Tổng quan kiến thức internet và thương mại điện tử - Pdf 13

Tổng quan về internet và thương
mại điện tử
1 mở đầu
1.1 Lịch sử phát triển internet:
Vào cuối những năm 60, Bộ Quốc Phòng Mỹ đã tài trợ cho một nhóm sinh viên từ
nhiều trường Đại học và Viện nghiên cứu của Mỹ để tham gia chương trình nghiên
cứu về một cách thức truyền thông mới. Kết quả nghiên cứu là sự ra đời của mạng
ARPA (The Advanced Research Project Agency – tên của tổ chức tài trợ chi phí
nghiên cứu cho chương trình này). Sau đó, mạng này được các trường Đại học cùng
nhau phát triển để trở thành một mạng chung cho các trường Đại học, gọi là ARPAnet
ông tổ của Internet ngày nay. Ban đầu, mạng này được các trường Đại học sử dụng,
sau đó Quân đội cũng bắt đầu tận dụng, và cuối cùng Chính phủ Mỹ quyết định mở
rộng việc sử dụng mạng cho mục đích thương mại và cộng đồng. Mạng Internet ngày
nay đã trở thành một mạng liên kết các mạng máy tính nội bộ và các máy tính cá nhân
trên khắp toàn cầu .
Cho đến ngày nay, mọi người đều công nhận rằng sự phát minh ra Internet là một
trong những phát minh vĩ đại nhất của nhân loại trong thế kỷ XX và sự phát minh này
có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế toàn cầu. Sự ảnh hưởng của Internet lên
nền kinh tế thế giới, lên cuộc sống của mỗi người trên thế giới sẽ còn tiếp tục trong
nhiều năm tới, đặc biệt là ở các nước đang và chưa phát triển.
World Wide Weblà một hệ thống siêu văn bản có thể liên kết nhiều loại văn bản ở
nhiều nguồn khác nhau. World Wide Web được một kỹ sư người Anh là Tim Berners
– Lee phát minh và hoàn thiện vào năm 1991. Xuất phát từ nhu cầu hệ thống lại những
ghi chép lộn xộn của mình, nhanh chóng tìm ra và liên kết được với những tài liệu
tham khảo tại bất cứ chỗ nào trên một văn bản, Tim Berners-Lee đã phát minh ra một
phần mềm trên một giao diện văn bản có thể tạo ra các liên kết với các file dữ liệu
trong máy tính của mình, sau đó phát triển tính năng này có thể liên kết với bất cứ file
dữ liệu nào trong các máy tính trên mạng Internet. Từ đó ra đời khái niệm trang Web
là một loại siêu văn bản có địa chỉ cụ thể và duy nhất, trên trang web có thể đặt các
liên kết tới các trang web khác một cách đơn giản và tiện lợi. Tập hợp các trang web ở
khắp nơi trên thế giới thông qua mạng Internet tạo thành World Wide Web.

một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Internet. Tới năm 1995, NSFNET thu
lại thành một mạng nghiên cứu còn Internet thì vẫn tiếp tục phát triển.
Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế
giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại, chính trị, quân sự,
nghiên cứu, giáo dục, văn hoá, xã hội Cũng từ đó, các dịch vụ trên Internet không
ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới: kỷ nguyên thương mại điện tử
trên Internet.
1.3 Phân biệt internet va intranet :
Đọc các định nghĩa cũ về Intranet từ cách đây vài năm thì không thể nào đầy đủ
được.
Intranet nói chung là mạng nội bộ. Nó có thể là nguồn chia sẻ thông tin dựa trên
môi trường web, nó cũng có thể chỉ là sự liên kết giữa các máy tính để chia sẻ dữ liệu
(copy files và in ấn). Việc gán ghép khái niệm "web" ngay khi nói đến "Intranet" là
Trang 2
không còn chính xác nữa.
Intranet cũng sử dụng giao thức TCP/IP như Internet và có thể hỗ trợ mọi dịch vụ
như những gì có trên Internet (trừ kho tàng dữ liệu khổng lồ được chia sẻ trên
Internet), nhưng theo mặc định thì tách biệt với Internet. Có thể cài đặt để một mạng
Intranet sử dụng được Internet, nhưng đấy lại là chuyện khác.
Đi kèm với khái niệm "Intranet" ngày nay, còn có khái niệm "Extranet", là một sự
mở rộng của Intranet.
2. Các thành phần cấu thành internet:
2.1 Giao thức TCP/IP:
Giao thức TCP/IP được phát triển từ mạng ARPANET và Internet và được dùng
như giao thức mạng và vận chuyển trên mạng Internet. TCP (Transmission Control
Protocol) là giao thức thuộc tầng vận chuyển và IP (Internet Protocol) là giao thức
thuộc tầng mạng của mô hình OSI. Họ giao thức TCP/IP hiện nay là giao thức được sử
dụng rộng rãi nhất để liên kết các máy tính và các mạng.
Hiện nay các máy tính của hầu hết các mạng có thể sử dụng giao thức TCP/IP để
liên kết với nhau thông qua nhiều hệ thống mạng với kỹ thuật khác nhau. Giao thức

Mạng lớp C: địa chỉ mạng (netid) là 3 Byte và địa chỉ host (hostid) là 1 byte.
Lớp A cho phép định danh tới 126 mạng, với tối đa 16 triệu host trên mỗi mạng.
Lớp này được dùng cho các mạng có số trạm cực lớn.
Lớp B cho phép định danh tới 16384 mạng, với tối đa 65534 host trên mỗi mạng.
Lớp C cho phép định danh tới 2 triệu mạng, với tối đa 254 host trên mỗi mạng. Lớp
này được dùng cho các mạng có ít trạm.
Hình 7.1: Cấu trúc các lớp địa chỉ IP
Một số địa chỉ có tính chất đặc biệt: Một địa chỉ có hostid = 0 được dùng để hướng
tới mạng định danh bởi vùng netid. Ngược lại, một địa chỉ có vùng hostid gồm toàn số
1 được dùng để hướng tới tất cả các host nối vào mạng netid, và nếu vùng netid cũng
gồm toàn số 1 thì nó hướng tới tất cả các host trong liên mạng
Trang 4
Hình 7.2: Ví dụ cấu trúc các lớp địa chỉ IP
Cần lưu ý rằng các địa chỉ IP được dùng để định danh các host và mạng ở tầng
mạng của mô hình OSI, và chúng không phải là các địa chỉ vật lý (hay địa chỉ MAC)
của các trạm trên đó một mạng cục bộ (Ethernet, Token Ring.).
Trong nhiều trường hợp, một mạng có thể được chia thành nhiều mạng con
(subnet), lúc đó có thể đưa thêm các vùng subnetid để định danh các mạng con. Vùng
subnetid được lấy từ vùng hostid, cụ thể đối với lớp A, B, C như ví dụ sau:
Hình 7.3: Ví dụ địa chỉ khi bổ sung vùng subnetid
Đơn vị dữ liệu dùng trong IP được gọi là gói tin (datagram), có khuôn dạng
Trang 5
Hình 7.4: Dạng thức của gói tin IP
Ý nghĩa của thông số như sau:
VER (4 bits): chỉ version hiện hành của giao thức IP hiện được cài đặt, Việc có chỉ
số version cho phép có các trao đổi giữa các hệ thống sử dụng version cũ và hệ thống
sử dụng version mới.
IHL (4 bits): chỉ độ dài phần đầu (Internet header Length) của gói tin datagram, tính
theo đơn vị từ ( 32 bits). Trường này bắt buột phải có vì phần đầu IP có thể có độ dài
thay đổi tùy ý. Độ dài tối thiểu là 5 từ (20 bytes), độ dài tối đa là 15 từ hay là 60 bytes.

bit 1: (DF) = 0 (May Fragment) = 1 (Don't Fragment)
bit 2: (MF) = 0 (Last Fragment) = 1 (More Fragments)
Fragment Offset (13 bits): chỉ vị trí của đoạn (fragment) ở trong datagram tính theo
đơn vị 8 bytes, có nghĩa là phần dữ liệu mỗi gói tin (trừ gói tin cuối cùng) phải chứa
một vùng dữ liệu có độ dài là bội số của 8 bytes. Điều này có ý nghĩa là phải nhân giá
trị của Fragment offset với 8 để tính ra độ lệch byte.
Time to Live (8 bits): qui định thời gian tồn tại (tính bằng giây) của gói tin trong
mạng để tránh tình trạng một gói tin bị quẩn trên mạng. Thời gian này được cho bởi
trạm gửi và được giảm đi (thường qui ước là 1 đơn vị) khi datagram đi qua mỗi router
của liên mạng. Thời lượng này giảm xuống tại mỗi router với mục đích giới hạn thời
gian tồn tại của các gói tin và kết thúc những lần lặp lại vô hạn trên mạng. Sau đây là
1 số điều cần lưu ý về trường Time To Live:
Nút trung gian của mạng không được gởi 1 gói tin mà trường này có giá trị= 0.
Trang 7
Một giao thức có thể ấn định Time To Live để thực hiện cuộc ra tìm tài nguyên trên
mạng trong phạm vi mở rộng.
Một giá trị cố định tối thiểu phải đủ lớn cho mạng hoạt động tốt.
Protocol (8 bits): chỉ giao thức tầng trên kế tiếp sẽ nhận vùng dữ liệu ở trạm đích
(hiện tại thường là TCP hoặc UDP được cài đặt trên IP). Ví dụ: TCP có giá trị trường
Protocol là 6, UDP có giá trị trường Protocol là 17
Header Checksum (16 bits): Mã kiểm soát lỗi của header gói tin IP.
Source Address (32 bits): Địa chỉ của máy nguồn.
Destination Address (32 bits): địa chỉ của máy đích
Options (độ dài thay đổi): khai báo các lựa chọn do người gửi yêu cầu (tuỳ theo
từng chương trình).
Padding (độ dài thay đổi): Vùng đệm, được dùng để đảm bảo cho phần header luôn
kết thúc ở một mốc 32 bits.
Data (độ dài thay đổi): Trên một mạng cục bộ như vậy, hai trạm chỉ có thể liên lạc
với nhau nếu chúng biết địa chỉ vật lý của nhau. Như vậy vấn đề đặt ra là phải thực
hiện ánh xạ giữa địa chỉ IP (32 bits) và địa chỉ vật lý (48 bits) của một trạm.

Chuyển gói tin xuống tầng dưới để truyền qua mạng.
Đối với router, khi nhận được một gói tin đi qua, nó thực hiện các động tác sau:
1) Tính chesksum, nếu sai thì loại bỏ gói tin.
2) Giảm giá trị tham số Time - to Live. nếu thời gian đã hết thì loại bỏ gói tin.
3) Ra quyết định chọn đường.
4) Phân đoạn gói tin, nếu cần.
5) Kiến tạo lại IP header, bao gồm giá trị mới của các vùng Time - to -Live,
Fragmentation và Checksum.
6) Chuyển datagram xuống tầng dưới để chuyển qua mạng.
Cuối cùng khi một datagram nhận bởi một thực thể IP ở trạm đích, nó sẽ thực hiện
bởi các công việc sau:
1) Tính checksum. Nếu sai thì loại bỏ gói tin.
2) Tập hợp các đoạn của gói tin (nếu có phân đoạn)
3) Chuyển dữ liệu và các tham số điều khiển lên tầng trên.
• Giao thức điều khiển truyền dữ liệu TCP
TCP là một giao thức "có liên kết" (connection - oriented), nghĩa là cần phải thiết
lập liên kết giữa hai thực thể TCP trước khi chúng trao đổi dữ liệu với nhau. Một tiến
Trang 9
trình ứng dụng trong một máy tính truy nhập vào các dịch vụ của giao thức TCP thông
qua một cổng (port) của TCP. Số hiệu cổng TCP được thể hiện bởi 2 bytes.
Hình 7.5: Cổng truy nhập dịch vụ TCP
Một cổng TCP kết hợp với địa chỉ IP tạo thành một đầu nối TCP/IP (socket) duy
nhất trong liên mạng. Dịch vụ TCP được cung cấp nhờ một liên kết logic giữa một cặp
đầu nối TCP/IP. Một đầu nối TCP/IP có thể tham gia nhiều liên kết với các đầu nối
TCP/IP ở xa khác nhau. Trước khi truyền dữ liệu giữa 2 trạm cần phải thiết lập một
liên kết TCP giữa chúng và khi không còn nhu cầu truyền dữ liệu thì liên kết đó sẽ
được giải phóng.
Các thực thể của tầng trên sử dụng giao thức TCP thông qua các hàm gọi (function
calls) trong đó có các hàm yêu cầu để yêu cầu, để trả lời. Trong mỗi hàm còn có các
tham số dành cho việc trao đổi dữ liệu.

111 Sun RPC
139 Net BIOS Session
source
160 - 223 Reserved
Khi người sử dụng gửi đi một yêu cầu mở liên kết sẽ được nhận hai thông số trả lời
từ TCP.
Thông số Open ID được TCP trả lời ngay lập tức để gán cho một liên kết cục bộ
(local connection name) cho liên kết được yêu cầu. Thông số này về sau được dùng để
tham chiếu tới liên kết đó. (Trong trường hợp nếu TCP không thể thiết lập được liên
kết yêu cầu thì nó phải gửi tham số Open Failure để thông báo.)
Khi TCP thiết lập được liên kết yêu cầu nó gửi tham số Open Sucsess được dùng để
thông báo liên kết đã được thiết lập thành công. Thông báo này dược chuyển đến trong
cả hai trường hợp bị động và chủ động. Sau khi một liên kết được mở, việc truyền dữ
liệu trên liên kết có thể được thực hiện.
Các bước thực hiện khi truyền và nhận dữ liệu: Sau khi xác lập được liên kết người
sữ dụng gửi và nhận dữ liệu. Việc gửi và nhận dữ liệu thông qua các hàm Send và
receive.
Trang 11
Hàm Send: Dữ liệu được gửi xuống TCP theo các khối (block). Khi nhận được một
khối dữ liệu, TCP sẽ lưu trữ trong bộ đệm (buffer). Nếu cờ PUSH được dựng thì toàn
bộ dữ liệu trong bộ đệm được gửi, kể cả khối dữ liệu mới đến sẽ được gửi đi. Ngược
lại cờ PUSH không được dựng thì dữ liệu được giữ lại trong bộ đệm và sẽ gửi đi khi
có cơ hội thích hợp (chẳng hạn chờ thêm dữ liệu nữa để gữi đi với hiệu quả hơn).
Hàm reveive: Ở trạm đích dữ liệu sẽ được TCP lưu trong bộ đệm gắn với mỗi liên
kết. Nếu dữ liệu được đánh dấu với một cờ PUSH thì toàn bộ dữ liệu trong bộ đệm (kể
cả các dữ liệu được lưu từ trước) sẽ được chuyển lên cho người sữ dụng. Còn nếu dữ
liệu đến không được đánh dấu với cờ PUSH thì TCP chờ tới khi thích hợp mới chuyển
dữ liệu với mục tiêu tăng hiệu quả hệ thống.
Nói chung việc nhận và giao dữ liệu cho người sử dụng đích của TCP phụ thuộc
vào việc cài đặt cụ thể. Trường hợp cần chuyển gấp dữ liệu cho người sử dụng thì có

nguồn.
Data offset (4 bit): số lượng bội của 32 bit (32 bit words) trong TCP header (tham
số này chỉ ra vị trí bắt đầu của nguồn dữ liệu).
Reserved (6 bit): dành để dùng trong tương lai
Control bit (các bit điều khiển):
URG: Vùng con trỏ khẩn (Ucgent Poiter) có hiệu lực.
ACK: Vùng báo nhận (ACK number) có hiệu lực.
PSH: Chức năng PUSH.
RST: Khởi động lại (reset) liên kết.
SYN: Đồng bộ hóa số hiệu tuần tự (sequence number).
FIN: Không còn dữ liệu từ trạm nguồn.
Trang 13
Window (16 bit): cấp phát credit để kiểm soát nguồn dữ liệu (cơ chế cửa sổ). Đây
chính là số lượng các byte dữ liệu, bắt đầu từ byte được chỉ ra trong vùng ACK
number, mà trạm nguồn đã saün sàng để nhận.
Checksum (16 bit): mã kiểm soát lỗi cho toàn bộ segment (header + data)
Urgemt Poiter (16 bit): con trỏ này trỏ tới số hiệu tuần tự của byte đi theo sau dữ
liệu khẩn. Vùng này chỉ có hiệu lực khi bit URG được thiết lập.
Options (độ dài thay đổi): khai báo các option của TCP, trong đó có độ dài tối đa
của vùng TCP data trong một segment.
Paddinh (độ dài thay đổi): phần chèn thêm vào header để đảm bảo phần header
luôn kết thúc ở một mốc 32 bit. Phần thêm này gồm toàn số 0.
TCP data (độ dài thay đổi): chứa dữ liệu của tầng trên, có độ dài tối đa ngầm định
là 536 byte. Giá trị này có thể điều chỉnh bằng cách khai báo trong vùng options.
Trang 14
Hình 7.8: Mô hình quan hệ họ giao thức TCP/IP
2.2 Client:web-browser ?
Web browser: Trình duyệt web, là một phần mềm ứng dụng dùng để định vị và
hiển thị các trang web.Có 2 loại web browser: trình duyệt dựa trên văn bản, chỉ hiển
thị các thông tin dưới dạng văn bản như Lynx; trình duyệt đồ họa, hỗ trợ hypermedia

thì một server có thể được nối tới nhiều server khác nhằm làm việc hiệu quả và nhanh
hơn. Khi nhận được 1 yêu cầu từ client, server này có thể gửi tiếp yêu cầu vừa nhận
được cho server khác ví dụ như database server vì bản thân nó không thể xử lý yêu
cầu này được. Máy server có thể thi hành các nhiệm vụ đơn giản hoặc phức tạp. Ví dụ
như một máy chủ trả lời thời gian hiện tại trong ngày, khi một máy client yêu cầu lấy
thông tin về thời gian nó sẽ phải gửi một yêu cầu theo một tiêu chuẩn do server định
ra, nếu yêu cầu được chấp nhận thì máy server sẽ trả về thông tin mà client yêu cầu.
Có rất nhiều các dịch vụ server trên mạng nhưng nó đều hoạt động theo nguyên lý là
nhận các yêu cầu từ client sau đó xử lý và trả kết quả cho client yêu cầu. Thông
thường chương trình server và client được thi hành trên hai máy khác nhau. Cho dù
lúc nào server cũng ở trạng thái sẵn sàng chờ nhận yêu cầu từ client nhưng trên thực tế
một tiến trình liên tác qua lại (interaction) giữa client và server lại bắt đầu ở phía
client, khi mà client gửi tín hiệu yêu cầu tới server. Các chương trình server thường
đều thi hành ở mức ứng dụng (tầng ứng dụng của mạng). Sự thuận lợi của phương
pháp này là nó có thể làm việc trên bất cứ một mạng máy tính nào có hỗ trợ giao thức
truyền thông chuẩn cụ thể ở đây là giao thức TCP/IP. Với các giao thức chuẩn này
cũng giúp cho các nhà sản xuất có thể tích hợp nhiều sản phẩm khác nhau của họ lên
mạng mà không gặp phải khó khăn gì. Với các chuẩn này thì các chương trình server
cho một dịch vụ nào đấy có thể thi hành trên một hệ thống chia sẻ thời gian
(timesharing system) với nhiều chương trình và dịch vụ khác hoặc nó có thể chạy trên
chính một máy tính các nhân bình thường. Có thể có nhiều chương server cùng làm
một dịch vụ, chúng có thể nằm trên nhiều máy tính hoặc một máy tính. Với mô hình
trên chúng ta nhận thấy rằng mô hình client/server chỉ mang đặc điểm của phần mềm
không liên quan gì đến phần cứng mặc dù trên thực tế yêu cầu cho một máy server là
cao hơn nhiều so với máy client. Lý do là bởi vì máy server phải quản lý rất nhiều các
yêu cầu từ các clients khác nhau trên mạng. Ưu và nhược điểm chính Có thể nói rằng
với mô hình client/server thì mọi thứ dường như đều nằm trên bàn của người sử dụng,
Trang 16
nó có thể truy cập dữ liệu từ xa (bao gồm các công việc như gửi và nhận file, tìm kiếm
thông tin, ) với nhiều dịch vụ đa dạng mà mô hình cũ không thể làm được. Mô hình

hệ thống. Các ứng dụng chạy trên server phải được tách rời nhau để một lỗi của ứng
dụng này không làm hỏng ứng dụng khác. Tính đa nhiệm đảm bảo một tiến trình
không sử dụng toàn bộ tài nguyên hệ thống. Vai trò của server. Như chúng ta đã bàn ở
trên, server như là một nhà cung cấp dịch vụ cho các clients yêu cầu tới khi cần, các
dịch vụ như cơ sở dữ liệu, in ấn, truyền file, hệ thống Các ứng dụng server cung cấp
các dịch vụ mang tính chức năng để hỗ trợ cho các hoạt động trên các máy clients có
hiệu quả hơn. Sự hỗ trợ của các dịch vụ này có thể là toàn bộ hoặc chỉ một phần thông
qua IPC. Để đảm bảo tính an toàn trên mạng cho nên server này còn có vai trò như là
một nhà quản lý toàn bộ quyền truy cập dữ liệu của các máy clients, nói cách khác đó
là vai trò quản trị mạng. Có rất nhiều cách thức hiện nay nhằm quản trị có hiệu quả,
một trong những cách đang được sử dụng đó là dùng tên Login và mật khẩu
2.4 ISP
Trang 17
ISP là viết tắt của Internet Service Provider, có nghĩa là nhà cung cấp dịch vụ
Internet. ISP là nơi bạn đăng ký để có quyền gia nhập vào Internet và sử dụng những
dịch vụ mà ISP đó cung cấp như e-mail, Web…
Ở nước ta thì có các ISP lớn như là : FPT, Viettel, VNPT.
2.5 Search Engine:
Search Engines :Máy tìm kiếm , là chương trình tìm kiếm các tư liệu trên WWW
dựa và các từ khóa và trả về danh sách các tư liệu phù hợp với từ khóa. Các máy tìm
kiếm họat động dựa vào các Spider (con nhện) để có thể thu thập các tư liệu cần thiết,
một số máy tìm kiếm khác sử dụng Indexer (người lập mục lục) dựa trên các từ chứa
trong các tư liệu.
2.6 Các server tiện ích:
• MỘT SỐ WEBSITE HỮU ÍCH.
Tra cứu thông tin
• Các Search Engine: Google (, ),
• AltaVista (),
• Yahoo (),
• VNSeek ().

Nhưng theo thống kê chỉ ra rằng, cuối năm 2001, vẫn có nhiều hơn 2 lần số người sử
dụng vẫn tiếp tục sử dụng dial-up networking so với sử dụng các dịch vụ băng thông
kết nối Internet khác.
Cơ chế bắt tay là gì?
Dial-up networking là phương thức đơn giản nhất để kết nối tới Internet: bạn chỉ kết
nối qua đường điện thoại sử dụng modem của bạn, ban đầu bạn sẽ lựa chọn một nhà
cung cấp dịch vụ ISP, và phần mềm quay số đã có sẵn trong hệ điều hành Windows
với giao diện sử dụng đơn giản. Với mỗi người sử dụng, khi quay số đòi hỏi một
account truy cập với tên sử dụng và mật khẩu truy cập dịch vụ tới nhà cung cấp ISP.
Sau khi thiết lập các thao tác đó xong, mỗi lần truy cập sau, khách hàng chỉ cần thực
hiện kết nối bằng cách nháy kép chuột trên biểu tượng dial-up.
Khi bạn bắt đầu sử dụng dịch vụ, dial-up networking sẽ sử dụng modem để quay số tới
nhà cung cấp số dịch vụ ISP, nơi sẽ có một modem khác trả lời. Chỉ sau một vài giây,
các modem sẽ sử các tín hiệu điều khiển để xem xem các modem có thể kết nối với
tốc độ tối đa là bao nhiêu. Tiếng kêu của modem khi bắt đầu kết nối là khi modem bạn
và của nhà cung cấp dịch vụ đang ước định tốc độ và thiết lập kết nối sử dụng.
Khi kết nối đã được thiết lập, modem của bạn sẽ trở lại trạng thái im lặng, và dial-up
networking sẽ gửi tên truy cập và mật khẩu của bạn tới nhà cung cấp ISP theo phương
thức gọi là CHAP challenge handshake authentication protocol. Tại đầu cuối ISP,
một máy tính sẽ kiểm tra tên và mật khẩu truy cập của bạn dựa trên một cơ sở dữ liệu
các khách hàng được quyền sử dụng dịch vụ. Sau khi đã kiểm tra chứng thực này, của
sổ trạng thái dial-up networking biến mất, và bạn có thể duyệt thông tin các website,
gửi email, download các file, Quá trình xử lý này luôn được thực hiện ở bất cứ đâu
chỉ trong khoảng thời gian từ 30 giây đến 2 phút.
Giao thức điểm nối điểm (PPP): Chậm hơn nhưng chịu lỗi tốt hơn
Dial-up networking cũng cắt dữ liệu của bạn thành các gói tin, mã hoá và gói dữ
liệu trước khi gửi đi.
Dial-up networking sử dụng giao thức PPP (Point to Point Protocol) để gói dữ liệu
truyền tin qua đường điện thoại. Với mạng ethernet, các gói dữ liệu PPP, thường được
gọi là một frame, bao gồm một vài phần, có các cờ bắt đầu và kết thúc (được gọi

thông trên đường cáp điện thoại thành hai: một phần nhỏ dành cho truyền âm, phần lớn
dành cho truyền tải dữ liệu ở tốc độ cao.
Trên đường dây điện thoại thì thực tế chỉ dùng một khoảng tần số rất nhỏ từ 0KHz đến
20KHz để truyền dữ liệu âm thanh (điện thoại). Công nghệ DSL tận dụng đặc điểm này
để truyền dữ liệu trên cùng đường dây, nhưng ở tần số 25.875 KHz đến 1.104 MHz
* ADSL và Internet trên băng thông rộng
ADSL là một trong những kết nối Internet phổ biến cung cấp băng thông lớn cho việc
truyền tải dữ liệu (tiếng Anh gọi là broadband Internet). Broadband Internet so với kết
nối bằng modem quay số truyền thống là một cuộc cách mạng lớn về tốc độ, chất lượng
và nội dung, cũng giống như so sánh Nvidia GeForce 4 TI4600 với S3 Trio 1MB PCI
vậy. Với tốc độ kết nối gấp hàng chục đến hàng trăm lần modem quay số, ADSL – một
ứng dụng của broadband Internet - sẽ giúp bạn thực sự thưởng thức thế giới kĩ thuật số
trên mạng toàn cầu.
A. Đối với người dùng
Về cơ bản, ADSL sẽ giúp bạn làm những việc quen thuộc trên Internet như dùng thư
điện tử, duyệt websites, duyệt diễn đàn, tải file v.v nhưng nhanh hơn trước rất nhiều lần
và bạn có thể làm những việc đó đồng thời thay vì phải làm lần lượt từng thứ một như
trước đây. Bạn có thể thoải mái thưởng thức Internet do không phải dài cổ đợi modem
quay số gọi tổng đài hay ngồi đọc truyện chưởng chờ trang web nạp xong trên trình
duyệt. Một điều đáng chú ý là bạn không phải trả cước gọi điện thoại khi dùng ADSL, và
đường dây vẫn dùng để gọi được khi đang duyệt Internet, dù công nghệ này dựa trên
đường điện thoại có sẵn.
Ngoài việc tăng tốc cho những nhu cầu Internet phổ biến ở trên, ADSL còn giúp bạn sử
dụng Internet vào những tác vụ mà trước đây modem quay số vẫn phải khóc lóc thảm
thiết vẫy cờ trắng đầu hàng.
- Thứ nhất, bạn có thể truy cập những website thiết kế với chất lượng cao, dùng flash,
Trang 20
nhạc nền, nhiều hình động…
- Thứ hai, bạn có thể nghe và xem các bài hát, bản tin, giới thiệu phim… từ khắp mọi nơi
trên thế giới.

Không bị áp dụng công nghệ pair gain. Pair gain là công nghệ kĩ thuật số tách đường
cáp điện thoại ra làm hai (ở đây xét pair gain 1+1). Công nghệ này được nhà cung cấp
dịch vụ điện thoại hay áp dụng để giảm chi phí trong trường hợp nhà bạn muốn có thêm
đường điện thoại. Điểm dở của nó là kết nối Internet quay số sẽ bị giảm một nửa tốc độ
(28.8Kbps tối đa so vKhông bị áp dụng công nghệ RIM – Remoted Integrated
Multiplexer. Công nghệ này dựa trên đường cáp quang (fibre-optic cable), nhà cung cấp
dịch vụ điện thoại dẫn cáp quang đến một khu vực rồi chuyển tín hiệu trên cáp quang
thành dịch vụ điện thoại bình thường. RIM rất kinh tế khi lắp đặt điện thoại ở những nơi
không có sẵn mạng cáp điện thoại bằng đồng như khu vực ngoại ô mới xây, vùng sâu
vùng xa hay hải đảo.
* Trang thiết bị
Nếu đường điện thoại của bạn có thể hỗ trợ ADSL, bạn chỉ cần liên lạc nhà cung cấp
dịch vụ là họ sẽ lo phần kết nối bạn vào tổng đài. Nhưng về phần lắp đặt tại nhà thì bạn
Trang 21
phải tự làm lấy, nếu thuê dịch vụ thì sẽ rất đắt. Ngay cả việc mua sắm thiết bị có khi cũng
nên tự túc, vì nhà cung cấp có thể bán rất đắt. Tự túc mua sắm và lắp đặt thiết bị sẽ giúp
bạn tiết kiệm được khá nhiều và hơn nữa bạn làm chủ thiết bị, có thể chuyển qua nhà
cung cấp dịch vụ khác dễ dàng hơn (hi vọng Việtnam sẽ có nhiều nhà cung cấp dịch vụ
Internet trong tương lai). Bạn cứ yên tâm, vì lắp đặt rất dễ dàng, không hề khó hơn việc
lắp đặt modem quay số đâu. Tuy nhiên, trước khi mua thiết bị, bạn nên kiểm tra với nhà
cung cấp xem thiết bị đó có được họ hỗ trợ không.
Cũng gần giống như kết nối quay số, bạn cần một modem làm trung gian giữa máy tính
và đường điện thoại để chuyển đổi giữa tín hiệu và dữ liệu. Có ba loại modem hỗ trợ
ADSL.
Modem trên card PCI: loại này tích hợp tất cả trên một card PCI. Giá thành rẻ nhất
trong ba loại, nhưng rất khó cài đặt, kén chọn hệ điều hành và không hỗ trợ chia sẻ kết
nối đến nhiều máy tính. Nếu bạn tính dùng thêm Linux hay Mac OS X, hay chia sẻ kết
nối ADSL với nhiều máy khác, hay là dân overclocker, nên tránh xa loại này.
Modem USB: đây là loại modem lắp ngoài kết nối qua giao tiếp USB 1.1. Giá chỉ hơn
loại trước một chút và trông có vẻ dễ lắp đặt. Nhưng thực ra loại này cũng kén hệ điều


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status