MỤC LỤC
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 1
1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng 1
2. Các loại bảo lãnh ngân hàng 2
3. Chức năng của bảo lãnh 7
4. Vai trò của bảo lãnh 8
5. Quy chế bảo lãnh ngân hàng 10
II. THỰC TRẠNG BẢO LÃNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 12
1. Thành tựu đạt được 13
2. Tồn tại, hạn chế 17
3. Nguyên nhân của những hạn chế 18
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH
NGÂN HÀNG 21
2
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG
1. KHÁI NIỆM BẢO LÃNH NGÂN HÀNG
"Bảo lãnh ngân hàng": Là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên
bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài
chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách
hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.
"Cam kết bảo lãnh": Là văn bản bảo lãnh của tổ chức tín dụng, bao gồm:
a) "Thư bảo lãnh": là cam kết đơn phương bằng văn bản của tổ chức tín dụng
về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi
khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với
bên nhận bảo lãnh.
b) "Hợp đồng bảo lãnh": Là thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng và
bên nhận bảo lãnh hoặc giữa tổ chức tín dụng, bên nhận bảo lãnh, khách hàng và
các bên liên quan (nếu có) về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài
chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Được sử dụng phổ biến trong thương mại quốc tế.
2.2. Phân loại dựa trên mục đích của bảo lãnh
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng (Performance Guarantee)
Loại bảo lãnh này nhằm chống đỡ rủi ro cho người thụ hưởng trong trường
hợp người cung cấp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng. Bảo lãnh thực
hiện hợp đồng được sử dụng thay thế cho yêu cầu ký quỹ mà người đặt hàng đề
nghị đối với người cung ứng để đảm bảo bồi thường vi phạm hợp đồng.
4
Là loại bảo lãnh ngân hàng được sử dụng nhiều nhất trong thực hành và
được xem như một công cụ đối ứng vói tín dụng chứng từ.
Bảo lãnh hoàn thanh toán (Repayment Guarantee)
Loại bảo lãnh này được sử dụng trong các hợp đồng thương mại, dịch vụ
mà người mua hàng hay người hưởng dịch vụ đã ứng trước tiền hàng cho người
bán hay người cung cấp dịch vụ. Bằng việc cam kết sẽ trả lại số tiền đã ứng
trước cho người mua khi người bán vi phạm không thực hiện hợp đồng, ngân
hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra sự tin tưởng cho người mua hàng và đồng thời
cũng giúp người cung ứng thoát khỏi những khó khăn tạm thời về ngân quỹ.
Bảo lãnh trả chậm (Deferred Payment Guarantee)
Loại bảo lãnh này được sử dụng trong các hợp đồng mua bán thiết bị hàng
hóa trả chậm và còn gọi là bảo lãnh thanh toán. Để bảo vệ mình trước rủi ro
không thanh toán đầy đủ và đúng hạn của người mua, người bán có thể yêu cầu
một bảo lãnh trả chậm của ngân hàng.
Bảo lãnh dự thầu (Tender Guarantee - Bid Bond)
Mục đích của bảo lãnh dự thầu là nhằm bù đắp những thiệt hại về thời gian
và chi phí cho người tổ chức đấu thầu do những vi phạm của bên đối tác liên
quan (người tham gia dự thầu) như: rút đơn dự thầu, không ký tiếp hợp đồng sau
khi trúng thầu
Bảo lãnh dự thầu sẽ tự động mất hiệu lực trong trường hợp người được bảo
lãnh không trúng thầu.
Các loại bảo lãnh tài chính khác (Financial Guarantee)
là bảo lãnh đối ứng do chính ngân hàng này đưa ra. Sau đó ngân hàng chỉ thị lại
có thể truy đòi từ người được bảo lãnh.
NGÂN HÀNG
PHÁT HÀNH
NGÂN HÀNG
THÔNG BÁO
NGƯỜI THỤ
HƯỞNG BẢO
LÃNH
NGƯỜI ĐƯỢC
BẢO LÃNH
6
Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp
4b
3
4a 4b
2
1
(1) Hợp đồng gốc.
(2) Khách hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình ra chỉ thị cho ngân hàng
chính phát hành bảo lãnh.
(3) Ngân hàng thứ nhất chỉ thị cho ngân hàng thứ hai phát hành bảo lãnh,
đồng thời cam kết bồi hoàn trên bảo lãnh đối ứng.
(4a,4b) Ngân hàng thứ nhất phát hành bảo lãnh: có thể chuyển trực tiếp cho
người thụ hưởng hoặc qua ngân hàng thông báo.
c. Đồng bảo lãnh (Syndicated Guarantee)
Trong một số dự án có giá trị lớn, để giảm thiểu rủi ro các ngân hàng có thể
thực hiện đồng bảo lãnh. Trường hợp này một ngân hàng đóng vai trò đầu mối
(Leading Bank) phát hành bảo lãnh nhưng có sự tham gia của các ngân hàng
đồng minh khác. Nếu phải chi trả cho người bảo lãnh theo bảo lãnh đã lập, ngân
Bảo lãnh theo yêu cầu (Demand Guarantee)
Bảo lãnh theo yêu cầu hay còn gọi là bảo lãnh theo yêu cầu đầu tiên (First
Demand Guarantee) là loại bảo lãnh mà điều kiện thanh toán của nó là người thụ
hưởng bảo lãnh chỉ cần xuất trình yêu cầu thanh toán cho ngân hàng phát hành.
Yêu cầu thanh toán có thể là một trong hai dạng sau:
- Văn bản yêu cầu thanh toán
NGÂN HÀNG 3
NGÂN HÀNG 1
NGÂN HÀNG 2
NGÂN HÀNG
PHÁT HÀNH
NGƯỜI ĐƯỢC
BẢO LÃNH
NGƯỜI THỤ
HƯỞNG BẢO
LÃNH
NGÂN HÀNG
THÔNG BÁO
8
- Văn bản yêu cầu thanh toán kèm với tờ trình về sự vi phạm hợp đồng
của người được bảo lãnh.
Bảo lãnh kèm chứng từ (Documentary Guarantee)
Là loại bảo lãnh mà điều kiện thanh toán là phải có chứng từ xác nhận của
bên thứ ba (thường là một bên độc lập có đủ tư cách chuyên môn để xác nhận).
Chứng từ có thể được xuất trình theo một trong hai cách sau:
- Người thụ hưởng xuất trình các chứng từ xác nhận hành vi vi phạm nghĩa
vụ từ phía người được bảo lãnh. Những chứng từ này do bên thứ 3 có tư cách
độc lập phát hành.
- Người thụ hưởng xuất trình yêu cầu thanh toán, ngoài ra không cần phải
xuất trình bất kỳ loại chứng từ nào khác. Tuy nhiên quyền thanh toán của người
trong nước mà còn được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch quốc tế. Có thể nói
rằng trong các hợp đồng lớn, nhất là các hợp đồng có yếu tố nước ngoài khi các
bên chưa thực sự tin tưởng nhau thì không thể thiếu hình thức bảo lãnh của ngân
hàng. Bảo lãnh ra đời không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn mang lại
lợi ích cho cả doanh nghiệp và nền kinh tế.
Trong kinh doanh ngày nay, bảo lãnh ngân hàng luôn được xem như tấm
Giấy thông hành cho doanh nghiệp trong các hoạt động mua bán trả chậm. Việc
này không những tạo thuận lợi cho kế hoạch của bạn mà các đối tác kinh doanh
cũng sẽ có cơ sở để tin tưởng doanh nghiệp của bạn hơn.
Với vai trò như vậy, bảo lãnh đã trở thành loại dịch vụ kinh doanh có nhiều
tác động tích cực trong việc thúc đẩy các giao dịch về vốn, các giao dịch kinh
doanh không chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng mà cả trong dự thầu, thực hiện hợp
đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm
4.1. Đối với ngân hàng
- Trước hết bảo lãnh giúp ngân hàng đa dạng hoá danh mục sản phẩm dịch
vụ, nhờ đó mà ngân hàng có thể giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt thì việc phát triển các loại hình
sản phẩm dịch vụ hiện đại là một yêu cầu cấp bách đối với các ngân hàng. Mà
bảo lãnh là một trong những nghiệp vụ không chỉ thúc đẩy hoạt động kinh doanh
10
của ngân hàng mà còn giúp ngân hàng tăng uy tín của mình nhất là trên thị
trường quốc tế.
- Thứ hai, thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng được hưởng một khoản
thu nhập lớn từ phí bảo lãnh. Đây là một khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng thu từ dịch vụ của một ngân hàng thương mại hiện đại. Việc cấp bảo lãnh
không đòi hỏi ngân hàng phải cấp vốn ra ngay mà chỉ bảo lãnh bằng uy tín của
mình, do đó ngân hàng chưa phải sử dụng đến vốn của mình. Hơn nữa ngân
hàng cũng rất ít khi phải đứng ra bồi hoàn bảo lãnh nên hầu như ngân hàng
không sử dụng vốn của mình, không phải trả chi phí cho huy động vốn.
- Thứ ba là theo quy định khi muốn được bảo lãnh thì khách hàng phải có
đồng thương mại được ký kết và được thực hiện có hiệu quả. Từ đó các doanh
nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh và có những đóng góp cho nền kinh
tế. Bảo lãnh ngân hàng giúp đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế để phát triển
và mở rộng. Các hoạt động bảo lãnh vay vốn nước ngoài, mua máy móc vật tư,
thiết bị sản xuất theo phương thức trả chậm tạo điều kiện mạnh mẽ để thu hút
vốn, đặc biệt là những nước phát triển như Việt Nam, tạo điều kiện ứng dụng
công nghệ tiên tiến, tăng năng suất lao động.
- Bảo lãnh cũng thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển. Thông qua các
chương trình Quốc gia phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, bằng việc quyết
định có bảo lãnh hay không bảo lãnh, bảo lãnh với mức phí cao hay thấp, bảo
lãnh thúc đẩy một số ngành phát triển, hạn chế một số lĩnh vực kinh tế hoạt động
kém hiệu quả.
- Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, nguồn vốn
đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Bảo lãnh ngân hàng có thể
giúp các doanh nghiệp thu hút được nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là những nguồn
vốn rẻ với thời hạn dài từ trong nước và nước ngoài.
5. QUY CHẾ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG
Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số
26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
12
Việc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) ký được hợp đồng
bảo lãnh trọn gói cung ứng tín dụng và các dịch vụ ngân hàng cho hai tổng công
ty lớn là Vinashin với hạn mức tín dụng lên đến 1.200 tỷ đồng và làm đầu mối
cho các dự án đồng tài trợ là 2.000 tỷ đồng; và Vinamotor: hạn mức tín dụng
700 tỷ đồng và hạn mức bảo lãnh 200 tỷ đồng, đã khiến không ít đối thủ cạnh
tranh mất ăn, mất ngủ. Dịch vụ bảo lãnh đang dần trở thành nguồn thu đáng kể
trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Quy chế bảo lãnh mới đã tạo thêm
nhiều cơ hội phát triển dịch vụ của NHTM.
Trước hết, về các loại hình bảo lãnh. Quy chế mới chính thức công nhận
thêm hai loại hình bảo lãnh: "Bảo lãnh đối ứng" và "Xác nhận bảo lãnh". Thực
hiện nay và làm tăng tính cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, một
chuyên gia của Ngân hàng Nhà nước cũng cảnh báo: Nếu các NHTM chạy đua
trong việc giảm phí dịch vụ mà không xem xét kỹ khả năng thực hiện hợp đồng
của khách hàng thì có nghĩa họ đang chấp nhận rủi ro lớn hơn.
II. THỰC TRẠNG BẢO LÃNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, môi
trường cạnh tranh ngày càng trở nên quyết liệt hơn, đòi hỏi các ngân hàng phải
không ngừng phát triển và đổi mới theo hướng hoàn thiện các nghiệp vụ sẵn có,
tiếp cận và ứng dụng các dịch vụ mới. Bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ
được các ngân hàng thương mại Việt Nam quan tâm phát triển trong những năm
đổi mới. Phát triển nghiệp vụ này không những góp phần đa dạng hoá các sản
phẩm, dịch vụ của ngân hàng, mà còn thoả mãn nhu cầu đa dạng về bảo lãnh của
doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh tế -
thương mại.
Kết quả hoạt động bảo lãnh của các ngân hàng thương mại Nhà nước ở Việt
Nam cho thấy, nghiệp vụ này đã có sự phát triển nhanh trong thời gian qua.
Doanh số và dư Nợ bảo lãnh của các ngân hàng thương mại Nhà nước liên
tục tăng trưởng qua các năm. Đặc biệt, dư Nợ bảo lãnh tăng mạnh trong vài năm
gần đây: Năm 2000 so với năm 1999 tăng 72% , tương đương 797,3 tỷ đồng;
năm 2001 so với năm 2000 tăng 69%, tương đương 13131,8 tỷ đồng và năm
14
2002 tăng 29% so với năm 2001, tương ứng 9310,9 tỷ đồng. Với mức tăng
trưỏng trung bình 20%/ năm, tổng dư Nợ nghiệp vụ bảo lãnh của 10 ngân hàng
thương mại lớn vào khoảng 43 ngàn tỷ đồng.
1. THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC
@ Thứ nhất, nghiệp vụ bảo lãnh tại các ngân hàng thương mại (NHTM) đã
được quan tâm, phát triển.
Đến nay, nghiệp vụ bảo lãnh tại các NHTM đã phát triển hơn nhiều so với
những năm trước và đã được các ngân hàng chú trọng phát triển thành nghiệp vụ
kinh doanh chính. Doanh số bảo lãnh ngày càng tăng với chất lượng bảo lãnh
thầu trong quá trình đấu thầu, không thực hiện hợp đồng khi trúng thầu gây thiệt
hại cho chủ đầu tư, không nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng theo quy định…
Nếu những vi phạm trên xảy ra, ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm trả cho chủ đầu
tư tối đa là số tiền bảo lãnh để đền bù thiệt hại do nhà thầu gây ra, khi có văn
bản yêu cầu của chủ đầu tư.
Việc ngân hàng lập thư bảo lãnh dự thầu để nhà thầu được tham gia đấu thầu
xây dựng công trình là rất cần thiết, nhằm ràng buộc nhà thầu về mặt kinh tế,
phải tham gia đấu thầu thực sự. Nếu nhà thầu không tuân thủ theo quy chế đấu
thầu, sẽ phải mất khoản tiền mà ngân hàng đã đứng ra bảo lãnh. Khi trúng thầu
(được cấp thẩm quyền phê duyệt trúng thầu) thì ngân hàng lại tiếp tục lập thư
bảo lãnh hợp đồng. Lúc đó, thư bảo lãnh dự thầu sẽ hết hiệu lực.
Do việc quy định mức bảo lãnh dự thầu và việc thực hiện mức bảo lãnh dự thầu
hiện nay thường là 1% (tương đối thấp) nên một số nhà thầu chấp nhận ứng ra
số tiền trên để thực hiện tham gia đấu thầu không lành mạnh. Cụ thể là:
- Tham gia đấu thầu để tạo ra sự cạnh tranh giả tạo, nhằm kiếm lợi nhuận thông
qua thỏa thuận với nhà thầu thực sự tham gia đấu thầu.
- Sẵn sàng đứng tên đấu thầu giúp nhà thầu nào đó thắng thầu với giá thầu thấp.
Đối với bảo lãnh hợp đồng: Khi công trình được phê duyệt kết quả trúng
thầu cho nhà thầu nào đó đạt điểm kỹ thuật cao nhất và giá bỏ thầu thấp nhất thì
ngân hàng sẽ làm thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng gửi chủ đầu tư, để làm thủ
tục ký hợp đồng thi công.
16
Thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng phải ghi rõ quyết định phê duyệt tên đơn vị
trúng thầu, công trình trúng thầu, số tiền bảo lãnh, thời gian bảo lãnh. Số tiền
bảo lãnh thường là 5% giá trị trúng thầu. Mục đích bảo lãnh là cam kết của ngân
hàng về các sai phạm của nhà thầu, nếu nhà thầu vi phạm, ngân hàng sẽ trả cho
chủ đầu tư tối đa là số tiền bảo lãnh để đền bù thiệt hại do nhà thầu gây ra trong
quá trình thực hiện hợp đồng, khi có văn bản yêu cầu của chủ đầu tư.
Việc ngân hàng lập thư bảo lãnh hợp đồng để ràng buộc trách nhiệm của nhà
thầu về mặt kinh tế, phải thực hiện theo đúng hợp đồngthi công xây dựng đã ký
hỏng…
Tuy nhiên, thời gian bảo hành một năm là chưa phù hợp, vì tuổi thọ một số công
trình rất lớn, nên trong vòng một năm chưa thể phát hiện , đánh giá được chất
lượng công trình. Ngoài ra, với mức bảo lãnh từ 5 _ 10% thì chỉ đủ để sửa chữa
những hư hỏng nhỏ. Nếu hư hỏng lớn, chi phí vượt quá tỷ lệ nói trên, thì chủ
đầu tư cũng rất khó buộc nhà thầu bỏ ra thêm chi phí để sửa chữa như đã cam
kết.
Số dư bảo lãnh ngân hàng trong đấu thầu thi công, xây lắp như bảo lãnh dự
thầu, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh thực hiện hợp đồng liên tục tăng. Bảo
lãnh của ngân hàng đã giúp doanh nghiệp tháo gỡ những vướng mắc trong quá
trình triển khai thi công dự án như vốn ứng trước triển khai công trình, vốn
thanh toán, thực hiện hợp đồng xây lắp
@ Thứ ba, với sự phát triển của nghiệp vụ bảo lãnh, trình độ nghiệp vụ của
các cán bộ ngân hàng tại các NHTM đã dần được nâng lên, từ đó, nâng uy tín
của các NHTM Việt Nam trong khu vực cũng như trên thế giới.
Với kinh nghiệm ngày càng cao trong thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, các
NHTM đã lựa chọn được những dự án khả thi của cac doanh nghiệp đầu tư đúng
hướng, biết giữ chữ tín trên thị trường để bảo lãnh, từ đó, giữ uy tín cho chính
ngân hàng. Trong nhiều năm qua, các NHTM đã thực hiện đúng các cam kết
trong bảo lãnh, đã thanh toán kịp thời cho người thụ hưởng bảo lãnh trong
những trường hợp người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng, đặc biệt là trong
quan hệ với các đối tác nước ngoài. Hiện nay, các NHTM có thể phát hành các
18
thư bảo lãnh với trị giá lớn mà các doanh nghiệp ngân hàng nước ngoài không
đòi hỏi bất kỳ sự xác nhận nào khác.
2. TỒN TẠI, HẠN CHẾ
@ Thứ nhất, nghiệp vụ bảo lãnh của các NHTM chưa đáp ứng được nhu
cầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp có nhu cầu bảo lãnh, nhưng khi xin bảo
lãnh ở các NHTM thì lại gặp những vướng mắc không nhỏ về thủ tục bảo lãnh
Vì vậy rủi ro bảo lãnh cho các dự án này là rất lớn, đặc biệt là rủi ro thanh khoản
và rủi ro tỷ giá.
3. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ
@ Nguyên nhân khách quan
- Môi trường kinh tế và pháp lý chưa thuận lợi
Công tác quy hoạch và dự báo các lĩnh vực lớn của nền kinh tế còn thiếu
khoa học, mang tính chủ quan, làm theo kiểu phong trào, nên các dự án được
hình thành, phê duyệt và triển khai một cách ào ạt, kém hiệu quả, trong khi các
NHTM phải bảo lãnh cho các dự án này, gây rủi ro bảo lãnh cho các NHTM.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp chưa
chặt chẽ, đặc biệt là tình trạng thành lập doanh nghiệp tràn lan, hoạt động trái
pháp luật, tình trạng doanh nghiệp ma, doanh nghiệp bị mất tích, doanh nghiệp
không có địa chỉ, gây rủi ro trong nghiệp vụ bảo lãnh đối với các NHTM.
- Môi trường pháp lý đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng còn thiếu,
không ổn định và đồng bộ, chưa bảo vệ được quyền lợi chính đáng của ngân
hàng bảo lãnh.
Ngoài ra, tốc độ cấp giấy phép sở hữu đối với đất đai và nhà cửa được triển
khai chậm, thủ tục công chứng không rõ rang, đồng nhất, cũng gây cản trở tới
hoạt động bảo lãnh của các NHTM.
- Vốn chủ sở hữu của các NHTM còn thấp.
Ở Việt Nam, vốn chủ sở hữu của các NHTM quá nhỏ, kể cả đối với các
NHTM Nhà nước. Nếu thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hiện hành là
NHTM chỉ được cho vay, bảo lãnh đối với một khách hàng không vượt quá 15%
20
vốn tự có thì Ngân hàng NNo và PTNT Việt Nam chỉ có thể bảo lãnh cho một
dự án hay một khách hàng tối đa 560 tỷ VND. Do đó, khi các tổng công ty lớn
của Nhà nước có nhu cầu đẩu tư cho những công trình trọng điểm thì NHTM
không thể đáp ứng nhu cầu bảo lãnh của các doanh nghiệp này.
@ Nguyên nhân về phía các NHTM
- Trình độ thẩm định dự án tại nhiều NHTM và chi nhánh NHTM chưa cao,
nhánh NHTM cũng còn những lúng túng nhất định về hạch toán cho vay bắt
buộc trong đồng tài trợ, đồng bảo lãnh.
- Vấn đề quản lý khách hàng còn thiếu chặt chẽ.
Các NHTM có chủ trương mở rộng nghiệp vụ bảo lãnh, kể cả đối với các
doanh nghiệp ở các địa phương không có chi nhánh ngân hàng đó. Vì vậy, việc
theo dõi thu nợ của NHTM thực hiện bảo lãnh gặp không ít những khó khăn nếu
bên được bảo lãnh không chủ động trả nợ bảo lãnh hoặc gặp phải khó khăn
trong sản xuất kinh doanh.
- Tổ chức thực hiện quy trình bảo lãnh còn nhiều sơ hở.
Quy trình thẩm định dự án đầu tư xin bảo lãnh, quy trình nghiệp vụ bảo
lãnh tuy đã được các NHTM xây dựng, nhưng khả năng áp dụng vào thực tế
không khả thi và hầu như chưa thực hiện được.
Thông tin, số liệu làm căn cứ tính toán, thẩm định chưa đầy đủ, thiếu chính
xác dẫn đến khó đánh giá hoặc đánh giá sai về khách hàng, về hiệu quả kinh tế -
xã hội và tính khả thi của dự án.
Việc tính toán, xác định “đời dự án” chưa chính xác dẫn đến khó khăn cho
chủ dự án trong việc thực hiện đúng cam kết trả nợ.
Đa số các doanh nghiệp chưa có đủ điều kiện vay vốn, xin bảo lãnh, dự án
chưa đủ tiêu chuẩn để được đầu tư vốn nên việc thẩm định và đưa ra quyết định
cho vay hay không rất khó khăn.
@ Nguyên nhân về phía khách hàng
- Nhiều doanh nghiệp chưa chứng minh được năng lực sản xuất, tài chính
đủ điều kiện vay vốn hay không, nhất là điều kiện vốn tự có tham gia dự án,
nhiều dự án thiếu tính khả thi hoặc không chứng minh được điều kiện đủ để thực
hiện dự án, nhất là ở phương diện thị trường và tài chính.
22
- Không ít các doanh nghiệp có những thủ thuật lập dự án, phương án vay
vốn không lành mạnh, không trung thực.
- Các doanh nghiệp thường không đủ điều kiện để được bảo lãnh, chưa có
kinh nghiệm lập dự án cũng như thẩm định dự án nên các dự án đó thường có
Tăng cường quan hệ hợp tác giữa các ngân hàng (trong và ngoài
nước) để đẩy mạnh hoạt động đồng bảo lãnh, tái bảo lãnh.
Việc thực hiện bảo lãnh có giá trị lớn rất khó khăn với một ngân hàng đơn
lẻ. Đồng bảo lãnh là một giải pháp vừa giúp cho ngân hàng có thể tham gia các
dự án lớn, khi mà khả năng về vốn là có hạn, vừa phân tán bớt rủi ro cho các
ngân hàng khác cùng tham gia; qua đó, sẽ có sự kết hợp kinh nghiệm, sức mạnh,
khả năng để hỗ trợ giữa các ngân hàng.
Bên cạnh việc thắt chặt mối quan hệ giữa các ngân hàng trong nước, hệ
thống NHTM Việt Nam cũng cần phải không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác
với NHTM các nước trên thế giới, mở rộng giao dịch bảo lãnh ra ngoài biên
giới, đáp ứng nhu cầu mở rộng thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam trên
thị trường quốc tế.
Tăng cường kiểm tra, giám sát quản lý các hợp đồng bảo lãnh.
Để tránh rủi ro xảy ra khi khách hàng không thực hiện hay thực hiện sai các
hợp đồng kinh tế, thì sau khi chấp nhận và phát hành thư bảo lãnh, ngân hàng
cần duy trì việc kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất tình hình hoạt động và năng lực
tài chính của doanh nghiệp được bảo lãnh. Thông qua quá trình kiểm tra, giám
sát, ngân hàng cũng có thể tư vấn cho khách hàng các biện pháp thực hiện có
hiệu quả các hợp đồng kinh tế, đồng thời giải quyết kịp thời những khó khăn
phát sinh.
Giải quyết tốt các khoản nợ đã trả thay cho khách hàng tại các
NHTM.
Các ngân hàng cùng khách hàng cần phải kiểm tra, xác định lại từng khoản
nợ và đề ra biện pháp xử lý cụ thể trên nguyên tắc hai bên cùng thoả thuận về
việc xem xét thời hạn nợ, lãi suất, xử lý tài sản đảm bảo, chuyển nợ thành cổ
phần của các ngân hàng tại các doanh nghiệp, cho vay tiếp tục để phục hồi sản
24
xuất tạo nguồn trả nợ. Đối với những khoản nợ vay bắt buộc còn vật tư hàng
hoá, thì phải đôn đốc doanh nghiệp tiêu thụ hàng để trả nợ ngân hàng. Đối với
những khoản nợ chỉ có tài sản thế chấp, bảo lãnh cầm cố, thì phải tiến hành phát