CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN
VIỆN KINH TẾ KỸ THUẬT THUỐC LÁ
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
CHỌN GIỐNG THUỐC LÁ LAI CÓ NĂNG SUẤT CAO,
CHẤT LƯỢNG TỐT PHỤC VỤ SẢN XUẤT NGUYÊN
LIỆU CHO NHU CẦU TIÊU DÙNG
TRONG NƯỚC VÀ XUẤT KHẨU
Chủ nhiệm đề tài: TS. Tào Ngọc Tuấn
Chủ nhiệm đề tài: TS. Tào Ngọc Tuấn
Những người thực hiện chính: ThS. Nguyễn Văn Cường
KS. Nguyễn Văn Nghĩa
KS. Vũ Minh Tân
KS. Đỗ Hữu Thanh. HÀ NỘI, THÁNG 12 NĂM 2009
2
MỞ ĐẦU
Diện tích trồng thuốc lá của nước ta hiện nay ở mức 25.000 – 30.000 ha
và sản lượng nguyên liệu ở mức 40.000 – 45.000 tấn mỗi năm. Nguyên liệu
thuốc lá được sản xuất trong nước mới đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu
nguyên liệu cho sản xuất thuốc điếu. Hàng năm, ngành thuốc lá vẫn phải nhập
khẩu một lượng đáng kể nguyên liệu t
ừ các nước trên thế giới và nguyên liệu
trong nước cũng được xuất khẩu với số lượng đến chục ngàn tấn. Sản xuất thuốc
lá vẫn là một lĩnh vực kinh tế cần thiết khi ngành thuốc lá Việt Nam đóng góp
cho ngân sách Nhà nước trên bảy ngàn tỷ đồng mỗi năm. Hiện nay thuốc lá
nguyên liệu sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho các nhà máy
Nhằm chọn lọc và phát triển các giống thuốc lá mới phục vụ sản xuấ
t
nguyên liệu cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, chúng tôi tiến hành
đề tài: “Chọn giống thuốc lá lai có năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ sản
xuất nguyên liệu cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu”
3
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
TÓM TẮT NHIỆM VỤ 5
1. Phương pháp thực hiện nhiệm vụ 5
2. Dự kiến kết quả đạt được 5
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1. Tình hình nghiên cứu về giống thuốc lá ở nước ngoài 6
1.2. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống thuốc lá ở trong nước 7
Chương 2. THỰC NGHIỆM 10
2.1. Nội dung nghiên cứu 10
2.2. Vật liệu nghiên cứu 10
2.3. Phương pháp nghiên cứu 10
2.4. Địa điểm nghiên cứu 11
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN 12
3.1. Kết quả khảo nghiệm sinh thái một số dòng và tổ hợp lai mới 12
3.1.1. Kết quả khảo nghiệm sinh thái một số dòng và tổ hợp lai mới tại Cao
Bằng, Lạng Sơn 12
3.1.2. Kết quả khảo nghiệm sinh thái một số dòng và tổ hợp lai mới tại
Lạng Sơn 18
NST : Ngày sau trồng
TLCV : Virus xoăn lá thuốc lá (Tobacco Leaf Curl Virus)
TMV : Virus khảm lá thuốc lá (Tobacco Mosaic Virus)
5 TÓM TẮT NHIỆM VỤ
1. Phương pháp thực hiện nhiệm vụ
Để chọn tạo các giống thuốc lá mới có tiềm năng năng suất cao, chất
lượng nguyên liệu tốt, kháng khá đối với một số bệnh hại chính đáp ứng nhu cầu
sản xuất đề tài đã áp dụng các phương pháp chọn giống chính sau:
1. Tạo các tổ hợp lai theo định hướng kết hợ
p các ưu điểm của các dạng bố
mẹ;
2. Đánh giá các tổ hợp lai để chọn lọc tổ hợp lai tốt theo hướng phát triển
giống lai. Tạo các dòng mẹ bất dục đực cho sản xuất hạt lai;
3. Lựa chọn các tổ hợp lai tốt để chọn lọc dòng thuần qua các thế hệ phân ly
theo phương pháp phả hệ;
4. Đánh giá, chọn lọc các dòng và các tổ hợp lai tại các trạm thực nghiệm
giống;
5. Khảo nghiệm các dòng và tổ hợp lai tốt tại các vùng trồng.
2. Dự kiến kết quả đạt được
Mục tiêu dài hạn
Chọn tạo các giống thuốc lá lai có tiềm năng năng suất cao, chất lượng
nguyên liệu tốt, kháng khá đối với một số bệnh hại chính như đen thân, héo rũ vi
khuẩn, khảm lá TMV.
Mục tiêu nă
được giống thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và khả n
ăng thâm canh
và giảm thiểu những rủi ro do bệnh hại. Các giống thuần K326, K346 được tạo
ra từ những năm 80 của thế kỷ trước nhưng vẫn được sử dụng rộng rãi với tỷ lệ
diện tích đáng kể do chất lượng nguyên liệu tốt. Tuy nhiên giống thuốc lá lai
đang được phát triển mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Nếu như ở niên vụ
1996 giố
ng lai chưa có diện tích đáng kể thì đến năm 2008 riêng 7 giống lai đã
chiếm 55% diện tích trồng thuốc lá tại đây [9][11].
Công tác giống thuốc lá tại Braxin chủ yếu do Công ty giống thuốc lá
Profigen triển khai bao gồm các công việc từ lai tạo, chọn lọc, đánh giá khảo
nghiệm và sản xuất, cung ứng giống không chỉ cho Braxin mà chào bán khắp
nơi trên thế giới. Giai đoạn trước năm 1995, Braxin chủ yếu phát triển các giố
ng
thuần và đã cung cấp các giống PV01, PV03, PV09 cho sản xuất. Tuy nhiên các
giống này không còn được sản xuất trong những năm gần đây. Sau năm 1995,
Công ty Profigen chủ yếu phát triển giống thuốc lá lai và tung ra sản xuất nhiều
giống lai mới như PVH01, PVH03, PVH09, PVH19, PVH20, PVH50, PVH51,
PVH156, PVH2110. Bên cạnh đó nhiều giống lai mới có triển vọng đang được
sản xuất thử nghiệm như PVH2239, PVH2241, PVH2254, PVH2259,
PVH2274, PVH2275, PVH2299, PVH2306 [6].
Tại Zimbabuê, công tác giống thuốc lá chủ yếu do Việ
n nghiên cứu thuốc
lá Kutsaga có trụ sở tại Harage đảm nhận. Trong thập niên 80 của thế kỷ 20 một
số giống thuốc lá thuần do Viện này lai tạo, chọn lọc được phổ biến trong sản
xuất như Kutsaga 51, Kutsaga E1, Kutsaga 51E, KM 10, KM 110. Từ thập niên
90 Zimbabuê chủ yếu chọn tạo và phát triển các giống thuốc lá lai. Hàng loạt
các giống lai đã được đưa vào sản xuất như như RK1, RK3, RK6, K.34, K.35,
K.36. Bên cạnh đó hàng loạt gi
ống lai mới đang được khảo nghiệm như K
nước[8][12]. Bằng việc sử dụng các giống lai, các cơ sở chọn tạo giống tự bảo
vệ được quyền tác giả còn các nhà quản lý có thể thực thi kế hoạch sản xuất các
chủng lo
ại nguyên liệu qua cơ cấu giống phát ra.
1.2. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống thuốc lá ở trong nước
Công tác chọn tạo giống thuốc lá mới được Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc
lá triển khai ở nước ta từ năm 1996 theo hướng chọn tạo giống thuần khi thực tế
sản xuất cần có một bộ giống tốt đáp ứng nhu cầu sản xuất. Qua lai tạo và chọ
n
lọc ở các thế hệ phân ly đã chọn được một số dòng có triển vọng với khả năng
sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt. Tháng 12 năm
2004, Bộ NN&PTNT đã công nhận giống chính thức đối với hai dòng C 7-1, C
9-1 [1] .
Trong những năm qua, công tác chọn tạo giống thuốc lá lai do Viện Kinh
tế Kỹ thuật Thuốc lá thực hiện đã đạt được kết qu
ả ban đầu với việc xác định
được các tổ hợp lai tốt và tạo ra các dòng mẹ bất dục đực phục vụ công đoạn sản
xuất hạt lai [2]. Các giống lai A7, VTL5H đã được công nhận giống chính thức
và giống VTL1H được công nhận tạm thời [4]. Nhằm xây dựng một bộ giống
thuốc lá phong phú để mỗi vùng trồng có thể chọn được giống thích hợp, công
tác giống cần tiế
p tục theo hướng tạo các giống thuốc lá lai có tính thích nghi
rộng, năng suất và chất lượng cao, kháng các bệnh hại chính.
8
Kết quả khảo nghiệm sản xuất ba tổ hợp lai GL1, GL2, GL3 trong các vụ
xuân 2006, 2007 đã xác định được tổ hợp lai GL1, GL2 có năng suất cao, chất
lượng tốt, kháng một số bệnh hại chính. Các tổ hợp lai này đã được khảo
nghiệm diện rộng với quy mô hàng chục ha/tổ hợp lai trong vụ xuân 2009 tại Hà
i chứng K.326. Các tổ hợp lai này ít bị nhiễm bệnh đốm lá, có tỷ lệ lá cấp 1+2
cao và tính chất hút tương đương các giống đối chứng C.176, K.326. Các tổ hợp
lai này cần được khảo nghiệm sinh thái vụ thứ 2 tại Cao Bằng và Lạng Sơn
trước khi quyết định khảo nghiệm sản xuất.
Trong những năm 2004 - 2007 khi tiến hành đề tài chọn tạo giống thuốc
lào mới, nhóm thực hiện đã sử
dụng các dòng thuốc lào địa phương như Ré đen
(RĐ8), Ré trắng (RT56) có sức sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, ít bị bệnh đốm
lá nhưng mẫn cảm với các bệnh đen thân, héo rũ vi khuẩn và khảm lá lai với các
giống thuốc lá C.176, K.346, C7-1, RG.81 có khả năng kháng khá với các bệnh
trên. Đề tài đã chọn được một số dòng với dạng hình thuốc lá có sức sinh trưởng
khoẻ, cho năng suất cao và kháng khá với mộ
t số bệnh hại chính. Kết quả đánh
giá 4 dòng ở vụ xuân 2008 cho thấy các dòng sinh trưởng khoẻ, nhiều lá, ra hoa
muộn. Các dòng T1-1, T32-2 có năng suất cao hơn giống đối chứng và tỷ lệ lá
cấp 1+2 ở mức tương đương. Việc tiếp tục đánh giá các dòng có ưu điểm về
9
năng suất và chất lượng trong vụ xuân 2009 tại Cao Bằng và Lạng Sơn là hết
sức cần thiết nhằm chọn các dòng có triển vọng theo định hướng phát triển
giống mới phù hợp với điều kiện mỗi địa phương.
Nhằm phục vụ hiệu quả công tác phát triển các giống thuốc lá lai trong
những năm tiếp theo thì bên cạnh việc chọn lọc các dòng và tổ hợp lai tố
t cần
thiết phải tạo dòng bất dục đực của các giống có khả năng được sử dụng làm
dạng mẹ để sản xuất hạt lai theo hướng đa dạng nguồn tế bào chất là cơ sở để
phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra trong sản xuất.
10
K.326TQ: một số tổ hợp lai bất dục của các nguồn giống có khả năng được sử
dụng làm dạng mẹ trong phát triển các giống thuốc lá lai: C.176, K.326, K.346 ở
thế hệ BC
3
và RG.17, RG.81 ở thế hệ BC
1
với nguồn bất dục đực từ giống
K.326 của Trung Quốc và các dòng bố tương ứng của chúng.
*Vật liệu để lai tạo hạt lai của các tổ hợp lai có triển vọng: dòng mẹ bất
dục đực C.176S và các dòng bố C9-1, D102 cho lai tạo hạt lai của các tổ hợp lai
GL4, GL5.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Đánh giá các dòng và tổ hợp lai F
1
theo phương pháp chuẩn như:
+ Các tổ hợp lai khi khảo nghiệm sinh thái được bố trí thí nghiệm đồng
ruộng theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn toàn, nhắc lại ba lần, diện tích ô
44 m
2
tại Cao Bằng và 37 m
2
tại Lạng Sơn. Giống đối chứng được sử dụng trong
thí nghiệm: C.176 tại Cao Bằng và K.326 tại Lạng Sơn.
11
+ Các tổ hợp lai khi khảo nghiệm sản xuất được bố trí thí nghiệm ô lớn,
không lặp lại, diện tích ô 1.000 m
2
, có đối chứng là giống đang phổ biến tại địa
• Phân tích hàm lượng đường khử theo TCVN 7102:2002 (CORESTA
38:1994)
+ Đánh giá chất lượng cảm quan theo tiêu chuẩn TC 01 - 2000 của Tổng
công ty thuốc lá Việt nam, do Hội đồng bình hút của Viện KTKT thuốc lá đánh
giá, cho điểm.
- Xử lý thống kê các số liệu theo các phương pháp thông dụng, có sử dụng
các lập trình trên máy vi tính như EXCEL, STATH.
2.4. Địa đi
ểm nghiên cứu
- Các nội dung khảo nghiệm sinh thái và khảo nghiệm sản xuất được triển
khai tại các vùng trồng chính ở các tỉnh phía Bắc bao gồm:
+ Xã Nam Tuấn - huyện Hoà An - tỉnh Cao Bằng,
+ Xã Hữu Vĩnh - huyện Bắc Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
- Các nội dung duy trì và lai tạo các dòng bất dục đực mới, lai tạo hạt lai
được thực hiện tại Chi nhánh Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá tại Hà Tây (xã Tản
Lĩnh - Ba Vì - Hà Nội).
12
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN
3.1. Kết quả khảo nghiệm sinh thái một số dòng và tổ hợp lai mới
3.1.1. Kết quả khảo nghiệm sinh thái một số dòng và tổ hợp lai mới tại Cao
Bằng, Lạng Sơn
a) Tình hình sinh trưởng:
Theo dõi thời gian sinh trưởng của các dòng và tổ hợp lai tại Cao Bằng ở
vụ xuân 2009 cho thấy:
Tổ hợp lai của tổ hợp C.176 x CB2 có thời gian phát dục (ra nụ 90%) sớm
nhất ở 66 ngày sau trồng (NST), tiếp theo đến hai tổ hợp lai của dòng LS ở 68
NST. Ba dòng còn lại phát dục khá muộn, ở từ 73 đến 76 ngày sau trồng. So với
hợp lai này phù hợp với cơ cấu cây trồng vụ xuân tại Cao Bằng.
Theo dõi một số chỉ tiêu sinh trưởng của các dòng và tổ hợp lai chúng tôi
thu được kết quả
ở bảng 2.
13
Bảng 2. Một số chỉ tiêu sinh trưởng của một số dòng và tổ hợp lai tại Cao
Bằng trong vụ xuân 2009
TT Giống
Cao cây (cm)
Số lá kinh tế
(lá/cây)
Đường kính
thân (cm)
1 C.176 x CB2 99,0 27,8 2,33
2 C.176 x LS 88,3 25,9 2,57
3 K.346 x LS 81,6 23,5 2,41
4 T1-1 114,4 31,5 2,07
5 T32-2 96,9 32,4 2,39
6 T42-1 94,7 31,3 2,32
7 C.176 93,9 23,3 2,13
LSD
0,05
3,75 1,38 0,12
- Về chiều cao cây ngắt ngọn: Các dòng và tổ hợp lai có mức độ phát triển
chiều cao khá và có sự khác biệt rõ ràng về chiều cao cây giữa chúng. Dòng T1-
1 có chiều cao cây lớn nhất với 114,4 cm trong khi ở chiều ngược lại tổ hợp lai
K346 x LS có chiều cao cây nhỏ nhất (81,6 cm). Hai dòng và 2 tổ hợp lai còn lại
có chiều cao cây ở mức trung bình từ 88,3 – 99,0 cm và không có sự chênh lệch
2009 tại Cao Bằng
Đơn vị tính: cm
Lá số 5 Lá số 10 Lá số 15
TT Giống
Dài Rộng Dài Rộng Dài Rộng
1 C.176 x CB2 50,6 26,5 66,1 24,5 62,8 17,2
2 C.176 x LS 54,7 28,5 69,3 28,0 62,2 19,8
3 K.346 x LS 57,9 29,0 70,4 27,4 62,4 19,7
4 T1-1 47,2 20,2 54,2 19,3 55,8 18,1
5 T32-2 54,2 17,9 65,2 14,6 73,6 13,7
6 T42-1 59,4 19,1 68,0 17,0 70,6 15,1
7 C.176 45,8 25,8 57,5 23,9 56,1 18,3
LSD
0,05
2,67 1,73 2,82 1,23 2,55 1,38
b) Mức độ sâu bệnh hại
Theo dõi sâu bệnh hại các giống khảo nghiệm cho kết quả như ở bảng 4.
Ruộng thí nghiệm tại Cao Bằng hàng năm được luân canh với cây lúa đã hạn
chế đáng kể các nguồn sâu bệnh gây hại cho thuốc lá.
Bảng 4. Mức độ sâu bệnh hại một số dòng và tổ hợp lai ở vụ xuân 2009
tại Cao Bằng
TT Giống
Tỷ lệ cây bị sâu
xám gây hại (%)
Mức độ
sâu
xanh gây hại
Mức độ nhiễm
bệnh đốm lá
1 C.176 x CB2 1,27 + -
(lá)
Lá 5 Lá 10 Lá 15
Tỷ lệ lá
tươi/khô
Năng
suất
(tạ/ha)
T
ỷ
lệ lá
cấp
1+2
(%)
1 C.176
x
CB2 27,8 33,9 41,3 33,0 7,41 25,7 39,6
2 C.176 x LS 25,9 41,7 52,3 37,3 7,28 27,3 41,7
3 K.346 x LS 23,5 37,3 52,3 35,6 7,35 25,8 43,9
4 T1-1 31,5 26,4 25,9 25,0 6,74 22,3 29,1
5 T32-2 32,4 31,3 33,1 35,3 8,45 24,6 23,1
6 T42-1 31,3 41,0 40,8 34,6 8,22 22,8 23,0
7 C.176 23,3 30,0 33,3 32,0 7,46 21,4 26,0
LSD
0,05
1,38 - - - - 1,69
- Số lá kinh tế là một chỉ tiêu có tương quan thuận đến năng suất của các
giống thuốc lá. Có sự chênh lệch lớn giữa các giống khảo nghiệm về chỉ tiêu số
lá kinh tế. Tổ hợp lai K346 x LS có 23,5 lá kinh tế, ở mức tương đương giống
đối chứng C.176 (23,3 lá/cây). Hai tổ hợp lai còn lại có số lá kinh tế 25,9 và
27,8 cùng các dòng có số lá kinh tế trên 30 lá/cây đều ở mức vượt trội so với
kinh tế của mỗi giống. Các tổ hợp lai C.176 x CB2, C.176 x LS, K.346 x LS có
tỷ lệ lá cấp 1+2 rấ
t cao (từ 39,6 – 43,6%). Dòng T1-1 tuy tỷ lệ lá cấp 1+2 chỉ đạt
29,1% nhưng vẫn cao hơn giống đối chứng C.176 với 26,0%. Hai dòng còn lại
có tỷ lệ lá cấp 1+2 thấp với mức từ 23,0 và 23,1%.
Để đánh giá chất lượng của các giống khảo nghiệm, đề tài đã phân tích
một số thành phần hoá học chính như hàm lượng nicotin và đường khử trong
mẫu nguyên liệu lá sấy của các giống thí nghiệm. Kết quả phân tích được th
ể
hiện ở bảng 6.
Bảng 6. Hàm lượng nicotin và đường khử trong nguyên liệu của một số
dòng và tổ hợp lai tại Cao Bằng ở vụ xuân 2009
TT Giống Nicotin (%) Đường khử (%)
1 C.176 x CB2 1,72 24,1
2 C.176 x LS 1,20 26,6
3 K.346 x LS 1,30 24,9
4 T1-1 2,84 24,2
5 T32-2 1,53 22,5
6 T42-1 1,63 15,4
7 C.176 1,48 17,2
- Về hàm lượng nicotin: nhìn chung các giống khảo nghiệm ở vụ xuân
2009 có hàm lượng nicotin ở mức hơi thấp so với các vụ xuân trước nhưng cao
hơn so với vụ xuân 2008. Các tổ hợp lai C.176 x LS, K.346 x LS, dòng T32-2
cùng giống đối chứng C.176 có hàm lượng nicotin hơi thấp, từ 1,20-1,53%. Các
dòng và tổ hợp lai khác có hàm lượng nicotin từ 1,63-2,84%, nằm trong ngưỡng
tối ưu đối với nguyên liệu vàng sấy (1,6-2,5%).
- Về hàm lượng đường khử: Ba tổ hợp lai 2 dòng T1-1, T32-2 có hàm
lượ
ng đường khử từ 22,5 – 26,6%, mức cao hơn giống đối chứng C.176
(17,2%). Dòng T42 có hàm lượng đường khử thấp nhất với 15,4%.
- Về khẩu vị: tổ hợp lai C.176 x CB2 cũng có điểm vị cao nhất với 10,7
điểm. Dòng T42-1 có điểm vị cao thứ nhì với 10,2 điểm. Các dòng và tổ
hợp lai
khác có điểm vị từ 9,8-10,0 điểm ở mức tương đương so với giống đối chứng
C.176 (9,9 điểm).
Tổng điểm bình hút chịu ảnh hưởng nhiều bởi các điểm về hương và vị.
Tổ hợp lai C.176 x CB2 và các dòng T32-2, T42-1 có tổng điểm bình hút cao
(40,0 – 41,2 điểm), ở mức tính chất hút tốt. Ngoại trừ dòng T1-1 có tổng điểm
thấ
p nhất với 38,7 điểm do điểm về độ nặng thấp, các tổ hợp lai còn lại có tổng
điểm không chênh lệch đáng kể so với giống đối chứng C.176 ở mức tính chất
hút khá.
Tổng hợp kết quả khảo nghiệm 3 tổ hợp lai và 3 dòng thuốc lá tại Cao
Bằng ở vụ xuân 2009 cho thấy:
− Về năng suất, các tổ hợp lai C.176 x CB2, C.176 x LS, K.346 x LS có
năng suấ
t trên 25 tạ/ha và dòng T32-2 với năng suất 24,6 tạ/ha là những
giống có tiềm năng năng suất cao.
− V ề khả năng sấy: các tổ hợp lai C.176 x CB2, C.176 x LS, K.346 x LS có
tỷ lệ lá sấy cấp 1+2 cao nổi trội (39,6 đến 43,9%) và dòng T1-1 có tỷ lệ lá
cấp 1+2 cao hơn giống đối chứng C.176 (26,0) là những giống có triển
vọng.
18
− V ề chất lượng nguyên liệu, tổ hợp lai C.176 x CB2 và các dòng T32-2,
T42-1 có tổng điểm bình hút trên 40, ở mức tính chất hút tốt.
Như vậy các tổ hợp lai C.176 x CB2, C.176 x LS, K.346 x LS thể hiện
nhiều ưu điểm về các mặt tiềm năng năng suất và chất lượng nguyên liệu cần
được đánh giá qua khảo nghiệm ở điều kiện thí nghiệm ô lớn để xác định giống
các tổ hợp lai C.176 x LS, K.346 x LS phát dục muộn sau 80 NST và muộn hơn
giống đối chứng K.326 từ 9-12 ngày.
- Về thời gian từ trồng đến lá đầu chín: Ngoại trừ tổ hợp lai C.176 x CB2
có lá đầu chín ở 74 NST, ở mức 1 ngày sớm hơn giống đối chứng K.326. Các
dòng và tổ hợp lai khác có lá đầu chín
ở 77-82 NST, muộn hơn giống K.326 từ 2
– 7 ngày.
- Về thời gian từ trồng đến thu hoạch xong: các tổ hợp lai và giống đối
chứng có tổng thời gian sinh trưởng trên ruộng trồng khá dài – ở 124 ngày sau
trồng. Tuy nhiên, so với giống đối chứng K.326 được thu hoạch lần cuối ở 120
NST thì các tổ hợp lai và các dòng khảo nghiệm có mức chênh lệch về thời gian
sinh trưởng trên ruộng trồng không lớn.
19
Có thể thấy các chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng của các giống khảo
nghiệm tại Lạng Sơn trong vụ xuân 2009 có sự khác biệt so với các vụ xuân
trước khi các giống có thời gian phát dục muộn hơn, tổng thời gian sinh trưởng
trên ruộng trồng dài hơn. Nguyên nhân kéo dài sinh trưởng của các giống khảo
nghiệm có thể được lý giải ở điều kiện hạn nhẹ kéo dài trong khoảng thời gian
đến 40 ngày sau trồ
ng và lượng mưa tăng đều ở giai đoạn sau.
Theo dõi một số chỉ tiêu sinh trưởng của các tổ hợp lai chúng tôi thu được
kết quả như ở bảng 9.
Bảng 9. Một số chỉ tiêu sinh trưởng của một số dòng và tổ hợp lai tại Lạng
Sơn trong vụ xuân 2009
TT Giống
Cao cây
(cm)
Số lá kinh
20
Bảng 10. Kích thước lá số 5, 10, 15 của một số dòng và tổ hợp lai ở vụ xuân
2009 tại Lạng Sơn
Đơn vị tính: cm
Lá số 5 Lá số 10 Lá số 15
TT Giống
Dài Rộng Dài Rộng Dài Rộng
1 C.176 x CB2 58,0 24,5 66,4 27,3 58,8 18,7
2 C.176 x LS 62,3 27,7 68,1 31,2 64,2 20,9
3 K.346 x LS 63,9 28,2 75,0 28,8 65,9 20,9
4 T1-1 54,5 21,7 60,4 24,1 57,9 18,9
5 T32-2 64,2 18,9 66,6 17,9 69,6 16,5
6 T42-1 67,2 18,6 71,9 18,6 68,9 15,4
7 K.326 56,2 23,2 62,6 24,0 58,4 18,6
LSD
0,05
2,77 1,70 1,63 0,94 1,36 0,69
- Đối với chiều dài lá: Các giống khảo nghiệm có chung xu hướng chiều
dài lá tăng từ lá số 5 qua lá số 10 và lại giảm đi ở lá số 15. Lá số 15 có chiều dài
lớn hơn lá số 5. Trong số các tổ hợp lai, K.346 x LS có chiều dài lá lớn nhất ở cả
ba vị trí lá quan sát, tiếp đến là tổ hợp lai C.176 x LS. Trong số 3 dòng đánh giá:
Dòng T42-1 có chiều dài lá cao vượt trội, tiếp đến là dòng T32-2, riêng dòng
T20-1 có chiều dài lá nhỏ hơn so với giống đố
i chứng K326.
- Đối với chiều rộng lá: các tổ hợp lai, dòng T1-1 và giống đối chứng
K.326 có chung xu hướng là chiều rộng lá số 10 lớn nhất, tiếp đến lá số 5. Lá số
15 có bề rộng nhỏ nhất và có sự khác biệt rõ rệt so với lá số 5 và đặc biệt lá số
1 C.176 x CB2 1,89 - - 0
2 C.176 x LS 3,14 + - 0
3 K.346 x LS 2,52 - + 0,63
4 T1-1 1,26 + + 0,63
5 T32-2 1,89 - + 0
6 T42-1 1,26 - + 0
7 K.326 2,52 ++ + 1,89
Ghi chú: - mức độ hại rất nhẹ, + mức độ hại nhẹ, ++ mức độ hại trung
bình
Đối với bệnh hại: hai tổ hợp lai của dòng mẹ C.176 (C.176 x CB2, C.176
x LS) có mức hại rất nhẹ trong khi các giống còn lại và giống đối chứng K.326
có mức hại nhẹ. Bệnh khảm lá do TMV xuất hiện ở tổ hợp lai K.346 x LS và
dòng T1-1 cùng giống đối chứng K.326 nhưng tỷ lệ cây nhiễm rấ
t thấp (<2%).
c) Năng suất của các giống thí nghiệm
Bảng 12. Một số chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất của một số dòng
và tổ hợp lai tại Lạng Sơn trong vụ xuân 2009
Khối lượng tươi (g)
của
TT Giống
Số lá
kinh tế
(lá)
Lá 5 Lá 10 Lá 15
Tỷ lệ lá
tươi/khô
Năng
suất
(tạ/ha)
7,82 ở tổ hợp lai C.176 x CB2 đến 8,26 ở tổ hợp lai K.346 x LS. So với giống
đối chứng K.326, các tổ hợp lai có tỷ lệ tươi/khô ở mức tương đương hoặc thấp
hơn. Đối với các dòng đánh giá: dòng T1-1 có tỷ lệ tươi/khô thấp nhất (7,94) và
thấp hơn giống K.326. Các dòng T32-2, T42-1 có tỷ lệ tươi/khô khá cao ở mức
tương ứng 9,06 và 8,66 cho thấy chúng có hàm lượng chấ
t khô thấp hơn.
Theo dõi khối lượng tươi của các lá thu hoạch số 5, 10, 15 cho thấy: các
dòng và các tổ hợp lai đều có khối lượng tươi của lá số 10 lớn nhất. Các tổ hợp
lai có khối lượng lá số 10 lớn hơn rõ rệt so với lá số 5 và lá 15 trong khi sự
chênh lệch về khối lượng lá giữa 3 vị trí của các dòng khảo nghiệm là không
lớn. Đa số các dòng và các tổ hợp lai có khối lượng lá số 5 lớn hơn lá số 15
nhưng sự chênh lệch không lớn. Ba tổ hợp lai có khối lượng lá lớn hơn rõ rệt so
với giống đối chứng ở cả 3 vị trí lá, trong đó các tổ hợp lai C.176 x LS, K.346 x
LS có khối lượng lá cao nổi trội. Ba dòng đánh giá có khối lượng lá thấp hơn rõ
rệt so với giống K.326 ở cả 3 vị trí lá.
Năng suất lá khô: Các tổ hợp lai và dòng khảo nghiệm tại Lạng Sơn có s
ự
biến động về năng suất khô khá lớn, từ 21,8 tạ/ha ở dòng T1-1 đến 28,6 tạ/ha ở
tổ hợp lai K.346 x LS. Cả ba tổ hợp lai có năng suất lá khô cao vượt trội so với
giống đối chứng K.326 với năng suất ở mức > 28 tạ/ha. Đối với 3 dòng đánh
giá: các dòng T32-2, T42-1 có năng suất cao hơn giống K.326 nhưng chỉ có
dòng T42-1 vượt trội ở mức có ý nghĩa về mặt th
ống kê. Dòng T1-1 có năng
suất thấp hơn giống đối chứng K.326.
Về tỷ lệ lá cấp 1+2: các tổ hợp lai và dòng thuốc lá trồng tại Lạng Sơn ở
vụ xuân 2009 có tỷ lệ lá cấp 1+2 không cao, từ 20,3 - 28,1%. So với giống đối
chứng K.326, các tổ hợp lai C.176 x CB2, C.176 x LS có tỷ lệ lá cấp 1+2 ở mức
tương đương. Các dòng T32-2, T42-1 có tỷ lệ lá cấp 1+2 thấp hơn giống đối
chứng K.326.
d) Thành phần hoá h
phù hợp đối với nguyên liệu vàng sấy hiện nay.
Nhìn chung, các tổ h
ợp lai và dòng thuốc lá trồng tại Lạng Sơn ở vụ xuân
2009 có các thành phần hoá học chính khá hợp lý khi hàm lượng nicotin và hàm
lượng đường khử ở mức trung bình.
Bảng 14. Điểm bình hút cảm quan nguyên liệu của một số dòng và tổ hợp
lai tại Lạng Sơn trong vụ xuân 2009
Đơn vị tính: điểm
TT
Giống
Hương Vị
Độ
nặng
Độ
cháy
Màu
sắ
c
Tổng
điểm
1 C.176 x CB2 10,0 10,1 7,0 7,0 6,0 40,1
2 C.176 x LS 10,1 10,4 7,0 7,0 6,0 40,5
3 K.346 x LS 9,8 9,8 7,0 7,0 6,0 39,6
4 T1-1 9,9 9,6 7,0 7,0 6,0 39,5
5 T32-2 9,2 9,4 7,0 7,0 6,0 38,6
6 T42-1 9,9 9,8 7,0 7,0 6,0 39,7
7 K.326 (Đ/C) 10,2 10,4 7,0 7,0 6,0 40,6
Kết quả bình hút ở bảng 14 cho thấy:
24
Như vậy ba tổ hợp lai K.346 x CB2, C.176 x LS, K.346 x LS có ưu điểm
về năng suất, tỷ lệ lá cấp 1+2 cao và tính chất hút tốt, cần được khảo nghiệm sản
xuất để đánh giá ti
ềm năng của giống ở điều kiện ô lớn để chọn giống tốt cho
sản xuất nguyên liệu tại Lạng Sơn.
3.2. Kết quả khảo nghiệm sản xuất các tổ hợp lai GL4, GL5 tại Cao Bằng,
Lạng Sơn
Nhằm khẳng định tiềm năng của các tổ hợp lai có triển vọng, đề tài đã tiến
hành khảo nghiệm sản xuất v
ụ thứ 2 đối với các tổ hợp lai GL4, GL5 trong vụ
xuân 2009 tại Cao Bằng và Lạng Sơn. Kết quả khảo nghiệm được thể hiện ở các
mặt chính sau
3.2.1. Sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp lai
Thời gian sinh trưởng của các tổ hợp lai tại Cao Bằng