội dung nghiên cứu:
Khảo sát các dạng tổn thương bàn chân đặc trưng, nhu cầu sử dụng;
Xây dựng yêu c
ầu cơ bản đối với giầy dép bảo vệ bàn chân cho bệnh nhân
ĐTĐ;
Lựa chọn kết cấu sản phẩm và loại NPL phù hợp;
Xây dựng quy trình thiết kế và chế tạo giầy dép phù hợp với việc bảo vệ
bàn chân đã và sẽ bị tổn thương do hậu quả của bệnh ĐTĐ;
Sản xuất thử nghiệm 100 đôi giầy cho bệnh nhân Đ
TĐ;
Đánh giá hiệu quả đề tài.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát thực tế, xác định tiêu chuẩn chất lượng của giầy dép phù

thành phố Hà Nội đã tăng lên 2,42% [1] . Và theo ước tính, năm 2010, số người
ĐTĐ ở Việt Nam xấp xỉ 1,65?
triệu người, chiếm 2,9%, năm 2030 là 3,4 triệu
người, chiếm 4,4% dân số[4]. Các cuộc điều tra mới đây tại một số vùng miền
Bắc và miền Nam Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc bệnh vào khoảng 3-5% thay đổi
tuỳ vùng địa lý [2].
Để hạn chế và phòng ngừa loét chân cần khám phát hiện sớm biến chứng
bàn chân, điều trị thích hợp, tư vấn giáo dục bệnh nhân chăm sóc bàn chân và
lự
a chọn giày thích hợp.
Giày không vừa chân là nguyên nhân phổ biến gây loét chân của bệnh nhân
đái tháo đường. Chọn giày mang theo chỉ định của bác sĩ được xem là một cách
để phòng ngừa và điều trị loét bàn chân đái tháo đường. Tuy vậy việc này chỉ có
hiệu quả nếu bệnh nhân chấp nhận mang giày đã được chỉ định. Vì vậy, việc
thảo luận vai trò của mang giày phù hợp là vô cùng quan trọng.
Tuy nhiên ở Việt Nam, việc thiết kế gi
ầy dép cho bệnh nhân ĐTĐ chưa
được nghiên cứu bài bản nên phần lớn bệnh nhân thường dùng giầy dép theo tư
duy của họ, không phù hợp về mặt y tế. Một số áp dụng mới chỉ là tấm lót giầy
nên chưa giải quyết trọn vẹn yêu cầu y tế đặt ra.
1.5.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Trên thế giới người ta thường sử dụng 2 loại giầy cho bệnh nhân tiểu đường:
gi
ầy được chế tạo theo bàn chân bệnh nhân và giầy “sâu rộng” được sản xuất
hàng loạt.
Loại đầu tiên được sản xuất theo các đặc trưng nhân trắc (hình dạng và
kích thước) bàn chân của từng bệnh nhân tiểu đường. Chúng được làm từ các
loại vật liệu rất mềm như da mềm với các chi tiết đóng mở linh hoạt như băng
nhám (Velcro) với mục đích phòng các biến chứng như các v
ết trầy sước hoặc

ềm, có các kích cỡ bề ngang khác nhau thích
hợp cho từng bệnh nhân, ví dụ nhu ở hình 1.

Hình 1: Giày cho bệnh nhân tiểu
đường nguy cơ thấp (Nguồn:
Luigi Uccioli, MD, The Diabetic
Foot 2006: The Role of Footwear
in the Prevention of Diabetic Foot
Problem)

Giày cho nhóm bệnh nhân nguy cơ vừa: Bệnh nhân có nguy cơ vừa bị loét.
Lựa chọn loại giày da rộng, mềm, dễ uốn, với kích cỡ cân đối, với áp lực thích
hợp, vừa vặn với cung gan bàn chân cho đối tượng bệnh nhân này. a b
Hình 2: Giày cho bện nhân tiểu đường nguy cơ vừa (Nguồn: Luigi Uccioli, MD,
The Diabetic Foot 2006: The Role of Footwear in the Prevention of Diabetic
Mã số: 201.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 201.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011. “Nghiên cứu
quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường” - CN. Đào Vĩnh Sơn
8
Foot Problem)
a: Giày da rộng, mềm, dễ uốn, vừa vặn với cung gan bàn chân
b: Giày có sự phân bố áp lực phù hợp bên trong đế giày.
Giày cho nhóm nguy cơ bị loét chân cao: Khi bị mất cảm giác bảo vệ sẽ gây ra
những biến dạng của bàn chân (lồi xương đốt bàn, ngón chân hình búa, ngón
chân hình vuốt thú). Trong các trường hợp này ngón chân của bàn chân bị biến
dạng, không thích hợp với đôi giày đang mang từ trước, nhân tố quan trọng nhất
là phần trên mũi giày, sẽ gây c

9Hình 4: Lót giày cho bệnh nhân tiểu đường (Nguồn: Luigi Uccioli, MD, The
Diabetic Foot 2006: The Role of Footwear in the Prevention of Diabetic Foot
Problem)
Nhóm này nên lựa chọn loại giày với các đặc điểm: đế giày di động và
cứng, giày nửa sau giúp giảm tải ở phần bàn chân trước và thúc đẩy sự lành vết
loét lên đến 66%.

A
b
Hình 5: Giầy cho nhóm nguy cơ loét chân rất cao (Nguồn: Luigi Uccioli, MD,
The Diabetic Foot 2006: The Role of Footwear in the Prevention of Diabetic Foot
Problem).
a: Giày với đế cứng và mũi giày rộng để chứa ngón chân biến dạng, và có
nhiều miếng đệm ở bên trong.
b: Giày nửa đế, giúp không tạo áp lực lên vết loét bàn chân trước, do bệnh
nhân đi bằng áp lực duy nhất ở vùng rìa bàn chân
1.6. Một số yêu cầu đối với giày và nguyên vật liệu sản xuất giày cho bệnh
nhân tiểu đường:
1.6.1. Yêu cầu đối với giày cho b
ệnh nhân tiểu đường
Bệnh nhân tiểu đường có các nhóm nguy cơ khác nhau về chấn thương
bàn chân, tuy nhiên bàn chân tất cả các bệnh nhân đều có đặc điểm chung sau
đây:
- Bàn chân dễ bị tổn thương, do người bệnh bị giảm hoặc mất cảm giác
bàn chân, khi bị tổn thương người bệnh không biết do vậy vết thương dễ nặng
Mã số: 201.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 201.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011. “Nghiên cứu

- Giầy phải vừa chân, có phần mũ
i cao và rộng (hình 8) để tránh ép nén
cục bộ và tổng thể nên bàn chân, tổn thương da và các mạch máu, dây thần kinh
hoặc làm trầy xước da.
Mã số: 201.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 201.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011. “Nghiên cứu
quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường” - CN. Đào Vĩnh Sơn
11

Hình 7. Minh họa yêu cầu phần mũi giày cho bệnh nhân tiểu đường
- Giầy bảo vệ bàn chân khỏi các tác động cơ học từ môi trường bên ngoài
(các tác động va đập, đâm xuyên của các vật thể).
- Giầy mềm mại, lót êm không cộm để tránh tổn thương da bàn chân,
tránh ép nén mạnh nên bàn chân khi đi lại (bẻ uốn).
- Lót giầy đảm bảo cho sự phân bố áp lực đều nên lòng bàn chân, giảm
chấn (có độ êm) cho bàn chân, nâng đỡ bàn chân. Nếu có thể
nên làm lót theo
đặc thù bàn chân người bệnh.
- Giày bảo vệ bàn chân khỏi bị lạnh hoặc không bị quá nóng (giữ nhiệt độ
ổn định cho bàn chân).
- Giầy hạn chế tối đa tác động của vi khuẩn làm hôi chân và có thể gây
bệnh lý cho bàn chân.
- Giầy đảm bảo các yêu cầu vệ sinh (độ hút ẩm, thải ẩm, thông hơi v.v.)
đảm bảo cho bàn chân luôn khô ráo sạch sẽ. Các yêu cầu vệ sinh của lọai giầy
này cần phải cao hơn gi
ầy thông thường.
- Giầy đảm bảo các yêu cầu sinh thái (hàm lượng CrVI, độ pH của da
thuộc, độ bền màu, thuốc nhuộm azo gây ung thư hoặc dị ứng, hàm lượng kim
loại nặng, hàm lượng formaldehit trên vải v.v.) để không gây độc hại cho bàn
chân. Các yêu cầu sinh của lọai giầy này cũng cần phải cao hơn giầy thông

định bởi cấu tạo hóa học, dạng và các đặc điểm của các nhóm hoạt tính và các
mối liên kết xuất hiện giữa chúng với colagen.

Để làm mũ giày cho bệnh nhân tiểu đường thường sử dụng da cật và da
váng. Thông thường người ta sử dụng da bò hoặc dê, da cừu mềm (hoặc rất
mềm) thuộc crom có độ dày từ 1,0 đến 1,5 mm. Các loại da này có thể là da cật
nguyên (không xẻ) hoặc da cật xẻ. Đôi khi người ta dùng các loại da váng (da
lớp 2) để làm chi tiết bên ngoài cho một số loại kiểu giầy. Da váng có thể được
hoàn tất bằng cách tráng phủ và tạo vân hoa bề m
ặt nhằm tăng độ bền của da,
tạo cho da có ngoại hình của da cật. Tuy nhiên các tính chất cơ lý và tính vệ sinh
của loại da này kém hơn so với da cật, chúng được sử dụng để làm mũ giày có
chất lượng thấp.
- Vải dệt thoi: Vải ngày càng được sử dụng nhiều trong công nghiệp sản
xuất giầy một phần do nhu cầu về giầy dép ngày càng tăng, trong khi đó sản
lượng da thuộc không
đủ để đáp ứng nhu cầu này, mặt khác do chúng có các
tính chất đảm bảo các yêu cầu vệ sinh (hút ẩm, hút nước tốt, thải ẩm tốt, thông
hơi, thông khí rất tốt v.v.), công nghệ và giá thành rẻ hơn so với da thuộc. Để
làm chi tiết bên ngoài của giày thông dụng người ta sử dụng chủ yếu là vải đi từ
xơ sợi bông hoặc vải pha bông với xơ sợi tổng hợp như Pe/co. Tuy nhiên vải
bông pha có các tính ch
ất tiện nghi bị giảm nên người ta thường dùng vải bông
100 %.
Mã số: 201.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 201.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011. “Nghiên cứu
quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường” - CN. Đào Vĩnh Sơn
13
Để làm chi tiết bên ngoài của mũ giày cho bệnh nhân tiểu đường có thể
dùng vải dệt thoi với độ dày, chi số sợi khác nhau và có khối lượng từ 250 đến

Bảng 1. Yêu cầu đối vật liệu làm mũ giày
TT Tiêu chí Đơn vị Giá trị cần đạt
1 Độ bền xé N
≥ 100 N đối với da
≥ 50 N đối với vải tráng phủ
và vải
2 Độ bền kéo N/mm
2

≥15 N/mm
2
đối với da váng
3 Độ thông mg/cm
2
.h
≥ 0.8
Mã số: 201.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 201.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011. “Nghiên cứu
quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường” - CN. Đào Vĩnh Sơn
14
4 Hệ số thông hơi mg/cm
2

≥ 15
5 Độ pH (đối với da)
≥ 4
6
Hàm lượng CrVI (đối với
da)
ppm ≤ 10 ppm

vải bạt mỏng dệt từ sợi bông được sản xuất theo một số kiểu dệt chính sau: kiểu
dệt vân điểm, vân chéo hoặc vân đoạn. Do vải bông 100 % có độ bền mài mòn
ướt không cao nên chúng thường không được sử dụng làm lót phần gót giày, mà
Mã số: 201.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 201.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011. “Nghiên cứu
quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường” - CN. Đào Vĩnh Sơn
15
chủ yếu được sử dụng làm lót phầm mũi mũ giày.
Để làm lót mũ giày người ta sử dụng vải mỏng hơn so với vải làm chi tiết
bên ngoài của mũ giày. Các loại vải lót có các tính chất giữ nhiệt thấp có khối
lượng 190 - 300 g/m
2
mật độ sợi trên 10 cm theo sợi dọc là 220 - 420, theo sợi
ngang là 200 - 300. Vải có lông tuyết có tính chất giữ nhiệt cao hơn và có khối
lượng lớn hơn 210 g/m
2
và mật độ sợi trên 10 cm theo chiều dọc lớn hơn 130,
theo chiều ngang lớn hơn 110.
Để tăng độ êm xốp cho giầy người ta có thể sử dụng cấu trúc vải dệt thoi
+ mút xốp. Các lớp vật liệu này được bồi dán keo với nhau trước khi pha cắt.
Tuy nhiên tính vệ sinh của hệ vật liệu này bị giảm do có mặt của màng keo.
Để tăng tính vệ sinh cho giầy, có thể sử dụng các mặ
t hàng vải dệt có xử
lý kháng khuẩn. Mặt hàng này rất phù hợp cho loại giầy cho bệnh nhân tiểu
đường để phòng tránh nhiễm trùng bàn chân do vi khuẩn.
- Vải dệt kim: Vải dệt kim được tạo ra bằng sự liên kết các vòng sợi với
nhau theo một quy luật nhất định. Do được tạo thành bởi các vòng sợi nên vải
dệt kim thường có tính đàn hồi, xốp và thẩm thấu không khí tốt hơn các loại vật
liệu khác. C
ấu trúc vải dệt kim phụ thuộc vào loại, độ dày của xơ sợi, kiểu dệt,

i
không dệt có độ bền thấp, độ giãn lớn và sự không đồng đều về tính chất nên
được sử dụng hạn chế để làm các chi tiết bên ngoài của mũ giày mà chủ yếu
dùng làm các chi tiết lót, đệm giữa của mũ giày hoặc làm lót giày một lớp.
Vải không dệt dùng để làm lớp lót giày chủ yếu là vải không dệt khâu đan
có lông trên bề mặt được làm từ xơ bông. Vải không dệt khâu đan được s
ản xuất
bằng cách gắn kết hai hệ sợi sợi dọc và sợi ngang đặt chồng lên nhau bằng hệ
sợi thứ ba nhờ sử dụng đường may ziczắc một chỉ. Đệm xơ của vải có thể được
gắn kết bởi kiểu dệt kim đan dọc đơn và dệt đơn đan dọc kép. Loại vải này bền
và có độ xốp lớn, tính giữ nhiệ
t tốt rất thích hợp để làm lót giầy đi mùa đông.
Ngành sản xuất vải không dệt phát triển rất mạnh bởi vì ngành này sử
dụng nguyên liệu xơ cấp thấp và phế liệu trong sản xuất, trang thiết bị có năng
suất cao và diện tích nhà xưởng ít. Ngoài những yếu tố kể trên thì yếu tố quyết
định vẫn là loại vải này có giá thành thấp hơn so với các loại vải khác. Ngày nay
người ta s
ử dụng nhiều loại vải không dệt mới được sản xuất từ các chất chống
được tác dụng của vi khuẩn và có lớp màng dẻo để dán với các chi tiết mũ giày,
đế giày. Các vật liệu này đảm bảo không tạo thành môi trường vi khuẩn và nấm
mốc trên bề mặt bên trong của mũ giày, duy trì độ thẩm thầu không khí và thấm
hút mồ hôi cần thiết của giày.
Vải không dệt ngày càng được sử d
ụng nhiều để lể làm lót mũ giày, đặc
biệt là các loại vải không dệt mới như Camprrela (hình 8) có khả năng thông hơi
tốt nhưng có độ kháng thấm nước cao phù hợp cho các loại giày yêu cầu có tính
bảo vệ khỏi nước.
Vải không dệt Cambrella là loại vải được làm từ 100% polypropylene
(PP), có khối lượng từ 15 - 260 g/m2; khổ rộng đến 3,2 m, được sản xuất theo
phương pháp ép –gia nhiệt. Đây là loại v

1 Độ bền xé N
≥ 30 N đối với da
≥ 15 N đối với vải tráng phủ và
vải
2
Độ bền mài mòn
khô
ướt
Chu kỳ

25.600
12.800
3 Độ thông hơi
mg/cm
2
.
h
≥ 2,0
4 Hệ số thông hơi mg/cm
2

≥ 20
5 Độ pH (đối với da)
≥ 4
6
Hàm lượng CrVI (đối với
da)
ppm ≤ 10
1.6.2.1.3. Vật liệu làm chi tiết tăng cường và yêu cầu đối với chúng
Mã số: 201.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy

và pho mũi có độ rắng cứng cần thiết và duy trình hình dạng pho gót trong quá
trình sử dụng. Tuy nhiên yếu điểm của loại pho này là tính đàn h
ồi kém pho gót
làm từ da thuộc.
Để sản xuất giày người ta còn sử dụng pho nhựa PVC. Pho gót được sản
xuất ở dạng đúc thành pho gót thành phẩm. Trong quá trình sản xuất giày, pho
gót được gia nhiệt trở lên mềm, được định hình thao hình dạng phần gót phom,
sau khi làm nguội trở lên cứng và day trì hình dạng pho gót trong quá trình sử
dụng. Tuy nhiên loại pho này có giá thành cao, phải bổ sung công đoạn định
hình pho trong quá trình sản xuất.
Mã số: 201.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 201.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011. “Nghiên cứu
quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường” - CN. Đào Vĩnh Sơn
19
1.6.2.2. Vật liệu làm phần đế giày và yêu cầu đối với chúng
1.6.2.2.1. Vật liệu làm đế ngoài của giày (sau đây gọi là đế giày)
Các chi tiết phần đế nằm giữa bàn chân và bề mặt tiếp xúc. Chúng chịu
tác động lớn nhất trong quá trình sử dụng giày.
Ở các cấu trúc giày bình thường, đế giày thực hiện công việc tương đối
lớn. Nó bị mài mòn và uốn cong nhiều lần. Bán kính độ cong bẻ uốn của đế
thường là 4 – 8 cm, tuỳ thuộc vào cấu trúc và tính chất cơ lý của vật liệu làm
phần đế giày, mà chủ yếu là độ dày và độ
cứng của chúng. Độ giãn tương đối
trên bề mặt của đế da khi bị uốn cong đạt khoảng 16 %, ở đế cao su có độ dày
lớn và bề mặt có hình nổi (hoa văn) độ giãn tương đối theo bề mặt tựa đạt tới 25
%. Tuỳ thuộc vào cấu tạo phần mũi bàn chân và kiểu đi của người sử dụng mà
lớp ngoài của đế chịu áp lực riêng khác nhau. Ở các trường h
ợp riêng biệt, áp
suất riêng đạt tới 10
6

Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 201.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011. “Nghiên cứu
quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường” - CN. Đào Vĩnh Sơn
20
- Có thể sử dụng nhiều phương pháp ráp đế khác nhau như dán, khâu, vít,
dùng đinh hoặc kết hợp các phương pháp;
- Độ lão hóa chậm hơn nhiều so với PU;
- Giá thành thấp, công nghệ sản xuất đơn giản và dễ thay đổi thành phần
hóa chất;
- Độ mềm dẻo cao, nên tạo độ mềm uốn cho phần đế giày.
Đế kết hợp cao su và EVA được sử dụng nhiều để làm giầy cho bệnh
nhân tiểu
đường vì kết hợp được mặt mạnh của hai loại vật liệu này làm cho đế
giày vừa bền, vừa nhẹ và êm xốp, có thể chế tạo nhiều loại đế khác nhau, đặc
biệt là đế giày theo bàn chân bệnh nhân với chi phí hợp lý.
Để làm giầy cho bệnh nhân tiểu đường yêu cầu đế giầy phải đảm bảo độ
chống trượt, tính bảo vệ và độ mềm dẻo, đồng thờ
i phải nhẹ và êm xốp. Có thể
sử dụng cấu trúc đế liền gót hoặc đế giầy có gót rời.
1.6.2.2.2. Vật liệu làm đế trong và yêu cầu đối với chúng
Đế trong là chi tiết có vai trò quan trọng trong quá trình gò ráp mũ giày
với đế giày, góp phần đảm bảo tính vệ sinh cho giày. Yêu cầu đối với vật liệu
làm đế trong phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp ráp đế. Ví dụ đối với phương
pháp dùng đinh vít, phương pháp khâu, đế trong cần có yêu cầu cao hơn đối với
phương pháp dán. Khi sử dụng phương pháp khâu riễu, đế trong phải có bệ riễu
chắc chắn. Đế trong cũng phả
i chịu tác động nén và uốn cong lặp lại ở phần
khớp ngón như đế giày khi bàn chân cử động (khi đi lại). Sự mài mòn của đế
trong khác sự mài mòn của đế ngoài ở chỗ nó bị bàn chân tác động lên trước
tiên, và bàn chân thường mang tất bị làm ẩm bởi mồ hôi.
Để làm đế trong người ta thường sử dụng các vật liệu: da thuộc, cacton,

để may với chân gò mũ giầy và định hình cưỡng bức. Trong các trường hợp này
có thể sử dụng vải dệt thoi hoặc da thuộc để làm lót tẩy.
1.6.2.2.3. Vật liệu làm lót giầy
Lót giầy là chi tiết rất quan trọng của giầy cho bệnh nhân tiểu đường, có
tác dụng giảm chấn cho bàn chân, phần bố đều áp lực lên lòng bàn chân, giữ vệ
sinh cho bàn chân. Ở các loại giày da thông thường, lót mặt thường được làm từ
lớp da mỏng (0,8 - 1 mm) sử dụng làm lót mũ giày. Đối với giày cho bệnh nhân
tiểu đường sử dụng các loại vật liệu sau:
- Da thuộc: Tương tự như ở giày da, người ta có thể sử
dụng lớp da làm
lót mũ giày bảo vệ để làm lót mặt và dán trực tiếp lên bề mặt đế trong. Tuy
nhiên phương án này thường không hợp lý từ góc độ tính vệ sinh của giày, do
lót mặt có tính giảm chấn, tính hút ẩm, nhả ẩm kém, hạn chế đế trong hút ẩm,
thải ẩm, khó vệ sinh. Do vậy người ta sử dụng da thuộc dạng này để làm lót mặt
đa lớp (lớp da ở bên trên, lớp vật liệu đệm và l
ớp vật liệu lót bên dưới) và lót
mặt không dán với đế trong mà được đặt vào trong giày.
Người ta có thể sử dụng da cứng dày như da dùng làm đế trong để làm lót
mặt một lớp. Lót mặt làm từ loại da này có các tính chất cơ lý và vệ sinh tốt: bền
mài mòn khô và ướt, mềm mại khi hút ẩm, hút ẩm tốt nhưng không ướt bề mặt,
thải ẩm tốt. Loại lót mặt này được cắt thành chi tiết và đặt vào trong giày. Để
tăng tính vệ sinh của giày có thể xử lý kháng khuẩn cho loại da này để giảm mùi
hôi cho giày.
- Lót giầy có kết cấu vật liệu từ các tổ hợp vải dệt kim hoặc dệt thoi (vải
làm lót mũ giày) kết hợp với EVA dày 3 - 4 mm để làm lót giày. Loại lót này có
tính giảm chấn tốt (êm) nhưng có tính vệ sinh kém do EVA hút ẩm kém, mặt
Mã số: 201.11.RD/HĐ-KHCN Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Đề tài được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng số 201.11/RD/HĐ-KHCN ngày 05 tháng 05 năm 2011. “Nghiên cứu
quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường” - CN. Đào Vĩnh Sơn
22

2.1.1. Cấu trúc giày
Giày nói chung, giày cho bệnh nhân tiểu đường nói riêng đều được kết
cấu từ 2 phần [26]: Phần mũ giày và phần đế giày. Mỗi phần thường được cấu
trúc từ 3 lớp chi tiết: lớp chi tiết bên ngoài, lớp chi tiết lót và lớp chi tiết tăng
cường. Cụ thể về các chi tiết giày được thể hiện trong hình 11.

Hình 11. Các chi tiết giày có cấu trúc thông thường
1. Mũ giày
2. Pho mũi
3. Đế cứng
4. Riễu tăng cường
5. Đế giày
6. Đế trung gian - Các chi tiết bên ngoài của mũ giày bao gồm chóp mũi 1 (hình 12), lắc 2,
má 3, lưỡi 4, hậu (đáp hậu) 5, ba ghết ngoài 6, bọc gót 7, ống ủng 8, viền chi
tiết, đệm đường may, các chi tiết trang trí và tăng cường, các chi tiết giữ giày
trên bàn chân. Hình 12. Các chi tiết bên ngoài
của giày cổ lửng (a), giày mõm
nhái (b), ủng (c): 1– chóp mũi;
2 – lắc; 3 – má giày; 4 – lưỡi; 5
– hậu; 6 – ba ghết ngoài; 7 –
bọc gót; 8 – ống ủng;
9 – lắc ủng.

- Các chi tiết lót tiếp xúc trực tiếp với bàn chân. Chúng bao gồm lót lắc 1

Ở đa số các cấu trúc giày, trừ cấu trúc ủng, để thuận tiện cho việc đi giày
(xỏ giầy) và cố định nó trên bàn chân, thường có các chi tiết làm bằng kim loại
hoặc chất dẻo (khoá cài, cúc bấm, khoá kéo v.v.). Các chi tiết này cho phép mở
rộng má và quai khi xỏ chân vào giày và sau đó cố định chắc giày trên bàn chân.
Ngoài ra, các cấu trúc giày này còn tạo thuận lợi cho cho việc điều chỉnh giày
cho v
ừa chân.
Ở một số cấu trúc, giày được cố định trên bàn chân nhờ vải chun co dãn
(cao su co giãn) may giữa các chi tiết phần mũ giày. Khi bị kéo giãn, vải chun sẽ
tạo thuận lợi cho việc xỏ chân vào giầy, và sẽ ôm chặt lấy bàn chân trong thời
gian sử dụng. Ngoài ra còn sử dụng cấu trúc cúc bấn, dây nhám "velcro" v.v.
Các chi tiết ngoài của phần đế gồm có đế 1 (hình 16), đế lửng 2, gót 3,
phủ gót có hình dạng bề mặt phủ gót của gót, riễu trang trí 4, ri
ễu 5.
Các chi tiết bên trong có đế trong 6, và lót mặt che phủ bề mặt bên trên
của đế trong.
Các chi tiết độn nằm giữa các chi tiết bên ngoài và bên trong và bao gồm
đế trung gian có hình dạng của đế giày, độn mũi 7, độn cứng 8, đế trong lửng 9
và thập cam 10 v.v.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status