BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KHOA HỌC THUỶ LỢI VIỆT NAM
BÁO CÁO TỔNG KẾT CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ PHÁ HOẠI
VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG
XỬ LÝ ĐÊ BIỂN THUỘC ĐỀ TÀI:
“
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẮP ĐÊ BẰNG VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐẮP TRÊN
NỀN ĐẤT YẾU TỪ QUẢNG NINH ĐẾN QUẢNG NAM
”
Mã số: 05 Thuộc chương trình: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ XÂ
Y
DỰNG ĐÊ BIỂN VÀ CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN
Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS Nguyễn Quốc Dũng
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam
Chuyên đề 7&8: Nghiên cứu cơ chế phá hoại và những nguyên tắc chung xử lý cho đê biển
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
3-2
Danh mục hình vẽ
Hình 3-1: Sơ đồ sóng bình thường vỗ vào bờ biển 3-11
Hình 3-2: Sơ đồ sóng lớn gây xói lở bờ biển 3-12
Hình 3-3: Các con hà bám vào tường cống ở Hải Hậu 3-13
Hình 3-4: Xói lở bờ biển Hải Hậu-Nam Định 3-13
Hình 3-5: Vỡ đê đe dọa con người và nền kinh tế 3-14
Hình 3-6: Cơ chế phá hoại đê biển (nguồn: Pilarczyk) 3-16
Hình 3-7: Phá hoại do các dạng xói ngầm (nguồn: Pilarczyk) 3-20
Hình 3-8: Phá hoại do mạch đùn (nguồn: Pilarczyk) 3-21
Hình 3-9: Phá hoại do đẩy trồi 3-21
Hình 3-10: Phá hoại do đứt gãy 3-22
Hình 3-11: Phá hoại do hóa lỏng (nguồn: Pilarczyk) 3-23
Hình 3-12: Phá hoại do trượt phẳng 3-24
Hình 3-13: Nước rút nhanh gây trượt mái ngoài 3-24
Hình 3-14: Phá hoại do mất ổn định mái dốc 3-25
Hình 3-15: Trượt khi đê đắp bằng nhiều loại đất khác nhau 3-25
Hình 3-16: Trượt khi nâng cấp đê cũ 3-25
Hình 3-17: Các dạng phá hoại lớp bảo vệ mái 3-26
Hình 3-18: Phá hoại do tác động của tàu thuyền 3-27
chịu tác động của sóng, gió. Vì vậy, vẫn cần phải có công trình bảo vệ. Sự khác biệt
giữa xác định đê biển và đê cửa sông chính là xác định đà gió, hướng gió và sự
quan hệ giữa hai yếu tố này.
Đê biển nướ
c ta không liền tuyến do bị chia cắt bằng nhiều cửa sông lớn nhỏ,
các tuyến đê biển thường nối tiếp với các tuyến đê cửa sông để tạo thành các tuyến
khép kín bảo vệ các vùng ven biển, tổng chiều dài đê cửa sông cũng gần xấp xỉ với
chiều dài đê trực tiếp biển. Các tuyến đê biển, đê cửa sông từ Quảng Ninh đến
Quảng Nam có t
ổng chiều dài khoảng 1.700 km, trong đó có khoảng 853 km đê
biển, đờ cửa sông là đê cấp III hoặc là đê được đầu tư chủ yếu bằng ngân sách
Trung ương.
3.2 Phân tích các nguyên nhân phá hoại đê biển
3.2.1 Nguyên nhân nội sinh
a. Kiến tạo địa chất
Nguyên nhân nội sinh ở đây được hiểu là chuyển động tân kiến tạo và hiện đại
gây nên chuyển động nâng, hạ, tách, dãn, trượt củ
a lớp hoặc các mảng của vỏ trái
đất dẫn đến bồi, xói. Tiếc là cho đến nay, vấn đề chuyển động tân kiến tạo và hiện
đại của dải ven biển Việt Nam còn ít được nghiên cứu đến, còn tản mạn và mâu
thuẫn. Thí dụ, có ý kiến cho rằng xói lở bờ biển vùng Hải Phòng có liên quan trực
tiếp với hoạt động đứt gãy hiện đại của vùng Hải Phòng – Quảng Yên với sự s
ụt lún
Chuyên đề 7&8: Nghiên cứu cơ chế phá hoại và những nguyên tắc chung xử lý cho đê biển
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
3-5
hiện thời của vùng cửa sông Bạch Đằng. Tác giả Nguyễn Thế Thôn và đồng nghiệp
lại cho rằng ở suốt chiều dài Móng Cái – Cửa Hội, hoạt động tân kiến tạo từ nửa
cuối Holoxen đến nay (tức 4000 năm trở lại đây) đã không còn có các biểu hiện gì
nữa và đã ngưng lại và do vậy, không đóng vai trò gì rõ rệt về nâng, hạ và quá trình
xói mòn. Trong c
ơn bão số 7 tháng 9 năm 2005, phần lớn các đoạn đê hư hỏng ở
Hải Hậu là do sườn phía đất liền bị nước do sóng leo tràn vào phá hoại trước, kéo
Chuyên đề 7&8: Nghiên cứu cơ chế phá hoại và những nguyên tắc chung xử lý cho đê biển
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
3-6
theo là sự sập đổ dần của mái đê theo chiều từ đất liền ra biển.
Với vật liệu đắp là cát mịn lấy trực tiếp ở ven biển. Một số chỉ tiêu cơ lý cơ
bản của đất đắp đê được lấy tại Hải Hậu như sau: hệ số rỗng (e) = 0,759, đường
kính hạt hữu hiệu D10 = 0,12mm, hệ số đồng nhất CU = 1,3, góc ma sát trong h
ữu
hiệu (j’) 25-300. Do đê có góc dốc phía đất liền phổ biến là 1:2 (gần 300) tức là xấp
xỉ góc ma sát trong hữu hiệu của đất. Sở dĩ ở trạng thái tự nhiên đê bền vững là do
đất được bổ sung thành phần sức chống cắt do độ hút dính. Qua đây có thể thấy, ở
trạng thái khô gió, cát mịn có độ hút dính lên tới 10kPa, tăng cao sức chống cắt của
đất. Khi mực nước dâng cao do thủy tri
ều và nước dâng trong bão, cát mịn dễ dàng
bị bão hòa nước do mao dẫn, hoặc trong một số trường hợp bão hòa do nước mưa,
nước mặt. Khi đó, mái dốc phía đất liền gần như ở trạng thái cân bằng giới hạn. Do
vậy, dưới tác dụng của dòng chảy mặt sườn đê dễ dàng bị xói mòn, thậm chí bị sạt
lở ở các mức độ khác nhau. Nghiêm trọng hơn, nếu nước do sóng leo tràn qua đ
ê sẽ
dễ dàng gây ra sự mất ổn định của sườn đê biển, tạo ra các khối trượt nông dạng
dòng chảy và dẫn đến sự phá hủy hoàn toàn đê biển theo chiều từ đất liền ra biển.
3.2.2 Nguyên nhân nhân sinh
Các hoạt động khai hoang lấn biển, thủy lợi, khai thác sa khoáng, vật liệu xây
dựng, chặt phá rừng ngập mặn v.v có thể gây nên sự xói lở bờ biển, thường là ở
mức độ địa phương, trong phạm vi hẹp. Ở nước ta có thể dẫn ra khá nhiều ví dụ như
vậy.
a. Do khai hoang lấn biển
Một số nơi khác khi có công trình thủy lợi cũng đã gây xói lở bờ, như bờ biển
Hoàng Yến (Hoằng Hóa), bờ biển Quảng Tiến (Thị xã Sầm Sơn) tỉnh Thanh Hóa bị
xói lở từ khi có kè Hới xây dựng. Bờ Nhân Trạch, Bố Trạch bị lở sau khi có đập Đ
á
Mài, bờ Triệu An (Triệu Phong, Quảng Trị) xói lở khi có công trình thủy lợi.
Ảnh hưởng của hệ thống sông đào và mương tưới tiêu đối với hiện tượng xói
lở bờ biển không lớn lắm, song cũng cần quan tâm. Thực tế cho thấy khi chưa mở
cửa sông Hoàng và sông Lý (huyện Quảng Xương) đổ vào hạ lưu sông Yên thì bờ
biển Hải Châu (Diễn Châu, Nghệ An) bị xói lở từ sau khi có kênh đào Vách B
ắc, bờ
Diễn Ngọc bị xói lở từ khi có 2 kênh đào thủy lợi.
c. Do khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng
Bờ biển Hàm Thuận tỉnh Bình Thuận, trước khi chưa có Xí nghiệp khai thác
khoáng sản Thuận Hải về khai thác cát đen (imminit) và titan, thì không thấy xói lở
xảy ra. Từ sau 1983 trở lại đây, do khai thác sa khoáng ven biển trên bờ phía Nam
của xã sau 2 lần gió mùa Đông Bắc thì bờ biển đã bị xói lở mất 20m. Còn ở
Đồng
Châu (Thái Bình) do khai thác cát làm vật liệu xây dựng cũng đã làm mất ổn định
đường bờ và quá trình xói lở đã xảy ra.
Ở bờ biển nước ta, một số nơi có san hô phát triển. Bờ san hô thành tạo dưới
Chuyên đề 7&8: Nghiên cứu cơ chế phá hoại và những nguyên tắc chung xử lý cho đê biển
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
3-8
các dạng khác nhau và có tác dụng bảo vệ bờ, giảm năng lượng sóng đập vào bờ và
là vật cản của dòng ven. Một số đoạn bờ ổn định và vững chắc là nhờ có cấu tạo bờ
san hô. Một số địa phương đã khai thác san hô làm đá vôi xây dựng, phá vỡ bức
tường chắn sóng vững chắc tự nhiên của bờ. Từ sau khi bờ bị khai thác san hô làm
vôi, đường bờ bên trong b
ị phá hủy và gây xói lở nghiêm trọng như bờ Vĩnh Lương,
Khánh Hòa.
Dễ thấy không thể xem gió có tác động trực tiếp mang vật chất từ bờ biển đi
một nơi khác và do đó gây xói lở (mặc dù gió có thể thổi bay một lượng đáng kể cát
khô tràn vào đất liền ở một số địa điểm miền Trung như ở bờ biển Quảng Bình,
Quảng Trị). Gió chỉ có gián tiếp xói lở bằng cách tạo ra sóng, dòng chảy là những
yếu tố
trực tiếp gây ra hiện tượng đó.
b. Bão
Gió trong giông, bão có thể bốc đi một lượng đáng kể cát ở bờ biển, song tác
động chính gây xói lở (biến động luồng lạch, sạt lở bờ biển, vỡ đê v.v ) vẫn do các
hậu quả chính của bão là sóng bão và dòng chảy trong bão. Tuy nhiên, thông
thường, những thay đổi địa hình bờ biển do chúng chỉ tồn tại trong một thời gian
nào đó, và sẽ được các y
ếu tố động lực thường kỳ bồi đắp để đạt được xu thế
thường kỳ trước bão. Sự xuất hiện hoặc biến mất của các doi cát ở một số cửa sông
nước ta khi có bão thuộc loại nguyên cơ này.
c. Biến đổi mực nước
Khi mực nước dâng cao hơn, khả năng sóng vỗ được vào lớp đất, cao hơn của
bờ biển,
đê biển (thường là lớp kém bền vững hơn các lớp thấp hơn) sẽ lớn hơn. Do
vậy dễ gây xói lở hơn. Tuy nhiên, nếu sự dâng lên đó chỉ xảy ra trong thời gian
ngắn và hậu quả xói lở tức thì không quá nghiêm trọng thì bờ biển có thể trở lại
trạng thái cân bằng như trước đó (điều này thường đúng đối với mực nước dâng do
bão, có thể cao tớ
i 3 ± 4m), song chỉ tồn tại trong 2 ± 3 giờ).
Bảng 3-1: Mức độ gia tăng xói lở bờ biển do mực nước biển dâng cao
Gió mùa có thể chỉ dâng lên cỡ 30 ± 40cm song có thể tồn tại một tuần hoặc
lâu hơn, tạo thời gian lâu dài hơn cho sóng đánh vào lớp cấu tạo bờ cao hơn, đặc
Chuyên đề 7&8: Nghiên cứu cơ chế phá hoại và những nguyên tắc chung xử lý cho đê biển
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
năng lượng là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự vận chuyển bùn cát đáy biển và tạo ra
các vùng bồi xói.
Thông thường, có hai trạng thái sóng đặc trưng, đó là sóng bình thường và
sóng lớn.
Hình 3-1: Sơ đồ sóng bình thường vỗ vào bờ biển
Hình 3-1 là sơ đồ thể hiển sóng bình thường hàng ngày tác dụng vào bờ và bãi
biển. Mái dốc của bờ và bãi biển ở trạng thái cân bằng ổn định trong điều kiện sóng
và dòng chảy bình thường.
Chuyên đề 7&8: Nghiên cứu cơ chế phá hoại và những nguyên tắc chung xử lý cho đê biển
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
3-12
Hình 3-2: Sơ đồ sóng lớn gây xói lở bờ biển
Hình 3-2 là sơ đồ thể hiện sóng lớn khi có gió bão tác dụng vào bờ và bãi biển;
mái dốc của bờ và bãi biển bị xói lở và lấp xuống chân mái dốc của bãi biển; bờ và
bãi biển đang ở trạng thái mất ổn định.
f. Tác động hóa học
Hàm lượng muối hòa tan trong nước biển vào khoảng 34 đến 35 gam/lít. Loại
muối NaCl chiếm tỷ lệ lớn nhất, khoảng 77-79%, tiếp đến là MgCl chiếm 10.5-
10.9%, MgSO
4
chiếm 4.8%, CaSO
4
chiếm 3.4-3.6% và một số loại muối khác. Các
loại muối trên có thể gây ra các phản ứng hóa học với khoáng chất, các loại vật liệu
đá, bê tông, bê tông cốt thép, kết cấu thép… Hậu quả là các vật liệu trên có thể bị ăn
mòn hóa học.
g. Tác động của sinh vật
đánh giá của Cục phòng chống lụt bão và quản lý đê điều tiến hành năm 2005 tổng
kết r
ằng hầu hết các đoạn đê bị phá hỏng là trực diện với biển chịu tác động trực
tiếp của sóng lớn. Thực tế qua các trận bão năm 2005 cho thấy, những đoạn đê trực
tiếp biển, mái phía biển được bảo vệ bằng đá hộc lát khan, đá xây từ cao trình
+3,50m trở lên (từ cao trình 3,50m trở xuống bảo vệ bằng cấu kiện bê tong do trước
đây không đủ kinh phí đầu tư) là không đảm bảo ổn định bền vững; bão số 7 năm
2005 sóng lớn đã làm hư hỏng nặng, hoặc phá hủy phần đá lát khan, đá xây từ cao
trình +3,50m trở lên, dẫn đến vỡ đê biển như: đê biển I - Đồ Sơn, đê biển Cát Hải,
đê biển Nam Định. Những đoạn mái đê biển được bảo vệ bằng các loạ
i cấu kiện bê
tông đúc sẵn có đủ chiều dày, trọng lượng phù hợp thì không bị phá hoại trong bão.
Hình 3-5: Vỡ đê đe dọa con người và nền kinh tế
Ngoài ra, sự ổn định của để biển gắn liền với mức độ ổn định của đường bờ.
Lượng chuyển cát dọc bờ biển là một trong những yếu tố cơ bản quyết định mức độ
ổn định của đường bờ.
Các dạng phá hoại tự nhiên có thể kể
đến như sau:
- Sóng do tác dụng trực tiếp lên công trình hoặc bờ, bằng áp lực xung kích
Chuyên đề 7&8: Nghiên cứu cơ chế phá hoại và những nguyên tắc chung xử lý cho đê biển
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
3-15
của nó phá hoại kết cấu bảo vệ, gây trượt mái, lật các tường đứng.
- Xô vỡ rồi cuốn trôi công trình hoặc bờ đất cao ven biển khi có sóng triều
cùng kèm theo bão.
- Dòng chảy bào mòn mặt bãi, hạ thấp thềm bãi, xâm thực chân công trình
hoặc bờ đất gây sụt lở đất, đẩy lùi dần tuyến bờ vào trong. Đây là dạng
phá hoại khó khắc phục nhất.
- Bồi lấp cửa sông làm giả
Hình 3-6: Cơ chế phá hoại đê biển (nguồn: Pilarczyk)
Chuyên đề 7&8: Nghiên cứu cơ chế phá hoại và những nguyên tắc chung xử lý cho đê biển
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
3-17
Với tất cả các dạng phá hoại này, trạng thái được xem xét là trạng thái tới hạn,
tại đó các lực tác dụng cân bằng với các các lực chống đỡ của công trình. Trong ứng
dụng tính toán trạng thái tới hạn, hàm mật độ xác suất của các nguy cơ phá hoại
(gồm các tải trọng) và nhân tố chống đỡ (phụ thuộc độ bền của đê) được tổ hợp lạ
i.
Các nguy cơ phá hoại được thể hiện qua các biến cơ bản (phụ thuộc các điều kiện
biên của công trình), ví dụ như vận tốc gió cực hạn (hoặc độ cao sóng và chu kỳ
sóng), cao trình mực nước và tác động của tàu bè (va chạm). Các nhân tố giữ ổn
định công trình được suy ra từ các biến cơ bản tính toán từ lý thuyết hay từ mô hình
vật lý (ví dụ như từ lý thuyết hay mô hình ổn định bán kinh nghiệm c
ủa cấu trúc hạt
đất). Quan hệ để suy ra các nguy cơ phá hoại từ điều kiện biên được gọi là các hàm
truyền (ví dụ như để chuyển sóng hay thủy triều thành các lực tác dụng lên hạt đất
hay các thành phần kết cấu khác). Xác suất xảy ra trạng thái cân bằng ứng với mỗi
một cơ chế phá hoại được tính toán bằng phương pháp toán học và thống kê. Ranh
giới an toàn giữa nguy cơ phá hoại và nhân tố
giữ ổn định đảm bảo xác suất bị phá
hoại là bé.
Ngoài giới hạn phá hủy, trong quá trình hoạt động của đê biển còn xuất hiện
một số trạng thái ở đó sự tác động của tải trọng trong một thời gian đủ dài sẽ gây ra
sự giảm sức bền công trình nhưng không lập tức phá hoại công trình. Có thể kể đến
một số cơ chế như
xói bãi trước, lún v.v Tuy nhiên trong điều kiện đặc biệt, sự
xuống cấp này có thể gây phá hoại công trình.
Trong quá trình hoạt động của đê biển, giới hạn phục vụ có thể được tăng lên
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Mất ổn định
cục bộ
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Dòng chảy
lắng
X
X
Trượt mái
ngoài
X
X
X
X
X X
X
X
X
X
Tràn đỉnh
X
X
X
X
X
X
Cơ phía trong
Rãnh tiêu nước
Nền đê
Bãi ngoài
Bãi trong
Lớp bảo vệ
Tường chắn sóng
Bộ phận thoát nước
Bảng 3-4: Các bộ phận của đê và loại phá hoại tương ứng
Có hai trạng thái giới hạn khác nhau có vai trò quan trọng trong địa kỹ thuật:
trạng thái giới hạn cực hạn liên quan tới cơ chế phá hoại và trạng thái giới hạn phục
vụ liên quan đến biến dạng cho phép của đất hay của nền và công trình.
Chuyên đề 7&8: Nghiên cứu cơ chế phá hoại và những nguyên tắc chung xử lý cho đê biển
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
3-20
Trên phương diện địa kỹ thuật, đối với đê biển có thể phân biệt 2 dạng phá
hoại chính: phá hoại cấu trúc đất và phá hoại tổng thể.
3.3.1 Phá hoại cấu trúc đất
Các dạng phá hoại cấu trúc đất thường xảy ra:
a. Xói ngầm
Xói ngầm là hiện tượng mất đất xảy ra khi các hạt đất nằm trong các lớp dưới
di chuyển vào trong lớp đất hạt thô ở
phía trên.
Xói ngầm cũng có thể xảy ra ngay trong một lớp đất khi các hạt mịn dịch
chuyển qua kẽ hở giữa các hạt thô hơn.
Hình 3-7: Phá hoại do các dạng xói ngầm (nguồn: Pilarczyk)
b. Xói tiếp xúc
Xói tiếp xúc là hiện tượng xảy ra khi dòng thấm chảy song song với mặt phân
cách các vật liệu hạt rời, nếu cấp phối hạt của đất không hợp lý (ví dụ do đầm nén
Đẩy trồi gây đứt gãy ở lớp bảo vệ dưới tác dụng của áp lực cao, khi khối
đất yếu tương đối mỏng.
Hình 3-9: Phá hoại do đẩy trồi
Chuyên đề 7&8: Nghiên cứu cơ chế phá hoại và những nguyên tắc chung xử lý cho đê biển
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
3-22
Hình 3-10: Phá hoại do đứt gãy
Việc mô tả quan hệ giữa các trạng thái tới hạn và các dạng phá hoại nên tập
trung vào phân tích ứng xử của đất và tương tác đất - nước kẽ rỗng. Trong cách tiếp
cận này, các thông số như kích cỡ, hình dạng và trọng lượng hạt đất, lực ma sát giữa
hạt đất, lực thể tích, lực nâng kéo liên quan đến dòng chảy ngầm đều có vai trò quan
trọng. Tuy nhiên, cách tiếp cận này là rất phức t
ạp và do đó, khó áp dụng vào thực
tế. Người thiết kế có thể sử dụng các mô hình thực nghiệm trong tính toán phá hoại,
ví dụ như dùng các nguyên tắc thiết kế để phán đoán xác suất xảy ra mạch đùn hay
dùng các cơ chế ổn định để phán đoán xói ngầm hay mất đất.
Các thông số của đất quan trọng nhất trong các dạng phá hoại này là đường
kính hạt và tính thấm.
Các dạng phá hoại mứ
c độ cấu trúc đất nói chung có liên quan chặt chẽ đến
quá trình gia tải tới hạn hoặc thiết kế. Đặc biệt đối với vật liệu hạt mịn như cát, sự
dịch chuyển của các hạt thường phải phát triển tới một quy mô nhất định thì mới
làm xuất hiện các dấu hiệu phá hoại và khi phát triển đến quy mô lớn nhất mới gây
hỏng hóc cho công trình. Mặc dù thường xuất hi
ện không qua các biểu hiện rõ ràng
bên ngoài, các dạng phá hoại này vẫn cần phải được quan tâm khi có những ảnh
hưởng nguy hiểm trong một thời gian dài. Nhiều sự cố đê biển đã được chỉ ra là do
tác động của xói ngầm.
- Áp lực đẩy ngược dưới đê tăng lên trong tầng đất nền dưới ảnh hưởng
của dòng chảy lũ.
Chuyên đề 7&8: Nghiên cứu cơ chế phá hoại và những nguyên tắc chung xử lý cho đê biển
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
3-24
Hình 3-12: Phá hoại do trượt phẳng
Hình 3-13: Nước rút nhanh gây trượt mái ngoài
c. Mất ổn định mái dốc
Dạng phá hoại này có thể xảy ra ở mái ngoài hoặc mái trong đê. Khi mực
nước biển rút xuống nhanh, ở mái ngoài dễ xảy ra mất ổn định mái dốc khi tính chất
của vật liệu đắp thay đổi theo không gian, thời gian.
a) Trượt mái phía trong