BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG VỪNG MỚI
BẰNG PHƯƠNG PHÁP LAI HỮU TÍNH
Mã số đề tài: 198.RD/2009/HĐ-KHCN
Chủ trì thực hiện: KS. Nguyễn Thị Hoài Trâm
Thực hiện theo Hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ
sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
số 198.RD/HĐ-KHCN ngày 16/03/2009 giữa
Bộ Công Thương và Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu
Chủ trì thực hiện: KS. Nguyễn Thị Hoài Trâm
Tham gia thực hiện: KS. Tạ Hùng
KS. Trần Ngọc Thông
KS. Lương Hiệp
KTV. Đinh Viết Toản
TP. Hồ Chí Minh, tháng 12/ 2011
ii
LỜI NÓI ĐẦU
Cây vừng là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng
cao và được biết đến như là một loài cây lấy hạt có dầu quan trọng và lâu đời nhất trên
thế giới, hạt vừng có hàm lượng dầu và protein cao. Bên cạnh đó cây vừng còn có giá
trị dinh dưỡng, sinh lý học và dầu vừng có tính oxy hóa cao nên khó bị ôi so với các
loại dầu khác. Cây vừng có lợi thế hơn so với các loại cây trồng khác do dễ trồng, có
MỤC LỤC
Mục trang
LỜI NÓI ĐẦU ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH CÁC BẢNG v
KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT vi
TÓM TẮT ĐỀ TÀI vii
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1. Tình hình nghiên cứu vừng trong nước 2
1.2. Tình hình nghiên cứu vừng ngoài nước 4
CHƯƠNG 2. THỰC NGHI
ỆM 6
2.1 Nội dung nghiên cứu 6
2.2 Phương pháp nghiên cứu 6
2.2.1 Năm 2009 6
2.2.2 Năm 2010 7
2.2.3 Năm 2011 7
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 9
3.1 Kết quả thực hiện năm 2011 9
3.1.1 Đánh giá các dòng thế hệ F5 và so sánh sơ bộ các dòng ưu tú chọn từ các
quần thể lai 9
3.1.2 So sánh chính quy các dòng ưu tú 12
3.1.3 Kh
ảo nghiệm cơ bản các giống triển 15
3.1.3.1 Khảo nghiệm cơ bản 2 giống triển vọng tại Cần Thơ và Tây Ninh 15
3.1.3.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa các giống thí nghiệm 16
3.2 Kết quả thực hiện 3 năm 2009 - 2011 17
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc tính nông sinh học của các dòng vừng 10
Bảng 3.2 Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng vừng thế hệ F5 và chọn lọc tự nhiên11
Bảng 3.3 Đặc tính nông sinh học của các dòng vừng ưu tú vụ XH - HT 2011 12
Bảng 3.4 Các yếu tố cấu thành năng suất các dòng vừng ưu tú vụ XH - HT 2011 13
Bảng 3.5 Năng suất của các dòng vừng ưu tú vụ XH - HT 2011 14
Bảng 3.6 Đặc tính nông sinh học của hai dòng vừng triển vọ
ng 15
Bảng 3.7 Các yếu tố cấu thành năng suất của hai dòng vừng triển vọng 16
Bảng 3.8 Sơ bộ tính toán chi phí đầu tư cho 1 ha vừng của 3 giống vừng thí 17
Bảng 3.9 Sơ bộ tính toán so sánh hiệu quả kinh tế của 3 giống thí nghiệm 17
Bảng 3.10 Các chỉ tiêu nông sinh học của các giống vừng được trồng vụ hè thu năm 2009 tại
Gò Dầu – Tây Ninh 18
Bảng 3.11 Các yếu tố cấu thành năng suất củ
a các giống vừng trồng vụ hè thu năm 2009 tại
Gò Dầu – Tây Ninh 19
Bảng 3.12 Kết quả phân tích hàm lượng dầu, protein và thành phần axit béo của các
dòng/giống vừng 21
Bảng 3.13 Đánh giá các đặc tính nông sinh học của các giống bố mẹ 22
Bảng 3.14 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống bố mẹ 23
Bảng 3.15 Một số chỉ tiêu ghi nhận được trong quá trình lai vừng 23
Bảng 3.16 Một số chỉ tiêu nông sinh học c
ủa tổ hợp lai thế hệ F1 vụ thu đông 2009 24
Bảng 3.17 Các yếu tố cấu thành năng suất của tổ hợp F1 26
Bảng 3.18 Chỉ tiêu nông sinh học của 20 cá thể ưu tú F2 vụ Đông Xuân 2009-2010 27
Bảng 3.19 Các yếu tố cấu thành năng suất của các cá thể ưu tú ở thế hệ F2 28
Bảng 3.20 Chỉ tiêu nông sinh học của 20 cá thể ưu tú F 3 vụ Xuân Hè 2010 29
Bảng 3.21 Các yếu tố cấu thành năng su
ất của 20 cá thể ưu tú thế hệ F3 vụ Xuân Hè 2010 30
KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT CCC Chiều cao cây
CCĐQ Chiều cao đóng quả
H
2
Hệ số di truyền nghĩa rộng
h
2
Hệ số di truyền nghĩa hẹp
h
p
Độ trội
HB Ưu thế lai tuyệt đối
KNPH Khả năng phối hợp
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
P 1000 hạt Trọng lượng 1000 hạt
SH Ưu thế lai chuẩn
TBNS Trung bình năng suất
TGRH Thời gian ra hoa
TGST Thời gian sinh trưởng
vii
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống vừng (Sesamum indicum L.) mới bằng
phương pháp lai hữu tính” đã được tiến hành tại ấp Phước Hội, xã Phước Thạnh,
huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh từ tháng 01 năm 2009 đến tháng 12 năm 2011. Mục tiêu
của đề tài là tạo dòng/giống vừng triển vọng năng suất cao (1,3-1,5 tấn/ha) và chất
VDM 9, VDM 14, VDM 18, VDM 21, VDM 22. Các dòng chọn lọc được trong năm
2010 sẽ tiếp tục được nhân rộng tại các vùng như: Long An, Đồng Tháp, Cần Thơ.
Kết quả đạt được năm 2011:
* So sánh sơ bộ và so sánh chính quy
- Chọn lọc được 7 dòng ưu tú VDM 2010-1-D82-3, VDM 2010-1-D35-12,
VDM 2010-2-D70-3, VDM 2010-2-D70-4, VDM 2010-2-D19-6, VDM 2010-2-D19-
9, VDM 2010-2-D62-19 có tiềm năng năng suất, hàm lượng dầu cao trong đó:
Về năng suất
Dòng VDM2010-1-D82-3 đạt số quả nhiều nhất, năng suất thực thu đạt cao
nhất 1440kg/ha, vượt năng suất giống đối chứng 17,5 % theo năng suất thực thu.
viii
Về hàm lượng dầu
Dòng VDM2010-1-D82-3 có hàm lượng dầu cao so với giống đối chứng và các
dòng còn lại.
- Ngoài ra, đề tài lai tạo thu được 100 cá thể tốt về năng suất, hàm lượng dầu,
chống chịu sâu bệnh để để tiến hành chọn tạo giống trong những năm tiếp theo.
* Chọn lọc giống bằng nguồn vật liệu tự nhiên
- Chọn được 2 giống (VDM 3, VDM 18) có năng suất và hàm lượng d
ầu cao, trong đó
giống VDM 3 có năng suất cao hơn 11,2% so với giống đối chứng V6 và hiệu quả
kinh tế đạt được từ 26.576.000 – 29.096.000 đồng. VDM 18 năng suất đạt cao hơn
7,3% so với giống V6 và hiệu quả kinh tế đạt được từ 2.006.000 – 27.596.000 đồng
tại Cần Thơ và Tây Ninh.
1.2 Mục tiêu
- Tạo dòng/giống vừng triển vọng năng suất cao (1,3 – 1,5 tấn/ha) và chất lượng tốt
(hàm lượng dầu 48 – 50%), chống ch
ịu sâu bệnh, phù hợp điều kiện sinh thái các tỉnh
phía Nam, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người trồng vừng.
- Phát hiện một số dòng giống vừng có đặc tính tốt có thể làm vật liệu lai tạo cho các
chương trình chọn giống khác.
2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu vừng trong nước
Ở Việt Nam, đất đai khí hậu rất thích hợp cho cây vừng sinh trưởng, phát triển
và thực tế cũng cho thấy vừng có thể trồng ở khắp các vùng sinh thái trong cả nước, có
khả năng thích ứng rộng, dễ trồng và đầu tư sản xuất cây vừng cũng không nhiều.
Ngày nay, cây vừng được đưa vào mô hình trồng xen, luân canh với một số cây trồng
khác. Tuy nhiên do không được xem là cây trồng chính nên hình thức canh tác ch
ưa
được chú trọng dẫn đến năng suất thấp. Việc đầu tư nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật trong sản xuất vừng vẫn chưa được quan tâm nhiều. Cây vừng được trồng nhiều
chủ yếu ở 5 tỉnh : Nghệ An, Bình Thuận, Tây Ninh, An Giang và Đồng Tháp.
Về diện tích: Từ năm 2006 đến năm 2009 diện tích gieo trồng vừng giảm không
có chiều hướng tă
ng. Năm 2009 cả nước gieo trồng được 46.000 ha, giảm 6.800 ha so
với năm 2005.
Về năng suất: Nhìn chung năng suất bình quân của cả nước ở mức thấp, đạt
0,52 tấn/ha (2009) không tăng so với năm 2005 (0,52 tấn/ha). Giữa các năm năng suất
bình quân biến động không nhiều, vẫn ở mức thấp.
Về sản lượng: Tổng sản lượng năm 2009 là 24.000 tấn giảm 3.400 tấn so với
n
Theo Phan Văn Vinh (1998), kết quả qua thí nghiệm 6 giống vừ
ng Nhật (hạt
trắng), Trung Quốc (hạt đen), Địa phương (hạt đen), Trung Quốc (hạt đen), Nghệ An
3
(hạt vàng), V36 Nhật (hạt đen) cho thấy giống vừng Nghệ An và vừng Trung quốc cho
năng suất cao nhất.
Viện Khoa học Kỹ Thuật nông nghiệp Việt Nam và Trường Đại Học Nông
Nghiệp 1 Hà Nội (2005) đã nghiên cứu, chọn tạo và phục tráng giống vừng đen VĐ10
từ giống vừng đen ở xã Minh Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá. Giống có năng suất
trung bình đạt 11,2 t
ạ/ha, có khả năng chống chịu với một số đối tượng dịch hại như
sâu ăn lá, bệnh thối thân và chống đổ ngã tốt.
Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (2002),
giống V6 có khả năng thích ứng rộng ở các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước.
Khi canh tác trên vùng đất cát ven biển Nghệ An, giống V6 có hàm lượng chất
béo cao hơn và chỉ số acid tự do thấp hơn so vớ
i 2 giống vừng địa phương. Hàm
lượng acid amin toàn phần trong hạt của giống vừng V6 tương đương với giống vừng
vàng và cao hơn so với giống vừng đen. Tỷ lệ các loại acid amin trong protein hạt
của ba giống vừng nghiên cứu là tương tự nhau, chiếm tỷ lệ cao nhất là acid
glutamic, thấp nhất là histidin (Lê Quang Vượng và ctv 2005).
Đoàn Phạm Ngọc Ngà (2007) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tia bức xạ gamma
(Co60) trên vừ
ng đen (giống vừng đen Tây Ninh) qua 2 thế hệ. Trong thế hệ đầu, sau
khi chiếu tia bức xạ, cây vừng đen xuất hiện nhiều biến dị như chẻ nhánh và ngọn,
nhiều quả. Trong cả 2 thế hệ, các biến dị chẻ nhánh nhiều quả và thấp cây thường
xuất hiện cùng nhau, có triển vọng giúp gia tăng năng suất hạt thô (6,4 – 10,4%)
nhưng không giảm hàm lượng và chất lượng dầu có trong h
ạt vừng.
chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Các nghiên cứu về giống vừ
ng trước đây chủ yếu tập
4
trung theo hướng nhập nội, tuyển chọn giống và thu thập, bình tuyển giống địa
phương, do vậy năng suất các giống vừng đưa vào sản xuất thường chưa cao và không
ổn định, khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái không cao, đặc biệt là vùng sinh
thái có đất xám bạc màu ảnh hưởng đến năng suất và làm năng suất giảm nghiêm
trọng. Chọn tạo giống vừng bằng phươ
ng pháp lai hữu tính là phương pháp mới sẽ
khắc phục những nhược điểm của các phương pháp nói trên.
Nguyên nhân thứ hai là các nghiên cứu về giống vừng ở nước ta còn rất hạn
chế, vì từ lâu vừng chưa được xem là cây trồng chính, giống vừng ít được bổ sung
mới, bên cạnh đó các tiến bộ kỹ thuật ít được áp dụng triển khai, hiện tại người nông
dân trồng vừng đang gặ
p phải các vấn đề cần được giải quyết: Giống kém chất lượng,
cây ít nhánh, phân li mạnh, số lượng quả ít, quả nhỏ, ra hoa không tập trung và dạng
hình không đồng nhất, nên năng suất thấp và sâu bệnh nhiều. Hiện tại dựa vào màu sắc
hạt và nơi xuất xứ có thể chia các giống vừng ở các tỉnh phía Nam thành 3 loại bao
gồm: i) vừng vàng đặc tính dễ đổ ngả, có hai vỏ, năm múi, hạt màu vàng, n
ăng suất
thấp. ii) Vừng trắng, không ra nhánh, nhiều quả, sinh trưởng mạnh, quả 4 múi, 1 vỏ, vỏ
màu trắng, hàm lượng dầu khá (48-50%) và iii) vừng đen có hạt chắc, chịu hạn và
kháng sâu bệnh khá, ra nhánh nhiều, thời gian sinh trưởng 75-80 ngày, có hai vỏ, màu
đen.
Đề tài được áp dụng cho các tỉnh Đông Nam Bộ, trồng xen hay luân canh mùa
vụ giữa các giống như (lạc, đậu tương, bắp, lúa….). Ngoài ra có bộ giống vừng mới có
năng suất và hàm l
ượng dầu cao phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương.
1.2. Tình hình nghiên cứu vừng ngoài nước
cáo của (Brigham 1985) năng suất vừng trong các ô thí nghiệm nhỏ ở Texas có thể đạt
2250 kg/ha.
Năng suất vừng còn phụ thuộc vào giống, năm 1985 ở M
ỹ giống vừng BACCO
được đưa vào sản xuất, loại giống này thường bị nứt vỏ khi gần chín. Các giống có
năng suất cao chống nứt vỏ ở Mỹ như 'S-17', 'S-23', 'S-24', 'S-25'. Có trên 85% diện
tích vừng ở Mỹ trồng luân canh với bông vải và những cây trồng khác. Cũng có khi
vừng được trồng ngay sau khi thu hoạch lúa mì.
Vừng có thể trồng trong điều kiện nhiệt độ 20
o
C hoặc cao hơn. Hạt vừng
thường gieo nông vậy nên phải có kỹ thuật tưới, làm đất phù hợp để không gây cho hạt
5
nổi trên mặt đất hoặc cây bị đổ ngả (Smith, 1999), điều này còn có ý nghĩa trong việc
áp dụng biện pháp cơ giới hóa trong thu hoạch.
Để có giống vừng năng suất và hàm lượng dầu cao, phù hợp với điều kiện sinh
thái, các nghiên cứu trên thế giới rất quan tâm đến công tác chọn tạo giống vừng. Có
nhiều phương pháp chọn tạo giống vừng đã áp dụng khá thành công:
- Chọn tạo dòng thu
ần, phục tráng từ các giống vừng địa phương hoặc giống
vừng phổ biến
- Lai hữu tính
- Áp dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống vừng
Trong các phương pháp chọn tạo giống thì lai hữu tính là biện pháp lâu đời và
thể hiện nhiều ưu điểm nhất. Con lai sẽ biểu hiện những đặc tính tốt của giống bố, mẹ
và đào thải các tính trạng xấ
u thông qua phương pháp chọn lọc qua các thế hệ. Lai hữu
tính còn thể hiện đặc tính tốt vượt trội hơn giống bố mẹ thông qua ảnh hưởng tương
tác gen. Và ưu điểm quan trọng hơn cả đó là lai hữu tính biểu hiện tính đa dạng sinh
Bayoumi và ctv (2007) phân tích di truyền đối với các tính trạng mang tính
định tính và khả năng kháng bệnh héo r
ũ do nấm Fusarium gây ra trên cây vừng. Kết
quả cho thấy giống Toshka-3, và Mutant-8 có khả năng phối hợp chung cao. Các tổ
hợp lai Toshka-1/Giza 32, Toshka-2/Giza 32, Toshka-3/Local Sharkia và Giza
32/Local Sharkia có con lai F1 kháng bệnh tốt với bệnh héo rũ và chịu tác động của
các gen phi cộng tính. Hệ số di truyền cao đối với hầu hết các tính trạng (từ 0,13 –
0,65).
6
CHƯƠNG 2. THỰC NGHIỆM
2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Năm 2009:
- Thu thập các mẫu giống vừng làm vật liệu khởi đầu
- So sánh, chọn giống bố mẹ
- Chọn tạo giống mới bằng phương pháp lai hữu tính.
- Đánh giá các dòng/giống đã tuyển chọn
2.1.2 Năm 2010:
- Chọn lọc dòng thuần qua các thế hệ F2, F3, F4
- So sánh sơ bộ các dòng được chọn lọc từ nguồn vật liệu tự nhiên
2.1.3 Năm 2011:
-
Đánh giá các dòng thế hệ F5 và so sánh sơ bộ các dòng ưu tú chọn từ các quần thể lai
- So sánh chính quy các dòng ưu tú
- Khảo nghiệm cơ bản các giống triển vọng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Năm 2009:
- Thu thập các mẫu giống vừng làm vật liệu khởi đầu
7
Năng suất hạt (kg/ha): Thu năng suất hạt trên cả ô, phơi khô và tính khối lượng
qui đổi (kg/ha).
Xác định thế hệ lai F1 của các chỉ tiêu nông sinh học và đánh giá thế hệ lai F1
Hàm lượng dầu (%): phân tích hàm lượng dầu theo phương pháp thử nhanh
(máy Minispect – MQ 10 NMR Analyzer)
Năng suất dầu (kg/ha): năng suất hạt x hàm lượng dầu.
Hàm lượng các axit béo và Protein trong dầu: phân tích theo phương pháp
AOAC 987.04-1997 cho chỉ tiêu protein, axit béo AOAC 871.01-1997.
Xử lý số liệu bằng phương pháp MSTATC, IRISTAT và Excel
- Chọ
n tạo giống mới bằng phương pháp lai hữu tính.
* Vật liệu nghiên cứu: 9 giống (5 giống bố, 4 giống mẹ) có năng suất và hàm lượng
dầu cao để lai tạo.
* Phương pháp nghiên cứu: Thí nghiệm được bố trí tại nhà lưới Trạm Bình Thạnh, lai
theo phương pháp lai đỉnh (topcross) để tạo ra tổ hợp lai có 20 tổ hợp.
Thời gian trồng: vụ Hè Thu 2009.
* Chỉ tiêu theo dõi: (tương tự chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm so sánh chọn giống b
ố, mẹ).
- Đánh giá các dòng/giống đã tuyển chọn
* Vật liệu nghiên cứu: các cá thể lai thế hệ F1.
* Phương pháp nghiên cứu: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn
ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design) đơn yếu tố, 3 lần lặp lại, lấy giống
V6 làm đối chứng.
* Chỉ tiêu theo dõi: (tương tự chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm so sánh chọn giống bố, mẹ).
2.2.2 Năm 2010:
- Chọn lọc dòng thuầ
n qua các thế hệ F2, F3, F4
* Vật liệu nghiên cứu: cá thể chọn lọc qua các thế hệ lai
* Phương pháp nghiên cứu: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn
ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design) đơn yếu tố, 3 lần lặp lại, lấy giống
V6 làm đối chứng.
Diện tích ô thí nghiệm 100 m
2
Thời gian trồng: Vụ Thu Đông 2011 tại Cần Thơ, Tây Ninh
* Chỉ tiêu theo dõi: (tương tự chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm so sánh chọn giống bố, mẹ).
- Khảo nghiệm cơ bản các giống triển vọng
* Vật liệu nghiên cứu: di truyền của các thế hệ theo phương pháp so sánh phương sai
của các dòng chọn và dòng thuần. Giống V6 làm đối chứng.
* Phương pháp nghiên cứu: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ng
ẫu nhiên
(Randomized Complete Block Design) đơn yếu tố 4 lần lặp lại.
* Chỉ tiêu theo dõi: (tương tự chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm so sánh chọn giống bố, mẹ).
* Biện pháp kỹ thuật áp dụng
- Mật độ: 30 cây/m
2
, khoảng cách trồng: 30 cm x 10 cm, 1cây/hốc.
- Công thức phân bón áp dụng cho 1 ha: phân chuồng 2,5 tấn; 100 kg N: 60 kg
P
2
O
5
: 60kg K
2
O; chia thành 2 lần bón:
Bón lót theo hàng toàn bộ phân chuồng và lân + 50% lượng đạm và 50% lượng
kali.
giống
VDM 14, VDM 2010-2-19-9, có thời gian sinh trưởng dài nhất. Thời gian sinh
trưởng của các giống thí nghiệm không có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê.
Chiều cao cây là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng đáp ứng với điều kiện
của giống, có liên quan đến đặc tính của giống, kỹ thuật canh tác và mùa vụ. Chiều cao
cây ảnh hưởng đến số lượng quả trên cây. Tùy vào điều kiện ban đầu mà chiều cao cây
giữ
a các giống đạt được tại từng thời điểm theo dõi có biểu hiện khác nhau.
Tuy nhiên, cùng một điều kiện canh tác thì sự khác biệt về chiều cao của các
nghiệm thức chủ yếu là do giống quyết định. Chiều cao cây của các giống vừng thí
nghiệm được trình bày ở bảng 3.1 có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê và biến
động từ 88,8 cm đến 138,9 cm. Trong đó thấp nhất là giống VDM 22 và có sự
khác
biệt có ý nghĩa so với các giống khác, cao nhất là giống
VDM 2010-1-106-7 và không
có sự khác biệt với giống đối chứng.
10
Bảng 3.1 Đặc tính nông sinh học của các dòng vừng
S
T
T
Dòng
Tỷ lệ nảy
mầm (%)
TGRH
(ngày)
TGST
(ngày)
Chiều
119,7 33,3
5
VDM 2010-1-106-7 100 29
72,3
138,9
37,2
6
VDM 2010-1-47-9 100 29
73,3
130,5 43,7
7
VDM 2010-1-106-10 100 28
71,0
134,4
42,0
8
VDM 2010-1-106-12 100 28
70,3
114,1
40,4
14
VDM 2010-2-128-5 100 28
68,7
114,7
37,6
15
VDM 2010-2-81-6 100 28
72,0
128,3 42,7
16
VDM 2010-2-128-7 100 29
70,3
123,6 40,8
17
VDM 2010-2-81-8 100 28
72,0
128,1
39,4
18
VDM 2010-2-19-9 100 28
106,2
36,5
23
VDM 9 100 28
71,7
131,9
38,7
24
VDM 14 100 28
78,0
121,1 38,9
25
VDM 18 100 28
75,3
104,0
36,4
26
VDM 21 100 28
75,3
Số quả trên cây là một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng suất vừng.
Trong bảng 3.2 giữa các nghiệm thức có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức
0,05. Số quả trên cây biến động từ 35,5 quả đến 71,7 quả
trong đó số quả cao nhất là dòng
VDM2010-1-82-3 thấp nhất VDM2010-2-81-6.
11
Năng suất thực tế của các giống đạt từ 1112 – 1503 kg/ha và sự khác biệt giữa
các giống có ý nghĩa ở mức 0,05 về mặt thống kê. Giống VDM 3 đạt năng suất thực tế
cao nhất, cao hơn 174 kg so với giống V6 (Đ/C).
Bảng 3.2 Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng vừng thế hệ F5 và chọn lọc
tự nhiên
S
T
T
Dòng
Khối
lượng
1000 hạt
(g)
Số
quả/cây
Năng suất
(kg/ha)
Hàm lượng dầu
(%)
1
VDM 2010-1-61-2
3,01
41,6
1205
52,2
5
VDM 2010-1-106-7
2,65
56,7
1359
54,7
6
VDM 2010-1-47-9
2,99
44,4
1369
50,6
7
VDM 2010-1-106-10
2,58
VDM 2010-2-70-3 3,19
52,5
1382
54,0
12
VDM 2010-2-70-4 3,56 46,7
1478
54,2
13
VDM 2010-2-19-6 3,15
51,8
1463
54,4
14
VDM 2010-2-128-5 2,49 53,3
1290
53,1
15
VDM 2010-2-81-6 2,46
VDM 2010-2-62-14 3,20
66,0
1429
53,8
20
VDM 2010-2-62-19 3,17
58,7
1407
58,4
21
VDM 3 3,40 66,2
1503
56,0
22
VDM 8 2,51 47,2
1299
52,0
23
VDM 9 2,56 37,2
1329
55,4
CV (%) 18,83 20,58 33,07 -
Prob 0,05 0,03 0,04 -
* Kết quả thu được có 12 dòng/giống ưu tú gồm: VDM 2010-1-82-3, VDM 2010-1-
35-12, VDM 2010-2-70-3, VDM 2010-2-70-4,
VDM 2010-2-19-6, VDM 2010-2-19-9,
VDM 2010-2-62-14, VDM 2010-2-62-19, VDM 3, VDM 18, VDM 21, VDM 22
có số
quả/cây, năng suất thực tế và hàm lượng dầu cao hơn các dòng giống còn lại. Những
dòng/giống này sẽ được so sánh sơ bộ và chính quy vào vụ Xuân hè và Hè Thu 2011. 12
3.1.2 So sánh chính quy các dòng ưu tú
Thí nghiệm này so sánh 12 dòng/giống ưu tú được chọn từ thí nghiệm vụ Đông
xuân 2010 – 2011 với giống đối chứng V6 ở vụ Xuân Hè và Hè Thu năm 2011, kết
quả được ghi nhận:
Ngày ra hoa giữa các giống được tính khi 50% số cây trên ruộng ra hoa.
Ngày ra hoa của các giống biến động từ 25 (NSG) đến 28 (NSG). Tùy vào
giống và thời vụ gieo trồng mà có sự phân hóa hoa sớm hay muộn. Cây vừng là cây
công nghiệp ngắn ngày có chịu ảnh hưởng của quang kỳ ngày ngắ
n vì thế trong thời
gian thí nghiệm là đầu mùa mưa mây nhiều, cường độ nắng yếu là nguyên do vừng ra
hoa sớm. Trồng vừng trong điều kiện thuận lợi giống ra hoa sớm kết hợp với thời gian
ra hoa kéo dài là điều kiện làm tăng số quả, tăng khả năng cho năng suất cao.
76 126,0 34,6
3
VDM 2010-2-70-3 79 131,6 43,3
77 126,7 30,5
4
VDM 2010-2-70-4 79 112,3 41,3
75 122,9 27,4
5
VDM 2010-2-19-6 79 110,6 36,7
76 119,0 27,7
6
VDM 2010-2-19-9 79 119,7 36,3
76 125,0 25,1
7
VDM 2010-2-62-14 79 105,6 35,7
77 123,8 31,5
8
VDM 3 79 139,3 31,3
77 134,2 30,8
9
VDM 18 79 136,0 32,0
70 115,4 26,9
10
VDM 21 79 124,0 37,6
75 129,9 31,0
11
VDM2010-2-62-19 79 136,3 41,3
- - -
12
VDM 22 79 115,6 39,5
năng sinh trưởng, phát triển của cây. Điều kiện canh tác, khí hậu, đất đai, phân bón là
những yếu tố
tác động trực tiếp đến sự thay đổi chiều cao cây.
Chiều cao cây giữa các giống vừng tương đối ổn định, có chiều hướng tăng
chậm. Chiều cao thân cây vừng có thể biến động từ 60 – 120 cm (Tạ Quốc Tuấn,
2006), chiều cao cây của các giống thí nghiệm biến động từ 115,4 – 134,2 cm, trong
đó giống VDM 3 (134,2 cm) có chiều cao cây cao hơn các giống còn lại ở vụ Hè Thu.
Chiều cao đóng quả
Chiều cao
đóng quả đầu tiên là chỉ tiêu quan trọng liên quan đến đặc tính của
giống. Là chỉ tiêu đánh giá khả năng đáp ứng với điều kiện chịu nhập của giống.
Những quả ở vị trí thấp thường chín trước những quả ở phần ngọn chín sau cùng. Như
vậy khi cây vừng bước vào thời kỳ chín thì chỉ cho phép tồn tại một thời gian nhất
định trên đồng ru
ộng. Với những giống có quả nứt khi chín nếu để chín quá có thể làm
thất thoát một phần sản lượng. Và chính những lý do đó cần nghiên cứu các đặc tính
giống về khả năng không nứt vỏ khi chín và sự ứng dụng cơ giới hóa trong thu hoạch
Khoảng cách quả đầu tiên cách gốc phù hợp đủ để thanh cắt nằm phía dưới quả thấp
nhất cần được xác định cho việc sử
dụng cơ giới trong thu hoạch. Vị trí đóng quả đầu
tiên có ảnh hưởng đến số lượng quả trên cây, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất hạt.
Chiều cao đóng quả ở vụ Xuân Hè cao hơn vụ Hè Thu. Chiều cao đóng quả đầu tiên
của các giống thí nghiệm biến động từ 31,3 – 45,6 (cm) của vụ Xuân Hè và 24,1 –
34,6 (cm) ở vụ Hè Thu.
Bảng 3.4 Các yếu tố cấu thành nă
ng suất các dòng vừng ưu tú vụ XH - HT 2011
Xuân Hè
Hè Thu
S
Prob 0,28 0,02 0,40 0,51
14
Theo kết quả của Tạ Quốc Tuấn (2006) khối lượng 1000 hạt vừng biến động từ
2 - 4 (g), đối với giống V6 nhập từ Nhật Bản (1994) hạt to có khối lượng 1000 hạt
khoảng 3 (g). Khối lượng 1000 hạt giữa các giống thí nghiệm biến động từ 2,85 – 3,26
(g) ở vụ Xuân Hè, trong đó các giống VDM 3 (3,26 g), VDM2010-2-70-3 (3,07g),
VDM 18 (3,03g) có khối lượng 1000 hạt cao hơn so với giống V6 (Đ/c) đạt 3,01g
trong vụ Xuân Hè.
Giống và kỹ thuật canh tác có ảnh hưởng đến số quả trên cây, số hạt trên quả,
do đó tổng số quả trên cây có ảnh hưởng rất lớn tới năng suất hạt. Giống VDM 3 (63,0
- 51,0 quả/cây) có số quả cao hơn so với giống V6 (Đ/c) đạt 42,9 – 45,3 (quả/cây) ở
hai vụ Hè Thu và Xuân Hè.
Trong cùng mức đầu tư như nhau, gặp những yếu tố bất lợi như nhau thì giố
ng
tốt là giống cho thu hoạch tốt hơn, năng suất cao hơn so với các giống khác.
Năng suất thực thu của các giống thí nghiệm biến động từ 1270 – 1491 kg/ha
trong cả hai vụ trồng, trong đó giống VDM 3 (1491 kg/ha), VDM 18 (1450 kg/ha) có
năng suất thực thu vượt trội so với giống đối chứng V 6 đạt 1299 (kg/ha).
Bảng 3.5 Năng suất của các dòng vừng ưu tú vụ XH - HT 2011
Xuân Hè
Hè Thu
S
T
T
Dòng
Năng suất
(kg/ha)
Hàm
quả có hạt nằm ở phần gốc, những quả ở phần ngọn của thân chính thì có hàm lượng
dầu thấp hơn so với các quả nằm đoạn giữa thân chính. Ngoài ra hàm lượng dầu thấp
hay cao còn bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi nhiệt độ và lượng mưa khi dầu đang được
tổ
ng hợp trong cây. Tuy nhiên lượng dầu trong hạt vừng còn bị ảnh hưởng bởi các yếu
tố khác như ngày dài, cường độ chiếu sáng, ẩm độ, tốc độ gió chính sự tương tác
khác nhau giữa các yếu tố trên không thể trở thành một quy luật chung cho các giống.
Theo kết quả nghiên cứu phát triển giống vừng V6 của Viện Khoa Học Kỹ
thuật Nông nghiệp Việt Nam (2002) giống V6 có hàm lượng dầu (52 – 53%). Theo
15
Nguyễn Vy (2003), yêu cầu chất lượng vừng xuất khẩu dùng để ép dầu có hàm lượng
dầu tối thiểu 52%. Đối với kết quả phân tích hàm lượng dầu của các giống vừng thí
nghiệm biến động từ 52,7 – 58,5% trong vụ Hè Thu, 50,1 – 58,4 trong vụ Xuân Hè.
* Tóm lại: Qua kết quả nghiên cứu về các chỉ tiêu theo dõi cây vừng như trọng lượng
1000 hạt, số quả /cây, năng suất, hàm lượng dầu của các dòng/giống t
ừ năm 2009 –
2011, chọn được 7 dòng ưu tú VDM2010-1-82-3, VDM2010-1-35-12, VDM2010-2-
70-3, VDM2010-2-70-4, VDM2010-2-19-6, VDM2010-2-19-9, VDM2010-2-62-19 và
2 giống đáp ứng được mục tiêu của đề tài VDM 3, VDM 18.
3.1.3 Khảo nghiệm cơ bản các giống triển
3.1.3.1 Khảo nghiệm cơ bản 2 giống triển vọng tại Cần Thơ và Tây Ninh
Mục tiêu của thí nghiệm này là khảo nghiệm cơ bản tại Cần Thơ và Tây Ninh
hai giống VDM 3 và VDM 18, giống đối chứng là V6. Từ đó đánh giá hiệ
u quả kinh tế
cho hai giống vừng trên.
Ngày bắt đầu ra hoa giữa các giống biến thiên từ 29 đến 30 NSG. Nhìn chung
các giống ra hoa tương đối tập trung, thuận lợi cho việc thu hoạch, đảm bảo năng suất
ổn định. Những hoa hình thành trong 2 đến 3 tuần đầu từ khi bắt đầu ra hoa là những
cao đóng
quả (cm)
1
VDM 3
29
78
137 37,3
28 75 126,6
21,7
2
VDM 18
30
79
135 31,0
30 77 123,7 22,5
3 V6 (Đ/C) 29 78 120 36,0 28 78 105,6 26,4
CV (%) - - 11,72 29,01
- - 18,34
9,95
Prob - - 0,71 0,45
- - 0,29
0,14
Thời gian sinh trưởng phụ thuộc vào đặc tính giống, thời vụ và tác động của
ngoại cảnh. Các giống thí nghiệm có thời gian sinh trưởng biến động từ 75 đến 79
NSG, phù hợp với cơ cấu mùa vụ của địa phương.
Chiều cao đóng quả và chiều dài đoạn cho quả ở các nghiệm thức ít khác nhau,
không có ý nghĩa thống kê.
Số
quả/cây
Năng
suất
(kg/ha)
Hàm
lượng
dầu (%)
Khối
lượng
1000
hạt (g)
Số
quả/cây
Năng
suất
(kg/ha)
Hàm
lượng
dầu (%)
1
VDM 3
3,26
67,3
1430 58,46 3,16
55,3
1346 58,46
2
VDM 18
3,06
c ứng dụng những
thành tựu khoa học kỹ thuật tác động vào làm tăng năng suất và chất lượng của sản
phẩm đồng thời hạ thấp chi phí đầu tư được các nhà sản xuất quan tâm là việc làm
thiết thực nhằm nâng cao thu nhập cho người nông dân.