Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
Đề tài : SÁNG TẠO VÀ CẢI TIẾN MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
GIÚP HỌC SINH GIỎI LỚP 5 NHẬN BIẾT VÀ SỬ DỤNG
CÂU ĐÚNG NGỮ PHÁP
Tác giả: Đinh Thị Hòa Bình
PHẦN A. MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
1. Thực trạng của vấn đề
Từ ngàn xưa, để răn dạy con cháu, ông cha ta có câu: “ Học ăn, học nói, học
gói, học mở”. Thật vậy: “ Học nói” chính là một việc rất cơ bản mà con người cần phải
được giáo dục ngay từ lúc mới bi bô biết gọi mẹ, nó theo chân ta đến suốt cả cuộc đời.
Vậy phải nói thế nào cho đúng, cho người nghe, người đọc hiểu rõ ý của mình là cả
một vấn đề mà mọi người chúng ta phải học tập. Việc này cần phải được rèn luyện
ngay từ khi mới bước vào bậc Tiểu học.
Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học quan trọng. Môn học
này giúp học sinh biết đọc thông, viết thạo, biết sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xác và
có kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày. Những kiến thức của môn
Tiếng Việt là tiền đề, là cơ sở cho học sinh tiếp cận với các môn học khác. Chính vì
vậy, việc dạy và học Tiếng Việt trong nhà trường, đặc biệt là dạy về câu luôn được chú
trọng. Một trong những công tác mũi nhọn quan trọng trong nhà trường là phát hiện và
bồi dưỡng những mầm non năng khiếu đã và đang được các cấp quan tâm. Bên cạnh
việc đọc thông viết thạo, học tốt về câu, sử dụng câu chính xác sẽ bồi dưỡng cho các
em tình yêu quê hương đất nước, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt và
bản sắc văn hóa dân tộc.
1.1. Đối với chương trình sách giáo khoa
Trong chương trình bậc Tiểu học, kiến thức về câu thường được bố trí rất
khiêm tốn, phần lớn là lồng ghép khi dạy nội dung các tiết ở các phân môn trong bộ
môn Tiếng Việt. Chính vì vậy, việc giúp cho học sinh, đặc biệt là học sinh giỏi lớp 5
hiểu rõ về câu, viết và sử dụng câu đúng về ngữ pháp, hay về nội dung là một vấn đề
rất khó khăn.
1.2. Đối với học sinh
- Thực tế trong trường tôi công tác, phần lớn giáo viên đều không ngừng tìm
tòi, suy nghĩ, tích cực nâng cao kiến thức của mình để dạy cho học sinh, đặc biệt là
dạy bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 môn Tiếng Việt nhưng kết quả giảng dạy còn bộc lộ
không ít hạn chế.
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới
2.1 Ý nghĩa
Giải pháp mới của đề tài giúp học sinh nhận biết được vẻ đẹp của ngôn ngữ
Việt Nam được thể hiện trong lời nói, trong các văn cảnh cụ thể. Đề tài còn có ý nghĩa
tích cực hơn khi giúp học sinh hiểu rõ cái hay, cái đẹp trong các văn bản (nói và viết)
bằng Tiếng Việt và điều đặc biệt hơn cả là học sinh sẽ có một vốn kiến thức hết sức
sâu sắc, chính xác về câu và vận dụng các kiến thức này một cách linh hoạt trong học
tập và trong cuộc sống hàng ngày.
2.2 Tác dụng của giải pháp mới
Đề tài sẽ giúp cho học sinh nắm vững chắc các kiến thức về câu, không nhầm
lẫn các bộ phận trong câu. Phân tích đúng các bộ phận chính và phụ trong câu. Các em
sẽ biết bộ phận nào trong câu bị khuyết, bị sai, cách sửa chúng như thế nào và một
điều rất cơ bản là giúp học sinh sử dụng câu thành thạo, hiểu về câu sâu sắc để các em
có thể vận dụng chúng một cách linh hoạt trong học tập và trong đời sống xã hội.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu ở Trường Tiểu học Mỹ An, chủ yếu trong nội dung
chương trình môn Tiếng Việt lớp 5 và đặc biệt là những kiến thức nâng cao của môn
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
2
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
Tiếng Việt nhằm cung cấp cho học sinh giỏi lớp 5 cái nhìn sâu sắc về câu, cách sử
dụng câu thành thạo, nhuần nhuyễn và chính xác trong mọi hoàn cảnh.
II. Phương pháp tiến hành
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.1. Cơ sở lí luận
Từ thuở nằm nôi, các em đã được tắm mát tâm hồn trong tiếng hát ru của mẹ,
2. Các biện pháp và thời gian tiến hành
2.1. Các biện pháp tiến hành
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
3
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
Trong khi nghiên cứu đề tài tôi đã tiến hành song song nhiều biện pháp từ
nghiên cứu thực trạng trên lớp mình dạy học đến việc tìm tòi suy nghĩ để tìm ra cách
giảng dạy tốt nhất. Tôi đã sử dụng nhiều phương pháp như sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận. (đọc tài liệu)
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp phân tích, thực hành.
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm.
2.2. Thời gian nghiên cứu đề tài
- Tôi đọc và nghiên cứu tài liệu, điều tra thực tế bắt đầu từ tháng 9 năm 2008
- Dạy thực nghiệm trên lớp từ năm 2009.
- Viết bản nháp cho đề tài từ tháng 2 năm 2011.
- Hoàn thành đề tài vào cuối tháng 3 năm 2012.
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
4
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
PHẦN B. NỘI DUNG
I. Mục tiêu
Đề tài nhằm giúp cho giáo viên và học sinh Giỏi lớp 5 nhận biết, hiểu về câu
một cách cơ bản nhất, sâu sắc nhất, các em biết phân tích được các bộ phận trong câu
một cách chính xác, rõ ràng. Học sinh biết câu mình đang cần tìm hiểu hoặc sử dụng
đúng hay sai. Nếu sai thì sai ở điểm nào, cách sửa những chỗ bị sai như thế nào cho
phù hợp. Đề tài còn giúp cho học sinh nhận ra sự trong sáng của Tiếng Việt. Từ đó
giúp học sinh thêm yêu Tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
5. Rút kinh nghiệm qua các tiết dạy.
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
5
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
1.4 Phương pháp tổ chức dạy cho học sinh nhận biết và sử dụng câu đúng
ngữ pháp
Phương pháp tổ chức dạy cho học sinh nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
bằng các kiểu hình thức và kĩ năng khi học sinh học về câu được rèn luyện thông qua
lí thuyết và bài tập thực hành nhằm giúp học sinh hiểu rõ thế nào là câu đúng, thế nào
là câu sai và cách sửa câu sai thành câu đúng.
1.4.1 Hướng dẫn học sinh nhận biết câu đúng ngữ pháp
* Định nghĩa về câu:
Câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn ngữ có kèm theo thái độ của người
nói (nguời viết) được cấu tạo theo những quy tắc nhất định, có tính tự lập và mang ngữ
điệu kết thúc.
- Xét về mặt tôn ti trật tự, câu là đơn vị ngữ pháp trên từ, cụm từ và dưới đoạn
văn.
- Xét về mặt hình thức, câu có cấu tạo thông thường là một kết cấu chủ –vị (ví
dụ: Trăng đã lên cao.) nhưng cũng có thể do nhiều kết cấu chủ –vị hợp thành (ví dụ:
nước chảy, hoa trôi). Đặc biệt đôi khi câu chỉ được cấu tạo bằng một từ hoặc một cụm
từ.
Trong lời nói, câu gắn liền với một ngữ điệu nhất định. Ranh giới câu là ranh
giới giữa các ngữ điệu kết thúc. Trong chữ viết, ngữ điệu kết thúc ấy được thể hiện
bằng dấu chấm ở cuối câu.
- Xét về mặt chức năng ngữ nghĩa, câu chứa đựng một nội dung thông báo. Nhờ
ngữ cảnh mà nghĩa của câu được lĩnh hội chính xác, đầy đủ.
Khi dạy về câu, tôi thưòng hướng dẫn các em cách viết (nói ) câu dựa trên hai
yếu tố cơ bản sau:
*Nội dung câu phải có nghĩa
Ví dụ: Hoa loa kèn mở rộng cánh, rung rinh trước gió.
câu, bổ sung ý nghĩa về tình huống câu gọi là trạng ngữ. Trạng ngữ có thể chỉ thời
gian, nơi chốn, mục đích, nguyên nhân ….
Các danh từ, động từ, tính từ trong câu cũng có thể có thành phần phụ. Những
từ ngữ nêu ra chi tiết, ý cụ thể thêm cho sự vật được nêu ở danh từ trong câu, gọi là
định ngữ. Danh từ có thể có định ngữ ở trước hoặc sau. Còn những từ ngữ nêu chi tiết,
ý cụ thể thêm cho hành động, trạng thái, tính chất của động từ và tính từ trong câu gọi
là bổ ngữ. Có những bổ ngữ đứng sau động từ, tính từ.
Để giúp học sinh nắm vững phần này, tôi thường cho các em nắm vững lí
thuyết sau đó vận dụng làm bài tập với các dạng sau:
- Yêu cầu chỉ ra các thành phần câu (chủ ngữ và vị ngữ)
- Yêu cầu kết hợp các thành phần câu, thêm các thành phần câu.
- Yêu cầu viết câu theo mẫu cấu tạo có thành phần câu đã cho trước.
Trong các dạng bài tập trên, tôi đặc biệt nhấn mạnh dạng bài tập thứ nhất. Yêu
cầu chỉ ra các thành phần câu (chủ ngữ và vị ngữ)).
Trước hết, muốn xác định được chủ ngữ, vị ngữ trong câu, tôi cho học sinh
hiểu:
Chủ ngữ, vị ngữ gắn bó với nhau bằng quan hệ chủ – vị. Trong mối quan hệ
này, chủ ngữ nêu đối tượng thông báo còn vị ngữ chứa đựng nội dung thông báo về
đối tượng ấy.
Chủ ngữ trả lời câu hỏi: “ai”, “cái gì” , “con gì”,…
Vị ngữ trả lời cho câu hỏi: “làm gì ”,“ Như thế nào”, “ ra sao”…
Ngoài quan hệ ngữ pháp,tôi còn giúp cho học sinh hiểu rõ hơn về quan hệ ý
nghĩa giữa chủ ngữ, vị ngữ như:
+ Chủ ngữ gọi tên sự vật (người, vật, sự việc ) còn vị ngữ miêu tả hoạt động của
sự việc đó.
+ Chủ ngữ nêu sự vật, vị ngữ miêu tả trạng thái của sự vật đó.
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
7
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
+ Chủ ngữ nêu một đối tượng, vị ngữ nêu biểu hiện điều nhận định đó.
CN VN
Từ cách hiểu của học sinh như trên, tôi phải tiếp tục hướng dẫn cho học sinh
dựa vào đặc trưng về cấu tạo của cụm danh từ. Ta nhận thấy tổ hợp những con voi bao
giờ cũng phải có định ngữ kèm theo sau nhằm hạn định, cụ thể hoá ý nghĩa cho danh
từ trung tâm (ở đây “con voi” là danh từ trung tâm ) còn cụm từ: “về đích trước tiên”
trả lời cho câu hỏi: những con voi nào? có như thế ta được cụm từ hoàn chỉnh, cụ thể
hoá (Những con voi về đích trước tiên) chứ không phải ( những con voi về đích cuối
cùng hay về thứ hai, thứ ba nào đó), cả cụm danh từ đó mới đảm nhiệm chức năng làm
bộ phận chủ ngữ của câu. Như vậy, cách làm (2) mới đúng.
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
8
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
Đồng thời giáo viên giúp học sinh hiểu được chủ đích thông báo trong từng
câu văn cụ thể để xác định một cách đúng nhất. Kiểu cấu tạo như đã nói trên của cụm
danh từ Tiếng Việt cũng xuất hiện khá nhiều trong thực tiễn ngôn ngữ.
Ví dụ. Chủ ngữ có thể là các cụm từ sau:
+ Những học sinh đạt kết quả cao trong kì thi giải Toán qua mạng
+ Những ngôi nhà mới được xây dựng
+ Những con chim bông biển trong suốt như thuỷ tinh
+ Những ngả đường bát ngát
Trong quá trình phân tích và tìm hiểu các ví dụ trên, tôi nhận thấy rằng phần
đông học sinh đã nhầm bộ phận “định ngữ sau” của các cụm danh từ trên là vị ngữ
của câu. Bởi vì các em nhận thấy: Về hình thức và nội dung thì các định ngữ: “đạt kết
quả cao trong kì thi giải Toán qua mạng”, “mới được xây dựng”, “bát ngát”, “trong
suốt như thuỷ tinh”…có nhiều nét tương đồng với vị ngữ của câu. Vì vị ngữ đứng sau
danh từ làm chủ ngữ, vị ngữ cũng do động từ hoặc tính từ đảm nhiệm, cũng chỉ hoạt
động hoặc đặc điểm ,trạng thái,…của sự vật nêu lên trong danh từ làm chủ ngữ.
Từ những thực trạng phổ biến của học sinh như vậy, tôi đã phân tích rõ hơn
để học sinh nắm được:
Tuy thoạt nhìn giữa bộ phận “định ngữ sau ”và vị ngữ có những nét giống
Bởi vậy câu vẫn chưa xác lập được cấu trúc cơ bản.
Ví dụ:
Trên nền trời sạch bóng như được giội rửa
Khi những hạt tuyết trắng muốt và lạnh buốt nhè nhẹ rơi trên lá cây
(những cụm từ này mới chỉ có trạng ngữ mà chưa có chủ ngữ, vị ngữ.)
* Câu mới chỉ có bộ phận phụ là cụm danh từ
- Có khi các em gặp những câu văn mà người viết triển khai từ thành cụm danh
từ bằng cách thêm các động từ, tính từ vào làm thành phần phụ rồi lại nhầm tưởng
chúng có thể làm vị ngữ cho danh từ trung tâm và toàn bộ kết cấu đó có thể đóng vai
trò là nòng cốt câu.
Ví dụ:
Bằng trí tuệ sắc bén thông minh của nguời lao động đã đấu tranh không khoan
nhượng chống lễ giáo phong kiến lạc hậu,bảo thủ
(Trường hợp này các em nhầm tưởng danh từ hoặc cụm danh từ đóng vai trò là
một bộ phận nào đấy có thể làm chủ ngữ cho các động từ, tính từ sau đấy. Kết cục là
câu vẫn chưa có chủ ngữ. Các em phân tích nhầm: “người lao động” có thể làm chủ
ngữ trong câu.
* Câu mới chỉ có một bộ phận chính: Chủ ngữ hoặc vị ngữ
Tôi nhận thấy học sinh khi viết văn các em cũng thường hay viết câu thiếu một
trong hai bộ phận chính của câu: chủ ngữ hoặc vị ngữ.
Ví dụ:
Hình ảnh người chiến sĩ mình mặc áo giáp, đầu đội mũ sắt, vung roi sắt xông
vào bị bọn giặc (Câu thiếu vị ngữ ).
Mỗi đồ vật trong căn nhà nhỏ bé, đơn sơ mà ấm cúng (Câu thiếu vị ngữ ).
(trong trường hợp này các em nhầm tưởng: “trong căn nhà nhỏ bé, đơn sơ mà ấm
cúng” là vị ngữ. )
* Câu thiếu vế
Trong Tiếng Việt, các loại câu ghép có quan hệ điều kiện –kết quả, nguyên nhân
– kết quả, nhượng bộ; tăng tiến; quan hệ đối lập, …thường thường bao giờ cũng phải
có hai vế hô ứng liên hoàn với nhau. Nếu không có ngữ cảnh trước nó cho phép thì
tìm ra lỗi của câu sai và sửa câu sai thành câu đúng theo các cách sau:
1.4.3. Hướng dẫn học sinh cách sửa câu sai thành câu đúng
Hiện tượng viết câu sai có rất nhiều nguyên nhân, do nhiều nhân tố chi phối.
Qua một số công trình khảo sát sơ bộ về lỗi câu của học sinh tôi nhận thấy nguyên
nhân học sinh thường viết câu sai là do:
- Do thiếu kiến thức về ngôn ngữ học nói chung và kiến thức về ngữ pháp
Tiếng Việt nói riêng, đặc biệt là thiếu tri thức về câu và ngữ pháp văn bản.
- Do những hạn chế về trình độ văn hoá và tầm hiểu biết chung của các mặt
trong đời sống.
- Năng lực tư duy và sự hiểu biết về lô gích chưa cao, do đó suy nghĩ thiếu chặt
chẽ, mạch lạc, thậm chí có lúc lộn xộn, rối rắm.
-Trí nhớ của các em còn chưa tốt, dẫn đến tình trạng: “Viết sau quên trước”
Từ những nguyên nhân cơ bản trên, tôi nhận thấy rằng phương pháp cụ thể để
phân tích câu sai là: Rút gọn câu để tìm ra các thành phần hạt nhân và các thành phần
ngoài nòng cốt câu, phát hiện lỗi sai rồi tìm nguyên nhân và cách chữa hợp lí. Cụ thể
như sau:
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
11
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
*Dùng bảng so sánh
Mỗi khi dạy cho học sinh, khi gặp câu bị sai yêu câù các em phân tích, tôi thường
dùng bảng so sánh để giúp các em hiểu ra vấn đề một cách rõ ràng nhất, dễ hiểu
nhất .Bảng so sánh có nội dung khái quát như sau:
Ví dụ về câu sai Lỗi trong câu sai Cách sửa
1.Trên mặt nước loang
loáng như gương
Chỉ có trạng ngữ mà chưa
có 2 bộ phận chính: chủ
ngữ và vị ngữ
Thêm vào câu hai bộ
Chẳng hạn:
- Anh bộ đội bị hai vết
thương: Một vết thương ở
cánh tay, một vết thương ở
đùi.
4. Mẹ cháu đi chợ búa. “chợ búa”là một danh
từ tổng hợp, có nghĩa khái
quát, không kết hợp được
với các động từ mang
nghĩa cụ thể ở trước.
Lược bỏ chữ cuối trong
câu văn.
Câu được sửa lại là: Mẹ
cháu đi chợ.
5.Mẹ mua cho con 3 sách,
mẹ nhé !
Từ “sách” không kết hợp
trực tiếp với từ chỉ ”số
lượng “ba”. Trước từ
“sách” thường có một
danh từ chỉ loại như:
quyển, cuốn.
Cần dùng từ kết hợp cho
phù hợp. Từ chỉ số lượng
phải kết hợp với danh từ
chỉ đơn vị như: “quyển,
cuốn”.
Câu được sửa lại là: Mẹ
mua cho con 3 quyển sách,
mẹ nhé!
- Đối chiếu sự khác biệt giữa câu đơn giản này với câu cần sửa sẽ phát hiện ra
chỗ “vênh”. Từ đó chỉ ra được lỗi và cách sửa câu đang xem xét.
Để giúp các em nắm vững bộ phận làm nòng cốt trong câu, tôi thường cho các
em làm một số bài tập về các dạng sau:
Ví dụ: Rút gọn để tìm nòng cốt trong câu sau:
Chúng tôi đang đi bên những thác trắng xoá tựa mây trời, những rừng cây âm
âm, những bông hoa chuối rực lên như ngọn lửa.
Từ ví dụ trên, tôi hướng dẫn các em phân tích: Danh từ làm chủ ngữ thì chỉ có
từ “chúng tôi”, Động từ làm vị ngữ.Trong câu có một động từ trung tâm duy nhất là từ
“đi”, còn lại đều là bộ phận phụ bổ nghĩa cho động từ “đi” này. Vậy nòng cốt câu trên
sẽ là:
Chúng tôi //đi.
CN VN
Dạng 2: Mở rộng nòng cốt câu
Sau khi hướng dẫn học sinh rút gọn để được nòng cốt câu, tôi lại cho các em
phân tích ngược lại để mở rộng nòng cốt câu bằng cách thêm trạng ngữ, định ngữ, bổ
ngữ.
Ví dụ: Mở rộng nòng cốt câu sau: Mặt trời mọc.
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
13
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
Học sinh có thể thêm vào các thành phần phụ để mở rộng nòng cốt câu. Chẳng
hạn câu có thể mở rộng như sau:
Từ phía chân trời đằng đông, trong làn sương mù, mặt trời buổi sớm đang từ từ
mọc lên.
Qua các bài tập thực hành mở rộng nòng cốt câu và rút gọn câu như trên, các
em đã nắm được một cách vững vàng cách viết câu. Khi đọc, các em có thể biết đó là
câu đúng hay câu sai. Câu sai ở điểm nào, cách sửa ra sao. Từ đó kĩ năng nói và viết
câu của các em có tiến bộ rõ rệt.
Một điều tôi cũng rất quan tâm đó là việc trình bày của học sinh. Các em làm
14
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
Với kết quả khảo sát này cho thấy rõ các em đã có tiến bộ vượt bậc so với lúc
chưa áp dụng đề tài. Số lượng học sinh đạt khá và giỏi tăng rõ rệt.
2.1. Dạy thực nghiệm trên lớp đối chứng
Không chỉ dừng lại phạm vi nghiên cứu trong lớp 5 mình đang dạy năm học
2008-2009 Tôi sử dụng ngay bài khảo sát trên để khảo sát lớp Bồi dưỡng học sinh giỏi
lớp 5 năm học 2009-2010 vào đầu năm. Kết quả như sau: (Lớp có 20 em)
Giỏi Khá Trung bình yếu
SL % SL % SL % SL %
5 25,0 7 35,0 5 25,0 3 15,0
Điều này chứng tỏ phương pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng câu đúng
rất quan trọng. Nó góp phần quyết định rất nhiều đến kết quả học tập của học sinh.
Cùng với việc nghiên cứu của mình, tôi hướng dẫn cho các em học theo phương pháp
mới mà mình đang nghiên cứu nhưng tôi sử dụng mềm dẻo và linh hoạt hơn ( do đã
rút kinh nghiệm từ những năm học trước.) Sau một thời gian giảng dạy, tôi khảo sát lại
chất lượng lớp BD5 năm học 2010-2011, với một đề bài tương tự. Kết quả thu được
rất khả quan:
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
13 65,0 7 35,0 / /
Với kết quả thu được ở việc dạy thực nghiệm trên lớp đối chứng, tôi càng vững
vàng tin tưởng vào việc vận dụng phương pháp cho học sinh nhận biết và sử dụng câu
đúng và việc học của các em ngày càng có hiệu quả hơn.
2.2. Khả năng thay thế giải pháp hiện có
Khi giảng dạy, trong thực tế, nhờ áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, tôi có thể
vận dụng linh hoạt để phân tích một cách sâu sắc, rõ ràng tất cả các vấn đề về câu
trong Tiếng Việt. Đề tài có thể giúp học sinh phân tích chủ ngữ, vị ngữ một cách chính
xác nhất mà không hề bị nhầm lẫn với các bộ phận phụ khác trong câu. Các em có thể
dụng câu thành thạo trong học tập và giao tiếp hàng ngày.
- Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 môn Tiếng Việt của trường, của huyện
đạt kết quả cao.
3.2 Tính năng kỹ thuật, chất lượng, hiệu quả sử dụng
- Tính năng kỹ thuật:
+ Các giải pháp được áp dụng đơn giản, dễ vận dụng cho mọi đối tượng giáo
viên đứng lớp.
+ Học sinh sẽ vận dụng một cách dễ dàng, khá linh hoạt trong mọi trường hợp
cần tìm hiểu về câu và cách sử dụng câu.
- Chất lượng của đề tài:
Đề tài đã được vận dụng, áp dụng thử nghiệm ở Trường Tiểu học Mỹ An và đạt
kết quả cao trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 môn Tiếng Việt, được Hội
đồng thẩm định sáng kiến kinh nghiệm cấp Trường công nhận các giải pháp áp dụng
có hiệu quả thiết thực.
- Hiệu quả sử dụng:
Sau 3 năm dạy thử nghiệm, kết quả học tập của học sinh môn Tiếng Việt qua
các kỳ dự học sinh giỏi các cấp được nâng lên rõ rệt. Cụ thể như sau:
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
16
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
Năm học
Số học sinh
dự thi
Số học sinh đạt
cấp Tỉnh môn
TiếngViệt
Số học sinh đạt
cấp Huyện
môn TiếngViệt
Số học sinh
tĩnh. Đặc biệt luôn xem xét phương pháp giảng dạy của mình cho hợp lí, điều chỉnh
sao cho phù hợp với nhận thức của học sinh, gây được hứng thú học tập cho các em.
- Không ngừng học hỏi, trao đổi với đồng nghiệp để nghiên cứu đổi mới
phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy – học. Trong giảng dạy, người
giáo viên không nên áp đặt học sinh mà coi nhiệm vụ học của học sinh là quan trọng,
là nhân tố chủ yếu của kết qủa giáo dục.
- Luôn gợi mở, định hướng cho học sinh tìm tòi, khám phá kiến thức mới. Củng
cố lại các kiến thức này bằng một số bài tập xoay quanh chủ đề đã học. Giáo viên là
người rèn cho học sinh cách tư duy thông minh, sáng tạo và luôn làm việc độc lập,
nâng cao kết quả tự học của mình; tạo cho các em có niềm vui học tập, có hứng thú
đặc biệt trong học tập. Giáo viên là người luôn luôn dẫn dắt và giải quyết tình huống
vướng mắc cho học sinh.
- Giáo viên phải tôn trọng, nghiêm túc thực hiện phương pháp giáo dục từ
những điều đơn giản mới đến nâng cao, khắc sâu, …Để giúp học sinh nắm vững cách
giải quyết các bài tập về nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp, giáo viên cũng cần
lưu ý các điểm sau:
+ Tìm ra phuơng pháp tổ chức cho phù hợp với từng dạng bài tập.
+ Gợi ý cho học sinh hướng giải quyết các dạng bài khác nhau. Học sinh cần
nắm được các bước tiến hành làm một bài tập.
- Lưu ý cho học sinh cách trình bày bài sạch sẽ, khoa học. Rèn chữ viết đúng,
đẹp cho các em.
2.Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp
- Giúp giáo viên nắm được phương pháp nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ
pháp để giảng dạy cho học sinh.
- Giúp học sinh biết hoạt động độc lập, biết tự tìm tòi kiến thức, vận dụng làm
bài tập một cách chủ động.
-Với phương pháp tổ chức này, học sinh nắm kiến thức một cách có cơ sở, sâu
sắc và vững chắc, hình thành ở các em thói quen đọc bài, xác định yêu cầu của đề bài;
Có ý thức trình bày bài sạch sẽ, khoa học, biết dùng từ, đặt câu hợp lí, biết sử dụng câu
đúng ngữ pháp, đúng văn cảnh. Ngoài ra các em có thêm thói quen kiểm tra, soát lại
+ Động viên khuyến khích kịp thời những giáo viên, học sinh đạt nhiều thành
tích cao trong giảng dạy và học tập.
+ Quan tâm xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ và tay nghề cao.
Trên đây chính là những kinh nghiệm, những giải pháp mà tôi đã đúc kết được
trong thực tế giảng dạy và đã mang lại hiệu quả thiết thực. Bản thân mong muốn được
chia sẻ, góp ý kiến bổ sung của các nhà quản lý chuyên môn, các bạn đồng nghiệp để
đề tài được hoàn chỉnh hơn và có thể áp dụng rộng rãi hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Mỹ An, ngày 20 tháng 3 năm 2012
Người viết đề tài
Đinh Thị Hòa Bình
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
19
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
MỤC LỤC
Trang
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
20