BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA NGÂN HÀNG
MÔN: THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ
THỊ TRƯỜNG MỞ VÀ THỰC TẾ MỘT SỐ HÌNH THỨC
ÁP DỤNG VÀ HIỆU QUẢ TẠI VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : Cô Thân Thị Vi Linh
LỚP : TTTT ca 4 chiều thứ 2
THÀNH VIÊN NHÓM
TRẦN XUÂN QUẢN (CAP)
LÊ HUY NHẤT
CHU DUY KHÁNH
PHẠM TRUNG HIẾU
ĐỐ VĂN THƯ
NGUYỄN DUY MINH
VŨ QUANG SÁNG
PHẠM ANH TUẤN
NGUYỄN TRỌNG ĐỨC
HOÀNG XUÂN TRƯỜNG
LÊ QUANG TRUNG
LỚP TTQTC K11
2
LỜI NÓI ĐẦU
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam có vai trò quan
trọng trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng, kìm chế lạm phát, ổn định giá trị
đồng tiền. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong những
năm gần đây đã có sự phát triển đúng hướng và phù hợp với chính sách kinh tế vĩ
mô. Tuy nhiên, bên cạnh đó việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia còn nhiều
bất cập, hạn chế, chưa tỏ ra nhạy bén và các chính sách của Ngân hàng nhà nước
Vào những năm 1920, xảy ra một sự kiện đặc biệt quan trọng – FED phát hiện
ra NVTTM. Khi FED được thành lập, nguồn thu nhập của nó hoàn toàn chỉ là từ lãi
thu được của những khoản tín dung cấp cho các ngân hàng thành viên. Sau cuộc suy
thoái 1920-1921, khối lượng vay chiết khấu giảm sút nghiêm trọng và FED rất túng
tiền. Nó giải quyết vấn đề này bằng cách mua các chứng khoán sinh lãi. Khi làm
như vậy, FED phát hiện ra rằng, dự trữ trong hệ thống NHTM tăng lên và những
khoản cho vay và tiền gửi ngân hàng tăng lên gấp bội. Kết quả đó ngày nay đối với
chúng ta rất hiển nhiên nhưng đối với FED lúc bấy giờ là một phát hiện. Một công
cụ mới của chính sách tiền tệ ra đời, và vào cuối những năm 1920, đó là một vũ khí
quan trọng nhất trong kho vũ khí của FED.
4
2. Định nghĩa NVTTM.
NVTTM là hoạt động NHTW mua vào hoặc bán ra những GTCG của chính
phủ trên thị trường. Thông qua hoạt động mua bán GTCG, NHTW tác động trực
tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng cung
ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường.
NVTTM là một trong các công cụ được NHNN sử dụng để thực thi chính
sách tiền tệ quốc gia.
3. Cơ chế tác động của NVTTM.
Thông qua hoạt động mua, bán các GTCG trên thị trường mở, NHTW đã tác
động trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức
lãi suất trên thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách
tiền tệ cả về mặt giá và mặt lượng.
3.1. Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng.
Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác
động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua ảnh hưởng đến
tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia OMO)
và tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác
tham gia OMO).
Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng
vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Đến lượt nó, cung cầu tiền
trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi. Mức lãi
suất ngắn hạn này, thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage
về lãi suất, sẽ truyền tác động tới các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường
tài chính. Tại một mức lãi suất thị trường xác định, tổng cầu AD của nền kinh tế,
và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết định.
Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất
Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu
về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó. Khi giá chứng khoán thay đổi,
tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi. Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ
6
Cung TPKB
tăng
NHTW bán
TPKB
Dự trữ NH
giảm
Đầu tư
giảm
Cung của quỹ
cho vay giảm
Lãi suất ngắn
hạn tăng
Lãi suất thị
trường tăng
Giá TPKB
giảm
LS thị trường
tăng
tăng
Tín phiếu NHTW là loại GTCG ngắn hạn do NHTW phát hành để làm công
cụ cho OMO. Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hàng hoá trên thị trường mở có
một số ưu điểm như tăng cường tính độc lập của NHTW trong việc thực thi
CSTT và là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụng
Tuy nhiên, việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi CSTT sẽ làm cho chi
phí hoạt động của NHTW tăng lên, mặc dù NHTW hoạt động không vì mục tiêu
lợi nhuận. Việc sử dụng tín phiếu NHTW đòi hỏi phải có sự phối hợp nhất định
với Bộ Tài chính. Khi NHTW và Bộ Tài chính đồng thời phát hành tín phiếu
NHTW và tín phiếu kho bạc, nếu lãi suất chênh lệch thì các đối tác trên thị
trường mở sẽ tập trung mua loại tín phiếu có lãi suất cao hơn. Khi đó sẽ có sự
phân khúc giữa thị trường tín phiếu kho bạc và thị trường tín phiếu NHTW, làm
cho mục đích phát hành các GTCG này không đạt được và có thể làm giảm hiệu
quả tác động của 2 loại hàng hoá này.
4.3. Chứng chỉ tiền gửi.
Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của ngân hàng hay các định chế tài chính
phi ngân hàng phát hành. Xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngân hàng trong
một thời gian nhất định với một mức lãi xuất định trước. Thời hạn của chứng chỉ
tiền gửi thường là ngắn hạn (cũng có trường hợp thời hạn lên tới 3-5 năm). Sự ra
đời của chứng chỉ tiền gửi đánh dấu sự thay đổi căn bản trong cơ chế quản lý ngân
hàng: Chuyển từ quản lý tài sản nợ sang quản lý tài sản có vì nó cung cấp một hình
thức huy động vốn chủ động cho ngân hàng thay vì phải phụ thuộc vào người gửi
tiền. Tính ưu việt của chứng chỉ tiền gửi chính là sức sống của nó, và do đó nó
được sử dụng như là hàng hoá phổ biến trong nghiệp vụ thị trường mở.
4.4. Thương phiếu.
Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam
kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian xác định.
8
Đây là giấy nhận nợ được phát hành bởi các doanh nghiệp nhằm bổ sung nhu cầu
vốn ngắn hạn. Luật và pháp lệnh thương phiếu ở các nước đảm bảo tính chất an toàn
cho công cụ này bằng các quy định về điều kiện được phép phát hành thương phiếu.
là dài hạn.
b. Giao dịch có hoàn lại (Giao dịch có kỳ hạn).
Hình thức này chủ yếu sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời là các hợp
đồng mua lại (Repor). Hợp đồng mua lại, sử dụng khi NHTW thực hiện một giao
dịch theo hợp đồng mua lại, có nghĩa là mua chứng khoán từ người môi giới trên
thị trường, người đồng ý sẽ mua lại vào một ngày xác định trong tương lai. Hợp
đồng mua lại đảo ngược được áp dụng khi NHTW muốn rút bớt dự trữ của hệ
thống ngân hàng. Để đạt được mục đích này, NHTW bán chứng khoán cho người
giao dịch, người đồng ý sẽ bán lại vào một ngày xác định trong tương lai. Sự
chênh lệch giá bán chứng khoán tại thời điểm t = 0 và thời điểm t = T là lãi suất
của khoản vay Repor. Nói chung, hợp đồng mua lại được sử dụng trong một thời
gian rất ngắn, thường là hợp đồng qua đêm với t = 1 ngày. Tuy nhiên cũng có
hợp đồng mua lại dài hơn với t > 1 ngày, đựoc gọi là Repor có thời hạn. Với loại
Repor mở, thời hạn t không được xác định trước mà 2 bên thoả thuận lại vào mỗi
ngày. Giao dịch theo hợp đồng Repor thực chất là một khoản cho vay có đảm bảo
bằng các chứng khoán có tính thị trường cao.
Các giao dịch có hoàn lại được sử dụng chủ yếu trong nghiệp vụ thị trường
mở vì những lý do sau:
Thứ nhất, đây là một công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu
những ảnh hưởng không dự tính trước đến dự trữ của các ngân hàng.
Thứ hai, chi phí giao dịch cho một hợp đồng mua lại rẻ hơn so với các hợp
đồng mua đứt bán đoạn.
Thứ ba, Thích hợp trong trường hợp các định hướng chính sách tiền tệ
không hoàn hảo dẫn đến việc sử dụng các giải pháp khắc phục.
10
Thứ tư, làm bớt thời gian thông báo, do đó mà giảm bớt biến động của thị
trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW.
5.2. Nghiệp vụ giao dịch hoán đổi ngoại tệ.
Trong nghiệp vụ này khi tham gia giao dịch thi NHTW đồng thời ký hai hợp
đồng và lấy ngoại tệ làm đối tượng trao đổi .
theo tỷ lệ thuận với khối lượng dự thầu của các TCTD.
b. .Phương thức đấu thầu lãi suất
Là việc xác định lãi suất trúng thầu của các TCTD tham gia NVTTM trên cơ
sở khối lượng dự thầu của các TCTD, khối lượng GTCG mà NHTW cần mua
hoặc cần bán.
- NHTW có thể công bố hoặc không công bố khối lượng GTCG cần mua
hoặc cần bán.
- Các đơn vị thành viên dự thầu theo mức lãi suất và khối lượng GTCG cần
mua hoặc cần bán ứng với mức lãi suất đó. Lãi suất dự thầu được tính theo tỷ lệ
phần trăm và được làm tròn đến hai con số sau dấu phẩy. Lãi suất sẽ được sắp
xếp theo thứ tự lãi suất dự thầu giảm dần, nếu NHTW là người mua và ngược lại
lãi suất sẽ được sắp xếp theo thứ tự tăng dần nếu NHTW là người bán.
- Lãi suất trúng thầu là lãi suất dự thầu cao nhất (trường hợp NHTW bán) và
lãi suất dự thầu thấp nhất (trường hợp NHTW mua) mà tại đó đạt được khối
lượng GTCG NHTW cần mua hoặc cần bán.
Có hai phương thức xét thầu theo lãi suất là xét thầu theo lãi suất thống nhất
hoặc theo lãi suất riêng lẻ:
12
+ Lãi suất thống nhất: là toàn bộ khối lượng trúng thầu được tính theo một
mức lãi suất trúng thầu để tính số tiền phải thanh toán.
+ Lãi suất riêng lẻ: khối lượng trúng thầu được tính tương ứng với từng mức
lãi suất dự thầu được công bố trúng thầu để tính số tiền thanh toán.
Khối lượng trúng thầu được tính theo nguyên tắc :
+ Nếu tổng khối lượng dự thầu của các TCTD nhỏ hơn hoặc bằng khối
lượng mà NHTW cần mua hoặc cần bán thì khôí lượng dự thầu chính là khối
lượng trúng thầu.
+ Nếu tổng khối lượng dự thầu của các TCTD lớn hơn khối lượng mà
NHTW cần mua hoặc cần bán thì khôí lượng trúng thầu của các TCTD được tính
tỷ lệ thuận với khối lượng dự thầu của các TCTD đó.
7. Ưu nhược điểm của NVTTM.
khoản cao.
- NHTW có thể thực hiện NVTTM trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp.
NVTTM được thực hiện trên thị trường sơ cấp chỉ các giao dịch phát hành lần
đầu GTCG của NHTW và thanh toán các GTCG đến hạn. Trong khi đó, NVTTM
trên thị trường thứ cấp thực hiện trên cơ sở các giao dịch mua bán hẳn, mua - bán
có kỳ hạn các GTCG đã phát hành. Ở hầu hết các nước thì hàng hoá chủ yếu trên
thị trường mở là các chứng khoán Chính phủ vì các chứng khoán này có độ an
toàn cao, phát hành với khối lượng lớn, định kỳ khá thường xuyên.
7.2. Hạn chế.
Ngoài những ưu điểm chủ yếu trên, thị trường mở cũng có những điểm hạn
chế nhất đinh:
- Các tác động của NVTTM đến lượng tiền cơ sở bị triệt tiêu bởi các tác động
ngược chiều làm cho dự trữ của hệ thống ngân hàng không tăng hoặc giảm tương
ứng theo ý muốn của NHTW khi thực hiện mua bán GTCG trên thị trường mở. Trên
14
thực tế, các hoạt động mua bán GTCG của NHTW nhằm bơm thêm vốn khả dụng
có thể bị triệt tiêu một phần hay toàn bộ do mất cân đối trong cán cân thanh toán
hoặc một số dư tiền gửi ở NHTW tăng lên.
- Khả năng phát huy hiệu quả NVTTM không chỉ phụ thuộc vào NHTW mà
còn bị chi phối bở môi trường kinh tế vĩ mô, hành vi của công chúng và các quyết
định của các NHTM. Chẳng hạn như khi lãi suất thị trường giảm xuống như là
kết quả tất yếu của sự tăng lên của lượng tiền cơ bản, không phải lúc nào tín dụng
cho nền kinh tế cũng tăng lên tương ứng. Điều này còn phụ thuộc vào khả năng
hấp thụ vốn của nền kinh tế, mức độ rủi ro và sự ổn định môi trường đầu tư. Việc
sử dụng lượng dự trữ dư thừa cho mục tiêu mở rộng tín dụng không chỉ phụ
thuộc vào quyết định của các ngân hàng mà còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác.
II. MỘT SỐ HÌNH THỨC ÁP DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ
VÀ HIỆU QUẢ TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.
1. Trong năm 2008.
Năm 2008 Sở Giao dịch NHNNVN đã tổ chức 402 phiên giao dịch TTM,
phiên, tăng 47 phiên so với năm 2007; doanh số giao dịch đạt 1.036.066 tỷ đồng, tăng
148% so với năm 2007, trong đó doanh số mua chiếm 91,42% và gấp 15 lần so với năm
2007, doanh số bán giảm 4,6%. Đặc biệt, mức lãi suất đặt thầu trong một số phiên mua
kỳ hạn trong quý I/2008 ở mức rất cao, có lúc lên tới 40%/năm vì vậy NHNNVN đã áp
dụng phương thức đấu thầu khối lượng, lãi suất thống nhất cho tất cả các kỳ hạn giao
dịch (từ 9-15%/năm) để ổn định lãi suất thị trường. Diễn biến này phản ánh những biến
động bất thường của thị trường tiền tệ năm 2008 và khó khăn về thanh khoản của các
TCTD. Kết quả giao dịch cụ thể của từng quý thể hiện như sau:
Bảng 2.7: Diễn biến giao dịch năm 2008 theo từng quý
Giao dịch
Quý I Quý II Quý III Quý IV
LS (%) KL (tỷ) LS (%) KL tỷ) LS (%) KL tỷ) LS (%) KL(tỷ)
Mua có kỳ hạn 12,18 190.214 11,88 445.000 15 283.100 13,6 28.891
Bán hẳn 8,5 1.867 7,75 1.578 4,5 74.986
Bán có kỳ hạn 14,91 12.022
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trong Quý I, trên thị trường mở diễn ra cả hai loại giao dịch mua và bán
nhưng kết quả mua là chủ yếu (khoảng 93%) và áp dụng cả hai phương pháp đấu
thầu là đấu thầu lãi suất và đấu thầu khối lượng, thời hạn giao dịch phổ biến là 07
và 14 ngày trong nghiệp vụ Mua kỳ hạn trên TTM. Từ tháng 2/2008, do tình hình
lãi suất đặt thầu và thắng thầu tăng cao, NHNNVN bắt đầu thắt chặt chính sách
16
tiền tệ, chỉ sử dụng phương pháp đấu thầu khối lượng, mức lãi suất thống nhất
được sử dụng trong tuần đầu tiên là 15% nhằm tạo định hướng cho thị trường,
trong các tuần tiếp theo lãi suất được điều chỉnh giảm xuống 14%, 13%, 10% và
9% cho phù hợp với lãi suất cơ bản do NHNNVN công bố.
Ngày 13/02/2008, NHNN ban hành Quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc
phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc với tổng giá trị tín phiếu phát hành là 20.300
tỷ đồng, kỳ hạn 364 ngày, lãi suất 7,8%/năm, ngày phát hành 17/03/2008. Tín
mục tiêu chống suy giảm kinh tế, nguồn vốn khả dụng của các TCTD đã được cải
thiện đáng kể. NHNNVN đã tổ chức cả hai loại giao dịch mua và bán; trong đó
giao dịch mua vẫn áp dụng hình thức đấu thầu khối lượng nhưng lãi suất đấu thầu
được điều chỉnh giảm dần từ 15% xuống 9%/năm. Kết quả, lượng vốn đưa ra qua
kênh mua chỉ bằng 38,53% so với lượng vốn hút về qua kênh bán.
Với hiệu quả rõ rệt của NVTTM, số lượng thành viên tham ra nghiệp vụ này
đã tăng từ mức 44 TCTD trong năm 2007 lên mức 56 TCTD trong năm 2008, tỷ
lệ thành viên tham gia giao dịch cũng tăng từ mức 21 TCTD lên mức 35 TCTD.
Kể từ ngày 1/10/2008, NHNN đã có quyết định cho phép tín phiếu NHNN
bắt buộc phát hành từ tháng 3/2008 được điều chỉnh bổ sung là được phép cầm cố
để vay vốn, chiết khấu tại NHNN, được sử dụng làm công cụ cho NVTTM của
NHNN. Và từ ngày 21/10/2008, NHNN thực hiện trả trước hạn tín phiếu này
theo yêu cầu của các TCTD. (Quyết định của NHNN số 2317/QĐ-NHNN ngày
20/10/2008).
Việc bắt buộc mua tín phiếu NHNN như trên là không hợp lý bởi về nguyên
tắc, tín phiếu do NHTM tự nguyện mua, trên cơ sở tính toán nguồn vốn của mình
và có thời hạn dưới 12 tháng. Trường hợp cần thiết, NHTM có thể bán lại tín
phiếu cho NHNN để lấy tiền về. Thế nhưng với 20.300 tỷ đồng tín phiếu mà
NHNN phát hành lại không có tính tự nguyện, NHTM buộc phải mua theo số
lượng đã được NHNN ấn định. Như vậy, 20.300 tỷ đồng này khá giống với dự
trữ bắt buộc, có khác là NHTM được trả lãi với lãi suất 7,8%/năm. Một điểm nữa
18
là tín phiếu bắt buộc này lại rất giống trái phiếu. Theo quy định, tín phiếu có thời
hạn dưới 12 tháng còn thời hạn của trái phiếu là trên 12 tháng. Tín phiếu bắt buộc
thuộc loại “già tín phiếu nhưng non trái phiếu” khi có thời hạn 364 ngày, tức là
chỉ thiếu đúng một ngày là được gọi là trái phiếu. Vì lý do trên mà hầu hết các
NHTM không mặn mà đối với nghiệp vụ này.
Như trên đã phân tích, hoạt động thị trường mở có vai trò rất quan trọng
trong điều hành chính sách tiền tệ. Song tiền đề cho sự hoạt động hiệu quả của thị
trường này chính là thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc Nhà nước. Bởi vì
hàng ngày, chủ yếu là các giao dịch mua GTCG với lỳ hạn ngắn (7, 14 ngày); phương
thức đấu thầu khối lượng, công bố lãi suất và khối lượng nhằm ổn định thị trường; lãi
suất được điều chỉnh theo mục tiêu điều hành và phát tín hiệu điều hành của NHNN,
khối lượng chào mua phù hợp với mục tiêu điều tiết linh hoạt vốn khả dụng, hỗ trợ
thanh khoản, đảm bảo khả năng thanh toán.
Nửa đầu năm 2009, NHNN thực hiện các phiên chào mua kỳ hạnh 14 ngày, lãi
suất giảm dần từ 9% xuống 7% để cung ứng vốn ngắn hạn cho nền kinh tế, tạo điều
kiện cho các TCTD đáp ứng nhu cầu vốn cho các chương trình kích thích tăng trưởng
kinh tế. Tuy nhiên, chương trình kích thích tăng trưởng kinh tế đang ở giai đoạn đầu,
nhu cầu vốn của nền kinh tế chưa cao, nguồn vốn của các TCTD vẫn dư thừa nên nhu
cầu tham gia các phiên chào mua NVTTM không cao với doanh số trúng thầu chỉ đạt
74 % so với lượng tiền chào mua của NHNN. Khối lượng trúng thầu bình quân mỗi
phiên đạt khoảng 1000 tỷ đồng mỗi phiên.
Nửa cuối năm 2009, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của các TCTD có xu hướng
tăng cao theo các chương trình kích cầu của Chính phủ, NHNN đã tăng khối lượng
chào mua qua NVTTM, khối lượng trúng thầu bình quân các phiên chào mua tăng
mạnh, đạt 95 % khối lượng chào mua của NHNN và đạt khoảng 6000 tỷ đồng/phiên,
gấp 6 lần so với mức 6 tháng đầu năm. Đặc biệt trong nửa đầu tháng 12, NHNN đã
chào mua qua kênh NVTTM với khối lượng bình quân xấp xỉ 15000 tỷ đồng/phiên để
hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD do nhu cầu thanh toán tăng cao trong dịp tết dương
20
lịch. Kỳ hạn chào mua được thực hiện linh hoạt giữa 7 ngày và 14 ngày với lãi suất
chào mua tương ứng là 7 % năm và 14 % năm. Đồng thời để chủ động kiểm soát lạm
phát và điều tiết linh hoạt vốn khả dụng của TCTD trong hệ thống. NHNN đã thực
hiện chào bán tín phiếu NHNN với định kỳ 3 phiên/tuần với định kỳ 3 tháng và 6
tháng. Phương thức đấu thầu lãi suất, xét thầu thống nhất, nhưng trong số 68 phiên
đấu thầu tín phiếu NHNN chỉ có 2 phiên bán trúng thầu với doanh số 102 tỷ đồng.
Cùng với việc điều hành linh hoạt và thận trọng các công cụ chính sách tiền
tệ khác, NVTTM đã góp phần ổn định thị trường tiền tệ, đảm bảo an toàn thanh
toán hệ thống các TCTD, đồng thời lãi suất giao dịch trên thị trường liên ngân
Thống đốc NHNN cho biết trong quý I/2010, tổng phương tiện thanh toán và
tín dụng có xu hướng tăng dần, tín dụng tăng 3,34%. Huy động vốn đang có xu
hướng tăng trở lại, đến cuối tháng 3 tăng 3,8% so với cuối năm 2009, đặc biệt là
tiền gửi của dân cư tăng 9,2%.
Trong quý II, III:
22
Dựa vào số liệu dưới và biểu đồ trên đây ta thấy trong quý 2 năm 2010 có thể
thấy chính phủ đang sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng nhưng không hoàn toàn ,
cụ thể trong tuần kết thúc vào ngày 28/5, lượng vốn bơm qua OMO là -7.275 tỷ
đồng; tượng tự các tuần kết thúc vào các ngày 4/6 là 5.783 tỷ đồng, ngày 11/6 là
113 tỷ đồng, ngày 18/6 là -1.556 tỷ đồng, ngày 25/6 là 5.142 tỷ đồng. Ngày 28/5
và ngày 18/6 lượng vốn bơm qua OMO lần lượt là -7.275 và -1.556 tỷ đồng chứng
tỏ NHTW đã rút vốn trên thị trường mở qua việc bán các GTCG, cùng trong quý
ngày 4/6 và 11/6 , 25/6 lượng vồn bơm qua OMO lần lượt là 5.783 và 113, 5142
tỷ đồng chứng tỏ NHTW đã bơm tiền qua thị trường mở qua việc mua các GTCG ,
tuy vậy trong quý II thì tổng số tiền cung ứng ra khoảng 2207 tỷ đồng. Trong tình
hình nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh, tăng 6.2% trong nửa đầu năm 2010, riêng
quý II tăng 6.4% so với mức 4.5% cùng kỳ năm 2009 , tuy nhiên quý II vần chưa
đạt được mục tiêu đề ra là 6.5%.
Như ta thấy trên biểu đồ tháng 7 năm 2010 có thể thấy chính phủ đang sử
dụng chính sách tiền tệ mở rộng, Cụ thể là gày 2/7 là 1.554 tỷ đồng, ngày 9/7 là
1.849 tỷ đồng, ngày 16/7 là -278 tỷ đồng và tuần gần nhất kết thúc vào ngày 23/7
là 5.597 tỷ đồng chứng tỏ NHTW đã bơm tiền qua thị trường mở qua việc mua
các GTCG ở 3 ngày 2/7, 9/7, 23/7 và rút vốn trên thị trường mở ngày 16/7.
Trong tình hình nên kinh tế đang thiếu vốn thì việc NHTW tăng chi bơm tiền
ra OMO bằng cách mua các gtcg ,sẽ đáp ứng được các nhu cầu sản xuất , nâng
cao sảng lượng, đồng thời đáp ứng đủ nguồn vốn lưu động cho các chủ thể kinh tế
và vốn khả dụng cho NHTM. Tuy vậy trong quý II NHTW không chỉ bơm tiền
liên tục vào OMO mà còn các hoạt động hút tiền từ OMO, bởi vì việc bơm tiền ra
liên tục tuy đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức kinh tế lẫn vốn khả dụng của
bơm tiền vào hệ thống ngân hàng thông qua OMO. Mức bơm ròng trong tháng 5
là 19 nghìn tỷ, tháng 6 là 9 nghìn tỷ và 3 tuần đầu tháng 7 là xấp xỉ 10 nghìn tỷ.
24
Trong các tuần kết thúc vào các ngày 13/8 và 20/8, nhu cầu vay vốn trên thị
trường mở đột ngột giảm mạnh, thể hiện qua lượng đăng ký đấu thầu và khối
lượng trúng thầu. Đặc biệt trong tuần kết thúc ngày 20/8, khối lượng đăng ký và
trúng thầu chỉ ở mức 7.718 tỷ đồng; trong khi nhiều tuần liên tiếp trước đó ghi
nhận các con số có từ 45.000 đến trên 90.000 tỷ đồng đăng ký và từ 20.000 đến
56.000 tỷ đồng trúng thầu.
Tuy nhiên vào các ngày 27/8, 1/9 và 10/9, quy mô các phiên đấu thầu đã
tăng mạnh trở lại, đặc biệt là ở lượng đăng ký. Cụ thể, lượng đăng ký lần lượt qua
các tuần nói trên là 43.982 tỷ đồng, 43.218 tỷ đồng và tuần kết thúc ngày 10/9
vừa qua lên tới 90.950 tỷ đồng. Tương tự, khối lượng trúng thầu lần lượt là
36.110 tỷ đồng, 23.000 tỷ đồng và 46.179 tỷ đồng.
Trên đây là dữ liệu giao dịch trên OMO được Công ty Cổ phần Chứng khoán
Thăng Long (TLS) tập hợp trong bản tin hỗ trợ nhà đầu tư cập nhật ngày 15/9.
Bản tin cũng cho biết, khối lượng bơm ròng trên thị trường mở cũng vừa có
tuần ở mức cao, đạt tới 8.020 tỷ đồng, sau khi hút ròng -2.502 tỷ đồng tuần trước
đó và chỉ bơm ròng 1.269 tỷ đồng ở tuần liền trước.
Tình hình quý IV:
25