Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
Đề tài : SÁNG TẠO VÀ CẢI TIẾN MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
GIÚP HỌC SINH GIỎI LỚP 5 NHẬN BIẾT VÀ SỬ DỤNG
CÂU ĐÚNG NGỮ PHÁP
Tác giả: Đinh Thị Hòa Bình
PHẦN A. MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
1. Thực trạng của vấn đề
Từ ngàn xưa, để răn dạy con cháu, ông cha ta có câu: “ Học ăn, học nói, học
gói, học mở”. Thật vậy: “ Học nói” chính là một việc rất cơ bản mà con người cần
phải được giáo dục ngay từ lúc mới bi bô biết gọi mẹ, nó theo chân ta đến suốt cả cuộc
đời. Vậy phải nói thế nào cho đúng, cho người nghe, người đọc hiểu rõ ý của mình là
cả một vấn đề mà mọi người chúng ta phải học tập. Việc này cần phải được rèn luyện
ngay từ khi mới bước vào bậc Tiểu học.
Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học quan trọng. Môn học
này giúp học sinh biết đọc thông, viết thạo, biết sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xác và
có kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày. Những kiến thức của môn
Tiếng Việt là tiền đề, là cơ sở cho học sinh tiếp cận với các môn học khác. Chính vì
vậy, việc dạy và học Tiếng Việt trong nhà trường, đặc biệt là dạy về câu luôn được
chú trọng. Một trong những công tác mũi nhọn quan trọng trong nhà trường là phát
hiện và bồi dưỡng những mầm non năng khiếu đã và đang được các cấp quan tâm.
Bên cạnh việc đọc thông viết thạo, học tốt về câu, sử dụng câu chính xác sẽ bồi dưỡng
cho các em tình yêu quê hương đất nước, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng
Việt và bản sắc văn hóa dân tộc.
1.1. Đối với chương trình sách giáo khoa
Trong chương trình bậc Tiểu học, kiến thức về câu thường được bố trí rất
khiêm tốn, phần lớn là lồng ghép khi dạy nội dung các tiết ở các phân môn trong bộ
môn Tiếng Việt. Chính vì vậy, việc giúp cho học sinh, đặc biệt là học sinh giỏi lớp 5
hiểu rõ về câu, viết và sử dụng câu đúng về ngữ pháp, hay về nội dung là một vấn đề
rất khó khăn.
- Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, ít tìm tòi cái mới, ít tìm tòi
phương pháp gây hứng thú cho các em trong giờ học. Điều này có ảnh hưởng không
tốt đến cách học và khả năng tiếp thu bài của học sinh.
- Thực tế trong trường tôi công tác, phần lớn giáo viên đều không ngừng tìm
tòi, suy nghĩ, tích cực nâng cao kiến thức của mình để dạy cho học sinh, đặc biệt là
dạy bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 môn Tiếng Việt nhưng kết quả giảng dạy còn bộc lộ
không ít hạn chế.
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới
2.1 Ý nghĩa
Giải pháp mới của đề tài giúp học sinh nhận biết được vẻ đẹp của ngôn ngữ
Việt Nam được thể hiện trong lời nói, trong các văn cảnh cụ thể. Đề tài còn có ý nghĩa
tích cực hơn khi giúp học sinh hiểu rõ cái hay, cái đẹp trong các văn bản (nói và viết)
bằng Tiếng Việt và điều đặc biệt hơn cả là học sinh sẽ có một vốn kiến thức hết sức
sâu sắc, chính xác về câu và vận dụng các kiến thức này một cách linh hoạt trong học
tập và trong cuộc sống hàng ngày.
2.2 Tác dụng của giải pháp mới
Đề tài sẽ giúp cho học sinh nắm vững chắc các kiến thức về câu, không nhầm
lẫn các bộ phận trong câu. Phân tích đúng các bộ phận chính và phụ trong câu. Các
em sẽ biết bộ phận nào trong câu bị khuyết, bị sai, cách sửa chúng như thế nào và một
điều rất cơ bản là giúp học sinh sử dụng câu thành thạo, hiểu về câu sâu sắc để các em
có thể vận dụng chúng một cách linh hoạt trong học tập và trong đời sống xã hội.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu ở Trường Tiểu học Mỹ An, chủ yếu trong nội dung
chương trình môn Tiếng Việt lớp 5 và đặc biệt là những kiến thức nâng cao của môn
Tiếng Việt nhằm cung cấp cho học sinh giỏi lớp 5 cái nhìn sâu sắc về câu, cách sử
dụng câu thành thạo, nhuần nhuyễn và chính xác trong mọi hoàn cảnh.
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
ngay cả bản thân tôi.
Từ những lí do khách quan và chủ quan trên, thông qua việc học tập và giảng
dạy trong những năm qua, tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu sâu hơn về cách hướng
dẫn HS giỏi lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp nhằm tìm ra được phương
pháp, hình thức tổ chức phù hợp nhất, vận dụng tốt nhất cho quá trình giảng dạy.
2. Các biện pháp và thời gian tiến hành
2.1. Các biện pháp tiến hành
Trong khi nghiên cứu đề tài tôi đã tiến hành song song nhiều biện pháp từ
nghiên cứu thực trạng trên lớp mình dạy học đến việc tìm tòi suy nghĩ để tìm ra cách
giảng dạy tốt nhất. Tôi đã sử dụng nhiều phương pháp như sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận. (đọc tài liệu)
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp phân tích, thực hành.
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm.
2.2. Thời gian nghiên cứu đề tài
- Tôi đọc và nghiên cứu tài liệu, điều tra thực tế bắt đầu từ tháng 9 năm 2008
- Dạy thực nghiệm trên lớp từ năm 2009.
- Viết bản nháp cho đề tài từ tháng 2 năm 2011.
- Hoàn thành đề tài vào cuối tháng 3 năm 2012.
PHẦN B. NỘI DUNG
I. Mục tiêu
Đề tài nhằm giúp cho giáo viên và học sinh Giỏi lớp 5 nhận biết, hiểu về câu
1.3 Cách tiến hành
Với đặc trưng của môn Tiếng Việt, khi dạy về câu, để giúp các em nắm chắc
kiến thức và sử dụng nhuần nhuyễn chúng. Tôi đã nghiên cứu và rút ra được nhiều
kinh nghiệm thông qua các bài học trên lớp. Trước hết, tôi yêu cầu học sinh làm theo
các bước sau:
1. Đọc thật kĩ đề bài.
2. Nắm chắc yêu cầu của đề bài, phân tích mối quan hệ giữa cái đã cho và yếu
tố phải tìm.
3. Vận dụng kiến thức đã học để thực hiện lần lượt từng yêu cầu của đề bài.
4. Kiểm tra đánh giá.
5. Rút kinh nghiệm qua các tiết dạy.
1.4 Phương pháp tổ chức dạy cho học sinh nhận biết và sử dụng câu đúng
ngữ pháp
Phương pháp tổ chức dạy cho học sinh nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
bằng các kiểu hình thức và kĩ năng khi học sinh học về câu được rèn luyện thông qua
lí thuyết và bài tập thực hành nhằm giúp học sinh hiểu rõ thế nào là câu đúng, thế nào
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
là câu sai và cách sửa câu sai thành câu đúng.
1.4.1 Hướng dẫn học sinh nhận biết câu đúng ngữ pháp
* Định nghĩa về câu:
Câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn ngữ có kèm theo thái độ của người
nói (nguời viết) được cấu tạo theo những quy tắc nhất định, có tính tự lập và mang ngữ
điệu kết thúc.
- Xét về mặt tôn ti trật tự, câu là đơn vị ngữ pháp trên từ, cụm từ và dưới đoạn
văn.
- Xét về mặt hình thức, câu có cấu tạo thông thường là một kết cấu chủ –vị (ví
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
Muốn có một câu, ít nhất phải đảm bảo sự hiện diện của một cấu trúc nòng cốt.
Trong đều kiện bình thường, kết cấu đó thường là một kết cấu chủ-vị.
Trong khi dạy học, tôi luôn nhấn mạnh cho các em rằng: Chủ ngữ và vị ngữ là
hai thanh phần chính của câu. Chủ ngữ nêu sự vật nói đến trong câu; vị ngữ chỉ hoạt
động hoặc trạng thái, tính chất, vị trí, để miêu tả hoặc nhận xét về người, sự vật được
nêu ở chủ ngữ.
Trong câu, chủ ngữ thường đứng trước vị ngữ. Có câu chỉ có một chủ ngữ, một
vị ngữ. Cũng có câu có nhiều chủ ngữ, nhiều vị ngữ.
Ngoài hai thành phần chính, câu còn có một thành phần phụ thường đứng ở đầu
câu, bổ sung ý nghĩa về tình huống câu gọi là trạng ngữ. Trạng ngữ có thể chỉ thời
gian, nơi chốn, mục đích, nguyên nhân ….
Các danh từ, động từ, tính từ trong câu cũng có thể có thành phần phụ. Những
từ ngữ nêu ra chi tiết, ý cụ thể thêm cho sự vật được nêu ở danh từ trong câu, gọi là
định ngữ. Danh từ có thể có định ngữ ở trước hoặc sau. Còn những từ ngữ nêu chi tiết,
ý cụ thể thêm cho hành động, trạng thái, tính chất của động từ và tính từ trong câu gọi
là bổ ngữ. Có những bổ ngữ đứng sau động từ, tính từ.
Để giúp học sinh nắm vững phần này, tôi thường cho các em nắm vững lí
thuyết sau đó vận dụng làm bài tập với các dạng sau:
- Yêu cầu chỉ ra các thành phần câu (chủ ngữ và vị ngữ)
- Yêu cầu kết hợp các thành phần câu, thêm các thành phần câu.
- Yêu cầu viết câu theo mẫu cấu tạo có thành phần câu đã cho trước.
Trong các dạng bài tập trên, tôi đặc biệt nhấn mạnh dạng bài tập thứ nhất. Yêu
cầu chỉ ra các thành phần câu (chủ ngữ và vị ngữ)).
Trước hết, muốn xác định được chủ ngữ, vị ngữ trong câu, tôi cho học sinh
“Tiếng suối chảy //róc rách.” (2)
CN
VN
Từ hai ý kiến trên của học sinh, tôi đã hướng dẫn tìm ra cách xác định nào là
đúng. Trước hết, tôi yêu cầu học sinh dựa vào quan hệ lô gíc giữa chủ ngữ, vị ngữ ta
thấy rằng: “Tiếng suối ” là âm thanh. Bởi thế nên âm thanh có “chảy” được không?
(Học sinh trả lời: “âm thanh ” không chảy được.)
Giáo viên: Vậy “tiếng suối ” chảy được không?
( Học sinh: “Tiếng suối”thì không chảy được.)
Từ đó giúp học sinh thấy được cách hiểu, cách làm (1) của học sinh là không
hợp lí. Còn cách hiểu, cách làm (2) ta xác định: “Tiếng suối chảy” là chủ ngữ và “ róc
rách” là vị ngữ đó là cách hiểu hợp lí, phù hợp về quan hệ lô gíc, quan hệ ý nghĩa giữa
chủ ngữ, vị ngữ ở trong câu.
Sau đó tôi tiếp tục đưa ra ví dụ 2 trong câu sau:
“Những con voi về đích trước tiên huơ vòi chào khán giả.”
Lần này vẫn có hai trường hợp mà học sinh đưa ra:
-“Những con voi //về đích trước tiên huơ vòi chào khán giả.” (1)
CN
VN
- “Những con voi về đích trước tiên// huơ vòi chào khán giả.” (2)
CN
VN
Từ cách hiểu của học sinh như trên, tôi phải tiếp tục hướng dẫn cho học sinh
dựa vào đặc trưng về cấu tạo của cụm danh từ. Ta nhận thấy tổ hợp những con voi bao
giờ cũng phải có định ngữ kèm theo sau nhằm hạn định, cụ thể hoá ý nghĩa cho danh
từ trung tâm (ở đây “con voi” là danh từ trung tâm ) còn cụm từ: “về đích trước tiên”
trả lời cho câu hỏi: những con voi nào? có như thế ta được cụm từ hoàn chỉnh, cụ thể
hoá (Những con voi về đích trước tiên) chứ không phải ( những con voi về đích cuối
cùng hay về thứ hai, thứ ba nào đó), cả cụm danh từ đó mới đảm nhiệm chức năng làm
bộ phận chủ ngữ của câu. Như vậy, cách làm (2) mới đúng.
Vì vậy, trong các ví dụ trên, các từ ngữ: “ đạt kết quả trong kì thi tốt nghiệp
tiểu học”, “mới được xây dựng”, “ bát ngát”, “trong suốt như thuỷ tinh”,…chỉ là định
ngữ đứng sau cụm danh từ và chính cả cụm danh từ đó mới được coi là chủ ngữ của
câu.
Với cách giảng dạy cặn kẽ như trên nên học sinh rất dễ hiểu bài, hiểu một
cách thấu đáo về cách phân tích chủ ngữ, vị ngữ trong câu, kết quả học tập của học
sinh tiến bộ rõ rệt.
Bên cạnh việc giúp học sinh nhận biết câu đúng tôi còn cho các em nhận ra
câu sai do những nguyên nhân gì, các lỗi nào thường gặp trong câu sai. Tôi hướng
dẫn các em tìm hiểu như sau:
1.4.2. Hướng dẫn học sinh nhận biết các lỗi thường gặp trong câu sai
Câu sai là câu có cấu trúc cú pháp không phù hợp với quy tắc cấu tạo câu của
Tiếng Việt hoặc nội dung câu chưa hợp lí về mặt lô gíc và ngữ nghĩa.
Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy lỗi các em gặp phải khi viết câu khá
phức tạp và đa dạng. Ở đây, tôi chỉ giới thiệu một số lỗi phổ biến mà các em thường
mắc phải, cần chú trọng khắc phục ngay. Các lỗi cụ thể như sau:
* Câu mới chỉ có bộ phận trạng ngữ
-Trong trường hợp này, câu mới chỉ có kết cấu giới từ hoặc cụm danh từ chỉ
thời gian, vị trí, địa điểm, phương tiện, … Thông thường, trong Tiếng Việt, các tổ hợp
này thường đóng vai trò trạng ngữ, không thể gánh chức năng cấu trúc cơ bản của câu.
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
Bởi vậy câu vẫn chưa xác lập được cấu trúc cơ bản.
Ví dụ:
Trên nền trời sạch bóng như được giội rửa
Khi những hạt tuyết trắng muốt và lạnh buốt nhè nhẹ rơi trên lá cây
(những cụm từ này mới chỉ có trạng ngữ mà chưa có chủ ngữ, vị ngữ.)
Trong trường hợp này các em dùng cặp quan hệ từ không phù hợp với nội dung
trong từng vế câu. Trong câu các em sử dụng cặp quan hệ từ đúng nhưng không phù
hợp với ý nghĩa trong từng vế. Điều này dẫn đến câu bị sai.
Ví dụ:
Tuy mẹ ốm nhưng mẹ đã làm việc quá sức.
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
Vì thời tiết xấu nên buổi chào cờ của trường không bị hoãn lại.
* Câu sai quan hệ lô gích
Trong trường hợp này các em thường viết sai do không nhất quán về mặt diễn
đạt.
Ví dụ:
Anh ấy bị hai vết thương: một vết thương ở tim, một vết thương ở Bình Định.
Bây giờ ta đi chơi hay là chăm học.
* Câu dùng các từ ngữ kết hợp chưa hợp lí
Khi học sinh viết câu, đôi khi các em chọn từ chưa hợp lí khiến cho các thành
phần trong câu không thể kết hợp được với nhau. Ở dạng này, lỗi phổ biến nhất của
các em là dùng các danh từ có nghĩa khái quát kết hợp với động từ mang nghĩa cụ thể
làm cho câu văn bị sai.
Ví dụ:
Bạn Vân đang nấu cơm nước.
Bác nông dân đang cày ruộng nương.
Mẹ cháu đi chợ búa.
Từ thực trạng trên có thể gặp một số câu sai như trên tôi đã hướng dẫn học sinh
tìm ra lỗi của câu sai và sửa câu sai thành câu đúng theo các cách sau:
1.4.3. Hướng dẫn học sinh cách sửa câu sai thành câu đúng
Hiện tượng viết câu sai có rất nhiều nguyên nhân, do nhiều nhân tố chi phối.
có 2 bộ phận chính: chủ phận chính: Chủ ngữ và vị
ngữ và vị ngữ
ngữ.
Câu được sửa lại là:Trên
mặt nước loang loáng như
gương, từng đàn thiên nga
bơi lội tung tăng.
2. Mỗi đồ vật trong căn - Chỉ có chủ ngữ, thiếu bộ
Thêm vị ngữ cho câu.
nhà nhỏ bé, đơn sơ mà ấm phận vị ngữ.
Câu được sửa lại là: Mỗi
cúng.
đồ vật trong căn nhà nhỏ
bé, đơn sơ mà ấm cúng đều
in đậm bao kỉ niệm thân
thương.
3. Anh bộ đội bị hai vết
Cách diễn đạt trong
- Sửa lại cách diễn đạt
thương: một vết thương ở câu chưa hợp lí, thiếu nhất cho phù hợp, thống nhất.
cánh tay, một vết thương ở quán (trong hai vết thương Chẳng hạn:
Điện Biên Phủ.
của anh bộ đội , một vết - Anh bộ đội bị hai vết
thương trên thân thể anh, thương: Một vết thương ở
còn vết thương kia lại ở cánh tay, một vết thương ở
chiến trường.)
đùi.
4. Mẹ cháu đi chợ búa.
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
7. Tuy nhà rất gần trường
Dùng cặp từ chỉ quan hệ
Thay đổi ý nghĩa của
nhưng bạn Oanh không không phù hợp với ý nghĩa vế câu cho phù hợp:
bao giờ đến lớp muộn.
của vế câu
Câu được sửa lại là:
Tuy nhà rất xa trường
nhưng bạn Oanh không
bao giờ đến lớp muộn.
Hướng dẫn học sinh kĩ năng rèn luyện viết câu văn đúng và hay
Để rèn cho học sinh có kĩ năng viết văn tốt, sau khi cho các em phân biệt chính
xác về các bộ phận trong câu, biết các dạng lỗi về câu, tôi lại rèn cho các em cách viết
câu thành thạo bằng cách rút gọn và mở rộng câu.
Dạng 1: Rút gọn để tìm nòng cốt câu
-Tìm bộ phận cốt lõi trong câu. Tìm động từ hoặc tính từ trung tâm làm vị ngữ
của câu đó rồi nghĩ tới những câu thật đơn giản, ngắn gọn có sử dụng động từ hoặc
tính từ trung tâm đó.
- Đối chiếu sự khác biệt giữa câu đơn giản này với câu cần sửa sẽ phát hiện ra
chỗ “vênh”. Từ đó chỉ ra được lỗi và cách sửa câu đang xem xét.
Để giúp các em nắm vững bộ phận làm nòng cốt trong câu, tôi thường cho các
em làm một số bài tập về các dạng sau:
Ví dụ: Rút gọn để tìm nòng cốt trong câu sau:
Chúng tôi đang đi bên những thác trắng xoá tựa mây trời, những rừng cây âm
âm, những bông hoa chuối rực lên như ngọn lửa.
Từ ví dụ trên, tôi hướng dẫn các em phân tích: Danh từ làm chủ ngữ thì chỉ có
dụng phương pháp nghiên cứu, tôi đã tiến hành khảo sát để xem sự chuyển biến của
học sinh sau khi các em được học theo phương pháp tôi dạy.
Đề bài khảo sát
1. Các dòng sau đã thành câu chưa? Vì sao?
a. Khi những hạt tuyết trắng muốt và lạnh buốt bắt đầu rơi xuống
b. Trên bầu trời lấp lánh những vì sao ấy
c. Để cô giáo vui lòng
2. Hãy mở rộng nòng cốt câu sau:
a. Học sinh học.
b. Nam chạy.
3. Hãy rút gọn để tìm bộ phận nòng cốt trong các câu sau:
a. Đột ngột và mau lẹ,,chú ve ráng hết sức cong người chồm lên cái xác của
mình, bám chặt lấy vỏ cây, rút nốt đôi cánh mềm ra khỏi xác ve.
b. Từ tít trên cao kia, mùi hoa lí dịu dàng toả xuống và tiếng những bạn ve ánh
ỏi.
4. Phân tích chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ trong các câu sau:
a. Mặt hồ là một bức tranh tuyệt mĩ vì nó có những ngọn núi chót vót bao
quanh.
b. Mặt hồ là một bức tranh tuyệt mĩ in hình những ngọn núi cao chót vót bao
quanh.
Qua quá trình khảo sát, kết quả thu được như sau: (lớp có 20 em)
Giỏi
SL
10
Khá
%
50,0
SL
Giỏi
SL
5
Khá
%
25,0
SL
7
%
35,0
Trung bình
SL
%
5
25,0
yếu
SL
3
%
15,0
Điều này chứng tỏ phương pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng câu đúng
rất quan trọng. Nó góp phần quyết định rất nhiều đến kết quả học tập của học sinh.
Cùng với việc nghiên cứu của mình, tôi hướng dẫn cho các em học theo phương pháp
Với kết quả thu được ở việc dạy thực nghiệm trên lớp đối chứng, tôi càng vững
vàng tin tưởng vào việc vận dụng phương pháp cho học sinh nhận biết và sử dụng câu
đúng và việc học của các em ngày càng có hiệu quả hơn.
2.2. Khả năng thay thế giải pháp hiện có
Khi giảng dạy, trong thực tế, nhờ áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, tôi có thể
vận dụng linh hoạt để phân tích một cách sâu sắc, rõ ràng tất cả các vấn đề về câu
trong Tiếng Việt. Đề tài có thể giúp học sinh phân tích chủ ngữ, vị ngữ một cách chính
xác nhất mà không hề bị nhầm lẫn với các bộ phận phụ khác trong câu. Các em có thể
vận dụng kiến thức đã học về câu để viết những câu văn đúng về mặt nội dung, hoàn
chỉnh về mặt ngữ pháp. Tránh được hiện tượng viết “câu què, câu cụt” hoặc những câu
quá rườm rà. Học sinh tích cực học tập, học một cách tự giác, làm bài nhanh, tiết kiệm
được thời gian cho cả học sinh và giáo viên. Sáng kiến này có thể vận dụng một cách
linh hoạt. Tuy nó không thay thế hoàn toàn những phương pháp cũ để tìm hiểu về câu
nhưng nó sẽ là một đòn bẩy tích cực, một điểm tựa quan trọng để học sinh có thể nắm
vững các kiến thức về câu một cách dễ dàng, sâu sắc, đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, tùy
theo tình hình thực tế của địa phương, của trường, của lớp, của từng đối tượng học
sinh mà giáo viên có thể sử dụng linh hoạt các giải pháp trên để đạt được hiệu quả cao
nhất trong quá trình giảng dạy.
2.3. Khả năng áp dụng
Qua các năm,tôi liên tục thực dạy và áp dụng đề tài này cho việc bồi dưỡng
HSG lớp 5 ở trường Tiểu học Mỹ An và đạt hiệu quả rất cao.
Đề tài này đã áp dụng một cách linh hoạt trong môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học,
đặc biệt rất có hiệu quả đối với việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt lớp 5 để
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
Đề tài : Sáng tạo và cải tiến một số phương pháp giúp HSG lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp
các em tham dự các kì thi HSG cấp Huyện, cấp Tỉnh. Nó không những giúp cho giáo
viên bồi dưỡng nghiên cứu những vấn đề về câu và cách sử dụng câu chính xác trong
Số học sinh
dự thi
2008-2009
2009-2010
2010-2011
7
6
6
Số học sinh đạt Số học sinh đạt
Số học sinh
cấp Tỉnh môn
cấp Huyện
không đạt môn
TiếngViệt
môn TiếngViệt
Tiếng Việt
6
1
0
6
0
0
6
0
0
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
người giáo viên cần chú ý:
-Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên không nên nóng vội mà phải bình
tĩnh. Đặc biệt luôn xem xét phương pháp giảng dạy của mình cho hợp lí, điều chỉnh
sao cho phù hợp với nhận thức của học sinh, gây được hứng thú học tập cho các em.
- Không ngừng học hỏi, trao đổi với đồng nghiệp để nghiên cứu đổi mới
phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy – học. Trong giảng dạy, người
giáo viên không nên áp đặt học sinh mà coi nhiệm vụ học của học sinh là quan trọng,
là nhân tố chủ yếu của kết qủa giáo dục.
- Luôn gợi mở, định hướng cho học sinh tìm tòi, khám phá kiến thức mới. Củng
cố lại các kiến thức này bằng một số bài tập xoay quanh chủ đề đã học. Giáo viên là
người rèn cho học sinh cách tư duy thông minh, sáng tạo và luôn làm việc độc lập,
nâng cao kết quả tự học của mình; tạo cho các em có niềm vui học tập, có hứng thú
đặc biệt trong học tập. Giáo viên là người luôn luôn dẫn dắt và giải quyết tình huống
vướng mắc cho học sinh.
- Giáo viên phải tôn trọng, nghiêm túc thực hiện phương pháp giáo dục từ
những điều đơn giản mới đến nâng cao, khắc sâu, …Để giúp học sinh nắm vững cách
giải quyết các bài tập về nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp, giáo viên cũng cần
lưu ý các điểm sau:
+ Tìm ra phuơng pháp tổ chức cho phù hợp với từng dạng bài tập.
+ Gợi ý cho học sinh hướng giải quyết các dạng bài khác nhau. Học sinh cần
nắm được các bước tiến hành làm một bài tập.
- Lưu ý cho học sinh cách trình bày bài sạch sẽ, khoa học. Rèn chữ viết đúng,
đẹp cho các em.
2.Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp
- Giúp giáo viên nắm được phương pháp nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ
pháp để giảng dạy cho học sinh.
- Giúp học sinh biết hoạt động độc lập, biết tự tìm tòi kiến thức, vận dụng làm
bài tập một cách chủ động.
-Với phương pháp tổ chức này, học sinh nắm kiến thức một cách có cơ sở, sâu
sắc và vững chắc, hình thành ở các em thói quen đọc bài, xác định yêu cầu của đề bài;
+ Nhà trường cần tạo điều kiện để giáo viên và học sinh có thể học tập nâng cao
kiến thức.
+Tạo điều kiện cho giáo viên nâng cao tay nghề qua việc cung cấp các loại sách
tham khảo.
+ Động viên khuyến khích kịp thời những giáo viên, học sinh đạt nhiều thành
tích cao trong giảng dạy và học tập.
+ Quan tâm xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ và tay nghề cao.
Trên đây chính là những kinh nghiệm, những giải pháp mà tôi đã đúc kết được
trong thực tế giảng dạy và đã mang lại hiệu quả thiết thực. Bản thân mong muốn được
chia sẻ, góp ý kiến bổ sung của các nhà quản lý chuyên môn, các bạn đồng nghiệp để
đề tài được hoàn chỉnh hơn và có thể áp dụng rộng rãi hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Mỹ An, ngày 20 tháng 3 năm 2012
Người viết đề tài
Đinh Thị Hòa Bình
MỤC LỤC
Trang
PHẦN A. MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
1. Thực trạng của vấn đề
1.1. Đối với chương trình sách giáo khoa
1.2. Đối với học sinh
1.3 Đối với giáo viên
Chủ đề tài: Đinh Thị Hòa Bình - Giáo viên trường Tiểu học Mỹ An
1
1
1
4
I. Mục tiêu
4
II. Mô tả giải pháp của đề tài
5
1.Tính mới của đề tài
5
1.1 Đề tài này mới ở các điểm sau:
5
1.2 Nội dung của đề tài được thể hiện cụ thể như sau:
5
1.3 Cách tiến hành
5
1.4 Phương pháp tổ chức dạy cho học sinh nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ
pháp
5
1.4.1 Hướng dẫn học sinh nhận biết câu đúng ngữ pháp
6
1.4.2. Hướng dẫn học sinh nhận biết các lỗi thường gặp trong câu sai
9
1.4.3. Hướng dẫn học sinh cách sửa câu sai thành câu đúng
11
2. Khả năng áp dụng
14
2.1. Dạy thực nghiệm trên lớp đối chứng
14
2.2. Khả năng thay thế giải pháp hiện có
15
2.3. Khả năng áp dụng
15