BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
LIÊN ĐOÀN QUY HOẠCH VÀ ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN NƯỚC MIỀN BẮC
HIJKDEHIJK
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
“Nghiên cứu ứng dụng tổ hợp các phương pháp ĐCTV, địa vật lý, mô hình
số để điều tra, đánh giá nhiễm mặn và tìm kiếm các thấu kính hoặc tầng
chứa nước nhạt dải ven biển Nam Định”.
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Đản
8001
Hà Nội, 12/2009
nghiên cứu cấu trúc địa chất
lịch sử phát triển địa chất
ảnh hưởng đến sự hình thành
nước dưới đất vùng ven biển
5 Th.S.Triệu Đức Huy Liên đoàn
QH&ĐTTN nước
MB
Chủ trì thực hiện khảo sát
địa chất thuỷ văn thực địa
6 Th.S. Trần Minh Thoa Liên đoàn
QH&ĐTTN nước
MB
Chủ trì thực hiện công tác
khoan, thí nghiệm tại thực
địa
7 KS.Phạm Duy Trịnh Liên đoàn
QH&ĐTTN nước
MB
Chủ trì thực hiện đo sâu, đo
sâu phân cực kích thích, đo
karota lỗ khoan tại thực địa
8 KS. Phạm Văn Quảng Liên đoàn
QH&ĐTTN nước
MB
Thực hiện phân tích hoá học
các mẫu nước
9 KS.Luyện Đức Thuận Liên đoàn
QH&ĐTTN nước
MB
Chủ trì thực hiện quan trắc
PHỤ LỤC
-Danh sách cán bộ thực hiện đề tài
Trang
1
-Các chữ viết tắt, kí hiệu, đơn vị đo
đạt được
47
3.1-Lộ trình khảo sát
47
3.2-Công tác địa vật lý
48
3.3-Công tác khoan
80
3.4-Công tác thổi rửa, hút nước thí nghiệm lỗ khoan
82
3.5-Công tác quan trắc động thái nước dưới đất
83
3.6-Công tác phân tích mẫu nước
87
3.7-Công tác xây dựng mô hình số và dự báo nhiễm mặn
NDĐ
88
3.8-Công tác nghiên cứu của đề tài được thực hiện bằng việc
viết các chuyên đề nghiên cứu và báo cáo tổng kết
125
3.9-Tổng hợp khối lượng công tác thực hiểntong đề tài
126
3.10-Đánh giá chung việc thực hiện m
ục tiêu đề tài
128
Chương 4. Hướng dẫn áp dụng tổ hợ các phương pháp ĐCTV,
địa vật lý, mô hình số đề tài đánh giá nhiễm mặn và
tìm kiếm các thấu kính, tầng nước nhạt dải ven biển
128
4.1-Độ mặn và phương pháp xác định
lớn. Song thực tế lại đang tồn tại một nghịch lý: Vùng ven biển rất khan
hiếm các nguồn nước nhạt. Nhiều nước trên thế giới đã phải nghiên cứu
công nghệ điều chế nước biển thành nước nhạt để ăn uống mặc dù giá thành
quá cao.
Nước ta có bờ biển dài trên 2.000km, đa s
ố các nguồn nước mặt ở ven
biển bị mặn. Nguồn nước nhạt phục vụ cho ăn uống sinh hoạt chủ yếu là
nước mưa, nước dưới đất ở các tầng nông trong các đụn cát, cồn cát song do
trữ lượng rất nhỏ nên chỉ đáp ứng cung cấp nhỏ lẻ cho các hộ gia đình ở
vùng nông thôn. Các tầng chứa nước nhạt giàu đáp ứng khả năng cung cấ
p
lớn rất hiếm hoi. Việc điều tra phát hiện ra chúng và đánh giá chúng để khai
thác sử dụng là việc không dễ, cần phải áp dụng các phương pháp thích hợp
thì mới có hiệu quả. Mặt khác, do gần biển các tầng chứa nước nhạt thường
bị bao bọc bởi các tầng chứa nước mặn, nếu khai thác không hợp lý; khai
thác quá mức sẽ bị nhiễm mặn tức là kéo ranh giới mặn nhạt về
phía công
trình khai thác làm cho nước khai thác lên bị mặn, không còn đáp ứng tiêu
chuẩn để ăn uống và sinh hoạt nữa.
Vì những lẽ trên, năm 2008 Bộ Tài nguyên và Môi trường cho mở đề
tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ “Nghiên cứu, ứng dụng tổ
hợp các phương pháp địa chất thuỷ văn, địa vật lý, mô hình số đề tài điều
tra, đánh giá nhiễm mặn và tìm kiếm các thấu kính hoặc tầng chứa nước nh
ạt
dải ven biển Nam Định” với mục đích nghiên cứu ở vùng ven biển Nam
Định như một ví dụ để có thể áp dụng cho các vùng khác có điều kiện tương
tự.
Mục tiêu của đề tài là “Xác định tiêu chí áp dụng tổ hợp các phương
pháp địa chất thuỷ văn, địa vật lý, mô hình số để điều tra, đánh giá nhiễm
mặn và tìm kiếm các thấu kính hoặc tầng chứ
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao cho Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT
miền Bắc (nay thành Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền
Bắ
c) chủ trì, Tiến sĩ Nguyễn Văn Đản làm chủ nhiệm viết Đề cương trình
duyệt. Đề cương đề tài được Bộ Tài nguyên và Môi trường duyệt ngày
10/4/2008 và thực hiện trong 2 năm 2008 và 2009 theo hợp đồng nghiên cứu
khoa học công nghệ số 05-ĐC-08/HĐKHCN ngày 10/4/2008 được kí kết
giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài
nguyên nước miền Bắc.
Đề tài đã lựa chọn 2 khoảnh: Ở
xã Xuân Vinh-Xuân Trường và các xã
Hải Đông, Hải Tây, Hải Lý, Hải Hậu để thi công khoan, bơm, quan trắc,
khảo sát thực địa và đo các phương pháp ĐVL. Ngoài ra đề tài còn thực hiện
10 chuyên đề nghiên cứu khoa học.
Tham gia thực hiện và viết báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài do
các cán bộ khoa học kĩ thuật của Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài
nguyên nước miền Bắc và Liên đoàn Vật lý địa chất như li
ệt kê ở danh sách
kèm theo.
Báo cáo tổng kết ngoài lời nói đầu và kết luận có 4 chương.
Chương 1.Tổng quan điều kiện thuỷ văn và tính phân đới thuỷ địa hoá
vùng ven biển nước ta.
Chương 2. Khái quát về vùng nghiên cứu
Chương 3. Nội dung, phương pháp nghiên cứu và các kết quả đạt
được
Chương 4. Hướng dẫn áp dụng tổ hợp các phương pháp ĐCTV, địa
vật lý, mô hình số đề tài đánh giá nhiễm mặn và tìm kiếm các thấu kính, t
ầng
nước nhạt dải ven biển.
Ngoài ra còn 1 số phụ lục, 10 báo cáo chuyên đề
bằng phẳng. Lượng mưa khá lớn, bình quân hàng năm ở đồng bằng Bắc Bộ
từ 1600 đến 1800mm ở các đồng bằng miền Trung từ 1200 đến 3000, ở
đồng bằng Nam Bộ từ 1300 đến 2100mm song phân bố không đều trong
năm: đến 80% tập trung vào mùa mưa. Lượng mưa là nguồn cung cấp chính
cho nước dưới đất.
Các đồng bằng châu thổ là vùng hạ lưu của phần lớn các hệ thống
sông ở Việt Nam với nguồn nước rất lớn đạt gần 800km
3
hàng năm chiếm
85% nguồn nước mặt trên toàn quốc. Nước sông, tương tự như lượng mưa,
phân bố không đều trong năm, 70-80% lượng nước tập trung vào mùa lũ kéo
dài chỉ trong 4-5 tháng trong năm.
Nước sông cùng với nước mưa là nguồn cung cấp chính cho NDĐ.
Các đồng bằng ven biển được bao phủ bởi đường bờ biển ở phía đông và
phía tây nam. Nước biển với độ mặn cao (33g/kg), chế độ thuỷ triều ảnh
hưởng lớn đến chất lượng nước của các cửa sông. Nước ở vùng hạ lưu các
sông đều bị mặn. Nếu lấy giới hạn độ mặn là 1g/l thì giới hạn mặn ở các
sông chính cách cửa biển nh
ư sau: Sông Thái Bình 45km; sông Hồng 22km;
sông Đáy 22km; sông Mã 20km; sông Cả 27km; sông Hậu 20km; sông Tiền
30km; sông Đồng Nai 8km.
Nước mặn ở biển và các cửa sông ảnh hưởng đến chất lượng NDĐ và
là nguyên nhân của quá trình nhiễm mặn NDĐ đặc biệt trong điều kiện khai
thác.
Các đồng bằng châu thổ ở Việt Nam được cấu tạo bởi các trầm tích
Kainozoi, trong đó các trầm tích Đệ Tứ, đôi nơi cả Neogen bở rời. Các hoạt
động địa chất kiến tạo và các đợt biển tiến khác nhau trong Kainozoi nói
chung và Đệ tứ nói riêng đã tạo nên sự phân nhịp hình thành các thành tạo
vụn thô, dính kết xen kẽ nhau trong mặt cắt địa chất, kết quả là hình thành
các tầng chứa nước khác nhau làm cho đặc điểm địa chất thuỷ văn đặc biệt
Việt Nam
Các tầng chứa nước
đồằ
qh qp
2
qp
1
n
2
n
1
1 Bắc Bộ x x x
2 Bắc Trung Bộ x x x
3 Trung Trung Bộ x x x
4 Nam Trung Bộ x x x
5 Nam Bộ x x x x x
Như tổng hợp ở bảng trên cho thấy chỉ có ở đồng bằng Nam Bộ là có
mặt đầy đủ 5 tầng chứa nước lỗ hổng. Ở đó các trầm tích bở rời Kainozoi có
chiều dày tăng dần từ trên dưới 100m ở phía tây bắc (vùng biên giới
Campuchia) đến trên 500m ở phía đông nam (cửa sông Tiền và sông Hậu)
và tăng dần theo hướng đông bắc-tây nam từ vài chục mét ở vùng Đồng Nai-
Sông Bé
đến khoảng 600m ở trung tâm đồng bằng (vùng Cần Thơ-Vĩnh
Long) và giảm đến 400m ở bán đảo Cà Mau.
Các tầng chứa nước qp
2
; qp
1
phủ hoàn toàn. Nhìn chung các tầng chứa nước này rất phong phú song điều
kiện thủy hóa rất phức tạp, nhiều nơi bị mặn. Ở vùng nhạt chúng là đối
tượng cung cấp nước với công suất lớn.
1.2-Tính phân đới thuỷ địa hoá
1.Độ tổng khoáng hóa và thành ph
ần hóa học của nước
a. Độ tổng khoáng hóa và thành phần hóa học trong các cồn cát, đụn
cát thuộc tầng chứa nước Holocen
Ở vùng ven biển nước ta thường gặp các dải cát, đụn cát liên quan đến
hoạt động của sóng biển, gió, sông, hình thành trong Holocen. Ở miền Trung
vùng Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Thuận Hải, các dải
cát kéo dài tới 100km chiều rộng đến trên dưới 10km có địa hình cao đôi nơi
rất cao, cao hơn đị
a hình đồng bằng hàng chục mét đến 130m như các vùng
đồi cát Thuận Hải. Các vùng ven biển của đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ các
đụn cát, dải cát không cao lắm.
Kết quả điều tra địa chất thủy văn đã chỉ ra rằng trong các dải cát ấy
có nước ngầm (nước không có áp lực). Mực nước ngầm cao hơn mực nước
biển, vùng có địa hình càng cao thì mực nước ngầm càng cao. Theo chiều
sâu, nước nh
ạt chuyển dần sang nước có độ tổng khoáng hóa cao, có nơi đột
biến chuyển sang nước mặn. Như vậy nước nhạt chỉ tồn tại ở phía trên cùng
dạng thấu kính. Điều đó được giải thích như sau: nước mưa, nước ngưng tụ,
các nguồn nước bề mặt ngấm xuống là nước nhạt do có tỷ trọng nhỏ hơn
nước mặn nên tạo thành thấ
u kính nước nhạt nổi trên nước mặn.
Bề dày cột nước nhạt được biểu diễn như hình 1 và xác định như sau:
Giả thiết rằng chiều sâu kể từ mặt nước biển đến ranh giới mặn nhạt là
H, chiều cao của lớp nước nhạt trên mực nước biển là h, tỷ trọng của nước
nhạt ( γ
nước để ăn uống sinh hoạt, th
ậm chí tưới rau màu, cây công nghiệp như ở
vùng Sầm Sơn, Vinh-Cửa Lò, Đồng Hới, Ninh Thuận, Bình Thuận với lưu
lượng không lớn, nhưng cần đặc biệt chú ý chế độ khai thác phải hợp lý để
tránh phá vỡ ranh giới mặn nhạt tự nhiên.
b. Độ tổng khoáng hóa và thành phần hóa học các tầng chứa nước áp
lực
Các tầng chứa nước áp lực vùng ven biển là các tầng chứa nước
Pleistocen, Pliocen, Miocen và các tầ
ng chứa nước trong các đá cố kết nằm
lót đáy các trầm tích Kainozoi bở rời.
Độ tổng khoáng hoá và thành phần hóa học của các tầng chứa nước áp
lực rất phức tạp phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác nhau trong đó điều kiện
cổ địa lý, khả năng trao đổi nước và nguồn cung cấp cho các tầng chứa nước
đóng vai trò quan trọng.
Ở đồng bằng Nam Bộ
các tầng chứa nước Đệ Tứ và Neogen phân bố
rộng rãi ở vùng ven biển. Song hầu hết bị mặn, vùng nước nhạt rất hạn chế.
Các tầng chứa nước Pleistocen (qp
1
; qp
2
) chứa nước nhạt phát hiện thấy ở
vùng ven biển Trà Vinh, Sóc Trăng, 1 phần của Kiên Giang, Bạc Liêu. Các
tầng chứa nước Neogen (n
2
; n
1
) chứa nước nhạt phát hiện thấy ở vùng Bạc
Liêu, Trà Vinh, Cà Mau. Ở các đồng bằng ven biển miền Trung nước trong
i thuỷ địa
hoá nghịch.
Ở vùng ven biển nước ta chưa phát hiện thấy nguồn nước có độ tổng
khoáng hoá lớn hơn 35g/kg tức là không có đới C. Như vậy, chỉ có 4 kiểu
mặt cắt I; II; IV; V (xem hình 3) như sau:
-Kiểu I: Toàn bộ mặt cắt là nước nhạt. Trong điều kiện cụ thể vùng
ven biển nước ta kiểu này có thể chia thành 2 phụ kiểu. Phụ kiểu Ia, trong đó
tầng chứa nước nhạt không dày là phần phong hoá của đ
á cố kết lộ trên mặt
đất hoặc các đá trầm tích bở rời chủ yếu Holocen có chiều dày không lớn
phủ lên đá cố kết không chứa nước. Kiểu này phổ biến ở vùng ven biển
Quảng Ninh; nam Thanh Hoá; bắc Nghệ An; nam Hà Tĩnh, Quảng Bình và
vùng duyên hải từ Quảng Nam đến Bình Thuận. Phụ kiểu Ib, trong đó tầng
chứa nhạt tương đối dày bao gồm các tầng chứa nước Holocen, pleistocen,
Neogen và các tầ
ng chứa nước trong đá cố kết bị nứt nẻ hoặc Karst hoá.
Kiểu này phổ biến ở vùng Thạch Khê-Hà Tĩnh, ven biển tỉnh Quảng Trị và
Thừa Thiên Huế.
-Kiểu II: Phần trên của mặt cắt thường là tầng chứa nước Holocen
chứa nước nhạt, phần dưới là các tầng chứa nước Pleistocen, Neogen chứa
nước mặn. Kiểu này phố biến ở vùng ven biển đồng bằ
ng Bắc Bộ thuộc tỉnh
Thái Bình, bắc Thanh Hoá, nam Nghệ An, một số nơi thuộc đồng bằng Nam
Bộ.
-Kiểu IV: Toàn bộ mặt cắt gồm các tầng chứa nước Holocen,
Pleistocen, Neogen chứa nước mặn. Kiểu này phổ biến ở vùng ven biển Hải
Phòng thuộc đồng bằng Bắc Bộ, Bà Rịa -Vùng Tàu, thành phố Hồ Chí
Minh, Long An, Mỹ Tho, Bến Tre, phía tây bắc Kiên Giang của đồng bằng
Nam Bộ.
64 64 64 64 64
64 64
90
90
90
90
14
7
90
0
64
7
14
Chỉ dẫn:
Phụ vùng Ia
Phụ kiểu Ib
90
90
90
90
(
200
kilometres
1000
TP. Hải Phòng
Phú Thọ
Lào Cai
Khánh Hoà
Kon Tum
Quảng Bình
Quảng Ngãi
Thừa Thiên- Huế
TP. Hà Nội
Thanh Hoá
Ninh Thuận
Tiền Giang
Sóc Trăng
Đăk Lăk
Hoà Bì nh
Bình Phớc
-Kiểu V: Phần trên của mặt cắt là các tầng chứa nước Holocen chứa
nước mặn, phần dưới của mặt cắt gồm các tầng chứa nước Pleistocen;
Neogen chứa nước nhạt do có nguồn cung cấp từ xa. Kiểu này phổ biến ở
vùng ven biển Nam Định thuộc đồng bằng Bắc Bộ, Trà Vinh, Sóc Trăng,
Bạc Liêu, Cà Mau, phía đông nam Kiên Giang thuộc đồng bằng Nam Bộ.
Như vậy chỉ
có các kiểu I; II; V là có ý nghĩa cung cấp nước cho ăn
uống sinh hoạt, trong đó phụ kiểu Ib; V có ý nghĩa cung cấp lớn.
Ở các vùng Nam Định, Thạch Khê-Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên
Huế, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, phía đông nam Kiên Giang
nước nhạt không những tồn tại ở phần lục địa ven biển mà còn có thể cả ở
vùng ngoài khơi kề liền.
Nam Truc
Nghia Hung
TP. Nam Dinh
Truc Ninh
Vu Ban
Xuan Truong
Y Yen
Giao Thuy
Hình 4. Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu
Vùng nghiên cứu của đề tài là dải ven biển gồm các huyện Giao Thuỷ,
Hải Hậu, một phần của các huyện Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Trực Ninh
diện tích khoảng 700km
2
(xem hình 4).
2-Đặc điểm địa hình
Địa hình nghiên cứu là đồng bằng thấp trũng có địa hình khá bằng
phẳng có độ cao tuyệt đối từ 0,5 đến 1,5m được cấu tạo bởi trầm tích có tuổi
Q
2
tb, ụi ni Q
1
2
hh. Do cú c im a hỡnh thp nờn quanh nm cú nc,
nhiu ni ly li ớt c canh tỏc.
3.c im khớ hu
Cng nh cỏc tnh ng bng Bc B, Nam nh mang khớ hu
nhit i giú mựa núng m. Nhit trung bỡnh nm 23-24
o
C, thỏng lnh
Phía đông nam của tỉnh Nam Định là bờ biển thông ra vịnh Bắc Bộ. Đ-
ờng bờ biển thuộc Nam Định dài 72km thẳng đang bị xói lở lấn dần vào lục
địa. Biển ở Nam Định có đặc điểm chung với biển ở vịnh Bắc Bộ.
Thuỷ triều vùng biển Nam Định có chế độ nhật triều đều. Độ lớn
chiều đạt đến gần 4m thuỷ triều biến thiên có quy luật theo thời gian: ngày,
nửa tháng, mùa, nhiều năm.
- Quy luật biến thiên ngày: Trong 1 ngày có 1 lần nớc lên và 1 lần nớc
xuống thời gian xấp xỉ bằng nhau và bằng 12
h
24. Đờng cong biểu diễn sự
biến thiên thuỷ triều là một hình sin ( hình.5) khá đều đặn. Hầu hết số ngày
trong tháng chỉ có 1 lần nớc lớn và 1 lần nớc ròng, trong thời kỳ nớc kém
quy luật đó có thể bị phá vỡ khi đó trong 1 ngày có thể có 2 lần nớc lớn 2 lần
nớc ròng gọi là những ngày nớc sinh.
- Quy luật biến thiên theo nửa tháng: Trong vòng nửa tháng thuỷ triều
cũng biến thiên tơng tự trong 1 ngày nghĩa là có 1 lần nớc lớn 1 lần nớc ròng.
Thời kỳ nớc lớn biên độ triều thờng lớn gấp 5 -12 lần biên độ triều thời kỳ n-
ớc kém ( xem hình. 5).
- Quy luật biến thiên theo mùa: Trong vòng nửa năm thuỷ triều thực
hiện 1 chu kỳ dao động ( hình .5) với độ lớn triều cực đại vào thời kỳ hạ chí
(23-6) và đông chí (23-12) và cực điểm vào thời kỳ xuân phân (21-3) và thu
phân (21-9).
- Quy luật biến thiên theo nhiều năm: Trong quy luật biến thiên nhiều
năm của thuỷ triều thì chỉ có các chu kỳ 9 năm và 19 năm là có ảnh hởng
đáng kể đến các đặc trng của thuỷ triều.
-8.10
-7.90
-7.70
-7.50
Bảng 2. Giao động biên độ triều ở các cửa sông vùng Nam Định
Trạm
Khoảng cách tới cửa
biển, km
Biên độ, cm
-Sông Hồng
Ba Lạt 10 162
Ngô Xá 59 120
Phú Nha 81 85
Bảo Châu 105 65
-Sông Đáy
Nh Tân 5 175
Độc Bộ 38 103
Nông Bình 59 76
- Cùng với sự truyền triều, nớc mặn cũng xâm nhập vào sông. Độ sâu
xâm nhập phụ thuộc vào biên độ dao động triều và lợng nớc sông từ nguồn
đổ về. Do đó độ mặn của sông thay đổi theo mùa, theo cơn triều, chu kỳ
triều Độ mặn cao nhất thờng xuất hiện theo đỉnh triều từ 0-2h và thấp nhất
sau chân triều từ 0-2h. Nếu lấy 1g/kg làm giới hạn độ mặn do ảnh hởng của
thuỷ triều trên sông thì theo tài liệu quan trắc nhiều năm đã xác định đợc
khoảng cách tối đa bị xâm nhập mặn ở sông Hồng là 23- 25km và sông Đáy
là 22 km cách bờ biển.
d- Hiện tợng nớc biển dâng
Hiện nay trớc nguy cơ biến đổi khí hậu toàn cầu, nhiệt độ trái đất có
thể tăng lên do băng ở 2 cực tan ra làm cho nớc biển dâng lên. Theo dự báo
của các nhà khoa học trong thế kỷ 21 mực nớc biển sẽ dâng cao khoảng 1m.
Nam Định là vùng có địa hình thấp, sẽ có nguy cơ lớn trớc hiểm hoạ này. Tại
hội thảo Biến đổi khí hậu toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam tổ
Đến 1905 đờng bờ biển tại Hải Hậu là đờng bờ tiến xa nhất từ đất liền ra
biển và đợc lấy làm mốc để nghiên cứu sự biến động đờng bờ về sau.
Tại thời điểm đó (1905) theo đặc tính hình thái đờng bờ tại Hải Hậu là
bờ lồi. Thời kỳ biến động đờng bờ từ 1905 đến nay có đặc tính sau:
- Đoạn cửa Đáy - cửa Lạch Giang: Bờ bồi tụ, đờng bờ liên tục tiến ra
biển.
- Đoạn cửa Lạch Giang- cửa Hà Lạn: Bờ xói lở, đờng bờ liên tục lùi
vào đất liền.
- Đoạn cửa Hà Lạn- cửa Ba Lạt: Bờ bồi tụ, đờng bờ liên tục tiến ra
biển
Có thể lý giải quá trình xói lở bờ ở Hải Hậu nh sau:
+ Đến 1905 bờ biển châu thổ sông Hồng tại Hải Hậu là bờ lồi, chứng
tỏ quá trình bồi tụ mạnh. So với đoạn Hải Hậu, đoạn bờ ở cửa sông Đáy, cửa
Lạch Giang và cửa Ba Lạt tiến ra phía biển chậm chạp hơn. Từ đó cho thấy
sự phân bố vật liệu trầm tích từ 1905 trở về trớc khác với hiện nay. Quá trình
bồi tụ và đờng bờ lấn ra biển nhanh là do một thời kỳ dài cha có đê sông.
+ Từ 1905 trở lại đây đờng bờ tại Hải Hậu lùi dần vào đất liền, còn đ-
ờng bờ tại cửa Đáy cửa Lạch Giang, cửa Ba Lạt lại tiến nhanh ra biển với
tốc độ 100m/năm.
Quá trình xói lở ở Hải Hậu gắn liền với sự biến động lợng vật liệu
trầm tích và sự thay đổi hình thái đờng bờ kế cận.
Đờng bờ biển huyện Hải Hậu đi qua 7 xã Hải Lộc, Hải Đông, Hải Lý,
Hải Chính, Hải Hoà, Hải Triều và Hải Thịnh. Xói lở trong khu vực hàng năm
đều gây ra những thiệt hại lớn về cơ sở hạ tầng, đồng thời tạo ra những biến
đổi về môi trờng địa chất không thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội trong
khu vực. Hiện tợng xói lở bờ biển ở huyện Hải Hậu đã bắt đầu từ đầu thế kỉ
20. Sự xuất hiện bờ xói lở này liên quan chặt chẽ đến sự suy tàn của cửa sông
Hà Lạn ( cửa sông chính đổ ra biển của sông Hồng vào thời kì đó). Bằng
chứng rõ rệt về sự suy thoái của cửa sông này là đờng bờ ở Giao Long Giao
Phong liên tục đợc bồi tụ lấn biển với tốc độ có đoạn lên tới 200m/năm trong
, các huyện ven biển đều có mật độ trên 1.000
ngời/km
2
. Nam Định chủ yếu là ngời dân tộc kinh, phần lớn là dân c nông
thôn làm nông nghiệp ( chiếm 87,6%) tạo ra sản phẩm kinh tế chiếm 40%
GDP của toàn tỉnh.
2- Kinh tế
a-Nông nghiệp
Nam Định là tỉnh trọng điểm nông nghiệp của đồng bằng sông Hồng
có diện tích đất nông nghiệp là 1.066.700ha chiếm 65% diện tích tự nhiên cả
tỉnh. Nằm giữa 2 con sông lớn là sông Hồng và sông Đáy có lợi thế về nớc t-
ới và lợng phù sa bồi đắp hàng năm nên đất đai rất màu mỡ tạo điều kiện tốt
cho phát triển trồng trọt, trong đó lúa là cây lơng thực chủ đạo. Sản lợng lơng
thực mỗi năm đạt xấp xỉ 1 triệu tấn, năng suất bình quân đạt trên 12 tấn /ha,
cá biệt đến 16 tấn /ha. Tốc độ tăng trởng nông nghiệp bình quân trong những
năm gần đây đạt 3,8%, cùng với việc thay đổi cơ cấu trong đó tỷ trọng trồng
trọt giảm xuống, chăn nuôi tăng dần.
Trong trồng trọt ngoài cây chủ đạo là cây lúa, gần đây đã phát triển
rau màu, cây công nghiệp nh: lạc, đậu tơng, khoai tây, bí xanh, da chuột, ngô
ngọt Việc trồng trọt đã chú ý đẩy mạnh trồng rừng phòng hộ đê biển, lấn
biển trồng rừng phủ xanh đồi trọc.
Về chăn nuôi phát triển toàn diện theo hớng sản xuất hàng hoá với giá
trị sản xuất tăng rất nhanh. Sản phẩm chăn nuôi chủ yếu là lợn, các loại gia
cầm. Chăn nuôi đã chuyển từ chăn nuôi tận dụng, phân tán, sang chăn nuôi
công nghiệp và bán công nghiệp, quy mô trang trại vừa và nhỏ.
b-Công nghiệp
Nam Định là tỉnh có ngành công nghiệp hình thành từ khá sớm, từ
cuối thế kỉ 19, khi đó các cơ sở sản xuất nh: dệt, tơ, rợura đời. Các nhà
máy ra đời trớc đây chủ yếu tập trung thành phố Nam Định, hiện nay đang
hình thành các khu công nghiệp dọc theo đờng 10, đờng 21 nh: Hoà Xá, An