giải pháp phát triển thị trường ngoại hối việt nam - Pdf 13

ĐH Công Nghiệp TP.HCM – Khoa Tài chính - Ngân hàng – Môn thị trường tài chính (2012-2013)

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lê Thị Khánh Phương Trang 1

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM LÀM TIỂU LUẬN:

1. Nguyễn Song An 11182701
2. Dƣơng Thanh Hoài 11037801
3. Vũ Thị Lan Hƣơng 11245531
4. Nguyễn Anh Khoa 11068241
5. Huỳnh Thị Trúc Ly 11242851
6. Huỳnh Thị Ngân 11232761
7. Nguyễn Thị Nhƣ Ngọc 11243101
8. Phan Hữu Hoàng Sơn 11054431
9. Võ Hoang Tiến 11215251
10. Mai Văn Trúc (Nhóm trƣởng) 11244991

LỜI CAM ĐOAN
Nhóm chúng em xin cam đoan Tiểu luận này là công trình nghiên cứu của
riêng chúng em, không sao chép của bất cứ ai.
Nhóm trưởng: Mai Văn Trúc.
LỜI CẢM ƠN
Nhóm thực hiện đề tài xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của
Th.s Lê Thị Khánh Phương. Tuy nhóm đã hết sức cố gắng nhưng vẫn không thể
tránh khỏi thiếu sót, rất mong cô bỏ qua cho chúng em.

ĐH Công Nghiệp TP.HCM – Khoa Tài chính - Ngân hàng – Môn thị trường tài chính (2012-2013)

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lê Thị Khánh Phương Trang 2

MỤC LỤC:

3.2.2. Nâng cao năng lực của các thành viên tham gia thị trƣờng ngoại hối : 60
3.2.3. Phát triển thị trƣờng ngoại tệ liên ngân hàng: 62
3.2.4. Phát triển thị trƣờng giao dịch bán lẻ thông qua quản lý thích hợp tài khoản tiền gửi
ngoại tệ: 63
3.2.5. Hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái: 65
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trƣờng ngoại hối: 69
3.3.1. Cải cách thị trƣờng ngoại hối chính thc để xoá b chợ đen: 69
3.3.2. Mở rộng đối tƣợng tham gia đầu tƣ và môi giới: 71
3.3.3. Tách hoạt động sử dụng ngoại tệ khi đầu tƣ: 72
3.3.4. Một vài đề xuất của nhóm: 76
KẾT LUẬN 78
PHỤ LỤC: 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 ĐH Công Nghiệp TP.HCM – Khoa Tài chính - Ngân hàng – Môn thị trường tài chính (2012-2013)

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lê Thị Khánh Phương Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU Trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế, từ nǎm 1990, công cuộc
Đổi Mới ở Việt Nam được đẩy mạnh hơn với chủ trương là phát triển một nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước; công cuộc đổi mới cũng được tiến hành đồng thời với việc phát
triển kinh tế đối ngoại, mở cửa, hợp tác và hội nhập, phù hợp với xu hướng quốc
tế hoá nền kinh tế thế giới ngày càng mạnh mẽ.
Là một phần của thị trường tiền tệ, với vai trò như là chiếc cầu nối giữa
nền kinh tế nội địa và nền kinh tế thế giới bên ngoài, trong những năm qua, thị

- Hối đoái (exchange) là sự chuyển đổi từ một đồng tiền này sang đồng
tiền khác
- Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại tiền
tệ của nhiều quốc gia và các phương tiện thanh toán có giá trị như ngoại tệ trên
thế giới .
- Thị trường ngoại hối có tên tiếng Anh là The Foreign Exchange Market,
và được viết tắt là FOREX hay FX.
1.1.1.2. Đặc điểm:
- Thị trường ngoại hối không nhất thiết phải tập trung tại vị trí địa lý hữu
hình nhất định mà là bất cứ nơi đâu diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền
khác nhau. Do đó nó còn được gọi là thị trường không gian.
- Là thị trường toàn cầu, hoạt động 24/24h. Do có sự chênh lệch múi giờ
giữa các khu vực trên thế giới nên các giao dịch diễn ra suốt ngày đêm, còn
được gọi là thị trường không ngủ.
- Trung tâm là thị trường liên ngân hàng - Interbank với các thành viên
chủ yếu là các ngân hàng thương mại, các nhà môi giới ngoại hối và các ngân
hàng trung ương. Doanh số giao dịch trên Interbank chiếm tới 85% tổng doanh
số giao dịch toàn cầu.
- Giao dịch thông qua các phương tiện hiện đại như điện thoại, mạng vi
tính, telex, fax….
ĐH Công Nghiệp TP.HCM – Khoa Tài chính - Ngân hàng – Môn thị trường tài chính (2012-2013)

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lê Thị Khánh Phương Trang 6

- Chi phí giao dịch thấp, hoạt động rất hiệu quả. Do thị trường có tính toàn
cầu, thông tin cân xứng, khối lượng giao dịch cực lớn, công nghệ hoàn hảo,
hàng hóa đồng chất….dẫn đến chi phí thấp và hoạt động của thị trường trở nên
hiệu quả.
- Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất là đồng USD, chiếm tới 41,5% trong
tổng số đồng tiền tham gia, kế đến là EURO và Yên Nhật đứng vị trí thứ 3.

nước quy định. Thông thường thị trường hối đoái bao gồm các thành phần sau:
- Ngân hàng Trung ương - Ngân hàng trung ương tham gia vào thị
trường hối đoái với tư cách là cơ quan Nhà nước giám sát thị trường nhằm điều
khiển thị trường trong khuôn khổ pháp luật quy định, tức là kiểm soát thị trường,
theo dõi sự biến động tỷ giá, khi cần thiết ngân hàng trung ương sẽ can thiệp vào
thị trường bằng các nghiệp vụ của mình để điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo hướng
có lợi cho nền kinh tế.
- Các ngân hàng thương mại và các ngân hàng đầu tư - Tạo khả năng
thanh toán cho thị trường Ngoại hối nhờ khối lượng giao dịch mà họ xử lý mỗi
ngày. Một số các giao dịch này đại diện cho sự hoán đổi ngoại tệ theo nhu cầu
của khách hàng trong khi một số khác được thực hiện bởi bộ phận giao dịch
kinh doanh của ngân hàng vì mục đích đầu cơ.
- Các tổ chức tài chính phi ngân hàng:
+ Các Tổ chức Tài chính - Các tổ chức tài chính như các nhà quản lý
tiền tệ, các quỹ đầu tư, quỹ lương hưu và các công ty môi giới kinh doanh ngoại
tệ như một phần nghĩa vụ của họ để tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt nhất cho khách
hàng của mình. Ví dụ, một nhà quản lý của ngành kinh doanh vốn quốc tế sẽ
phải tham gia kinh doanh tiền tệ để mua và bán cổ phiếu nước ngoài.
+ Quỹ Tín thác - Quỹ tín thác là các quỹ đầu tư tư nhân đầu cơ nhiều
loại tài sản khác nhau và sử dụng đòn bẩy tài chính. Các Quỹ Tín thác vĩ mô
theo đuổi những cơ hội kinh doanh trong Thị trường Ngoại hối. Họ tạo và thực
hiện các giao dịch sau khi đã có phân tích về mặt kinh tế vĩ mô và xem xét
những trở ngại ảnh hưởng lên một quốc gia và đơn vị tiền tệ của quốc gia đó. Do
khối lượng thanh khoản lớn và các chiến lược táo bạo của mình, họ là một bên
đóng góp chủ yếu vào sự năng động của Thị trường Ngoại hối.
ĐH Công Nghiệp TP.HCM – Khoa Tài chính - Ngân hàng – Môn thị trường tài chính (2012-2013)

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lê Thị Khánh Phương Trang 8

- Các tập đoàn, doanh nghiệp - Họ đại diện cho các công ty liên quan


- Nghiệp vụ giao dịch ngoại hối giao ngay (Spot Operations): Là nghiệp
vụ mua hay bán ngoại tệ mà việc chuyển giao được thực hiện ngay lập tức hay là
chậm nhất là sau 2 ngày kể từ khi thỏa thuận hợp đồng mua bán.
- Nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch tỷ giá (Arbitrage Operations): Là
nghiệp vụ dựa vào mức chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường ngoại hối để thu lợi
nhuận thông qua hoạt động mua bán.
- Nghiệp vụ giao dịch ngoại hối có kỳ hạn (Forward Operations): Là
nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận sẽ được thực hiện sau một thời
gian nhất định theo tỷ giá thỏa thuận lúc ký kết hợp đồng.
- Nghiệp vụ hoán đổi (Swap Operations): Là nghiệp vụ ngoại hối phối
hợp giữa hai nghiệp vụ giao dịch ngoại hối giao ngay và giao dịch ngoại hối có
kỳ hạn để kiếm lợi nhuận.
- Nghiệp vụ ngoại hối giao sau (Futures Operations): Là nghiệp vụ tiến
hành một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ đã biết theo tỷ giá cố định
tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực,việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào
một ngày trong tương lai.
- Nghiệp vụ giao dịch ngoại hối quyền chọn (Option Operation):
+ Là nghiệp vụ thực hiện trên cơ sở hợp đồng quyền chọn mua hay
quyền chọn bán.
+ Quyền chọn mua : cho phép người mua có quyền nhưng không bắt
buộc mua một số lượng ngoại tệ nhất định.
+ Quyền chọn bán : cho phép người bán có quyền nhưng không bắt
buộc bán một số lượng ngoại tệ nhất định.
+ Người mua quyền chọn có thể bán hoặc hủy hợp đồng nếu thấy không
có lợi. Nhưng người bán quyền chọn phải thực hiện hợp đồng nếu như người
mua yêu cầu.
 Theo tính chất giao dịch:
- Thị trường giao ngay.
- Thị trường kỳ hạn.

quốc tế. Ngoại tệ được thể hiện dưới hình thức tiền mặt hay các số dư trên tài
khoàn tiền gửi ngoại tệ tại ngân hàng. Hiện nay hầu hết các nước đều có xu
hướng sủ dụng ngoại tệ mạnh trong thanh toán và đầu tư quốc tế.
ĐH Công Nghiệp TP.HCM – Khoa Tài chính - Ngân hàng – Môn thị trường tài chính (2012-2013)

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lê Thị Khánh Phương Trang 11

- Ngoại hối: là phạm trù rộng hơn so với ngoại tệ. Ngoại hối bao gồm
ngoại tệ, kim khí quý, đá quý và các phương tiện có giá trị như ngoại tệ được sử
dụng trong thanh toán giữa các nước với nhau.
1.2.1.1.3. Khái niệm tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tương quan giá trị giữa hai đồng tiền
với nhau. Hoặc ta có thể nói tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước
này bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác.
1.2.1.1.4. Phân loại tỷ giá hối đoái:
Có nhiều loại tỷ giá khác nhau được sử dụng trên thị trường hối đoái, tùy
thuộc vào tiêu thức phân loại khác nhau.
- Căn cứ vào đối tượng xác định:
+ Tỷ giá chính thức: là một loại tỷ giá do Ngân hàng Trung ương nước
đó xác định và công bố.
+ Tỷ giá thị trường: là tỷ giá hình thành do quan hệ cung cầu trên thị
trường hối đoái.
- Căn cứ vào thời hạn giao dịch:
+ Tỷ giá giao ngay (Spot): là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao
nhận ngoại hối sẽ được thực hiện chậm nhất sau hai ngày làm việc.
+ Tỷ giá giao dịch kỳ hạn (Forward): là tỷ giá mua bán ngoại hối mà
việc giao nhận ssẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp đồng.
- Căn cứ vào cơ chế quản lý ngoại hối:
+ Tỷ giá thả nổi: là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường và nhà nước
không can thiệp vào sự hình thành và quản lý tỷ giá này.







 Ví dụ: Cho tỷ giá: USD/CHF = 1,32 và USD/JPY = 110. Ta có thể xác
định được tỷ giá CHF/JPY


















   

Ngược lại, nếu các yếu tố khác không đổi thì lạm phát sẽ giảm, khả năng cạnh
tranh của các lĩnh vực trong nước cũng có xu hướng giảm, sản lượng quốc gia
có thể giảm, thất nghiệp của nền kinh tế có thể tăng lên … nếu tỷ giá hối đoái
giảm xuống (USD giảm giá hay VND tăng giá).
Ngoài ra, đồng tiền ổn định và tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng trong
chính sách tiền tệ, nó là mục tiêu của chính sách tiền tệ mà mọi quốc gia đều
ĐH Công Nghiệp TP.HCM – Khoa Tài chính - Ngân hàng – Môn thị trường tài chính (2012-2013)

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lê Thị Khánh Phương Trang 14

hướng tới. Đồng tiền ổn định và tỷ giá hối đoái hợp lý sẽ tạo điều kiện cho việc
duy trì, mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế trong nước và quốc tế,
giúp cho nền kinh tế trong nước có điều kiện hội nhập khu vực và thế giới ngày
càng mạnh mẽ hơn.
1.2.2. Các nhân tố ảnh hƣởng tới tỷ giá hoái đoái:
1.2.2.1. Quan hệ cung cầu:
Cung ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị trường muốn bán ra để thu về nội
tệ. Cầu ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị trường muốn mua vào bằng các đồng
nội tệ.
Giá cả ngoại tệ, tỷ giá hối đoái cũng được xác định theo quy luật cung
cầu như đối với các hàng hoá thông thường.
Khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ sẽ làm cho giá ngoại tệ giảm,
tức tỷ giá hối đoái giảm. Ngược lại, khi cầu ngoại tệ lớn hơn cung ngoại tệ giá
ngoại tệ sẽ tăng, tức tỷ giá tăng.
Ở vị trí cung ngoại tệ bằng cầu ngoại tệ xác định trạng thái cân bằng, khi
cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, lượng ngoại tệ mà thị trường cần bán ra
nhiều hơn lượng ngoại tệ cần mua vào, khi đó có một số người không bán được
sẽ sẵn sàng bán với mức giá thấp hơn và làm cho giá ngoại tệ trên thị trường
giảm. Tư duy tương tự, khi cầu lớn hơn cung, một số người không mua được
ngoại tệ sẵn sàng trả giá cao hơn và gây sức ép làm giá ngoại tệ trên thị trường

tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị trưòng tiền
tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài
sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng. Trong
trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc
vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữa 2 quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao
hơn, đồng nội tệ quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối với đồng tiền nước
kia.
1.2.2.4. Lãi suất tín dụng giữa các quốc gia:
Khi mức lãi suất ngắn hạn của một nước tăng lên một cách tương đối so
với các nước khác, trong những điều kiện các nhân tố khác không đổi, thì vốn
ngắn hạn từ nước ngoài sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra
ĐH Công Nghiệp TP.HCM – Khoa Tài chính - Ngân hàng – Môn thị trường tài chính (2012-2013)

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lê Thị Khánh Phương Trang 16

đó. Điều này làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi, dẫn đến sự
thay đổi tỷ giá.
Chính sách lãi suất cao  nội tệ lên giá, vì nó hấp dẫn các luồng vốn
nước ngoài chảy vào trong nước, nếu lãi suất trong nước cao hơn so với lãi suất
nước ngoài (lãi suất ngoại tệ) thu hút dòng vốn chảy vào (làm chuyển lượng hóa
ngoại tệ trong nền kinh tế sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao hơn). Điều này
làm cho tăng cung ngoại tệ trên thị trường (cũng có nghĩa làm tăng cầu đối với
đồng nội tệ), từ đó đồng ngoại tệ sẽ có xu hướng giảm giá trên thị trường, hay
đồng nội tệ sẽ tăng giá  Tỷ giá có xu hướng giảm
Ngược lại, nếu lãi suất trong nước thấp hơn so với lãi suất nước ngoài
hay lãi suất nội tệ thấp hơn lãi xuất ngoại tệ, đồng ngoại tệ có xu hướng tăng giá
trên thị trường hay đồng nội tệ sẽ giảm giá Tỷ giá có xu hướng tăng.
1.2.2.5. Những kì vọng về tỷ giá hối đoái (yếu tố tâm lý dẫn đến đầu
cơ):
Kỳ vọng của những người tham gia vào thị trường ngoại hối về triển

2.1. Tình hình hoạt động của thị trƣờng hối đoái VN từ năm 2008
đến năm 2012:
2.1.1. Sự biến động của tỷ giá hối đoái từ năm 2008 đến 2012:
Năm 2008:
Giai đoạn 1: Từ ngày 01/01/2008 đến 25/03/2008, tỷ giá liên tục giảm,
dưới mức sàn, cụ thể: Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng liên tục
sụt giảm (từ mức 16.112 đồng xuống 15.960 đồng. mức thấp nhất là 15.560
đồng/USD). Trên thị trường tự do, USD dao động từ mức 15.700 – 16.000
đồng/USD. Nguyên nhân do:
- Thời điểm này đang ở giai đoạn gần tết Dương lịch, do đó lượng kiều
hối chuyển về nước khá lớn.
- Các nhà đầu tư dự kiến VND sẽ tăng giá so với USD, cộng thêm chênh
lệch lãi suất lớn giữa USD và VND nên các nhà đầu tư đẩy mạnh việc bán USD
chuyển qua VND. Tập trung vào các đối tượng là nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
vào Trái phiếu Chính phủ Việt Nam (1,4 tỷ USD), các doanh nghiệp xuất khẩu
vay USD để phục vụ sản xuất kinh doanh…Các NHTM lúc này cũng đẩy mạnh
bán USD.
- Trong khoảng thời gian này, Chính phủ và NHNN đang đẩy mạnh việc
kiềm chế lạm phát, sử dụng biện pháp tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất cơ bản từ
8,25%/năm (tháng 12/2007) lên 8,75%/năm (tháng 2/2008). NHNN không thực
hiện mua ngoại tệ USD nhằm hạn chế việc bơm tiền ra lưu thông, tăng biên độ
tỷ giá USD/VND từ 0,75%/năm lên 1%/năm trong ngày 10/03/2008.
Giai đoạn 2: Từ ngày 26/03/2008 đến 16/07/2008, tỷ giá tăng với tốc độ
chóng mặt tạo cơn sốt USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự
do, cụ thể : tỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữa tháng 6, đỉnh điểm
lên đến 19.400 đồng/USD vào ngày 18/06, cách hơn 2.600 đồng so với mức
ĐH Công Nghiệp TP.HCM – Khoa Tài chính - Ngân hàng – Môn thị trường tài chính (2012-2013)

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lê Thị Khánh Phương Trang 19


Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lê Thị Khánh Phương Trang 20

phép xuất khẩu vàng; bán ngoại tệ can thiệp thị trường thông qua các NHTM
lớn.
Giai đoạn 4: Từ ngày 16/10/2008 đến hết năm 2008: tỷ giá USD tăng trở
lại, cụ thể: Tỷ giá USDVND tăng đột ngột trở lại từ mức 16.600 lên mức cao
nhất là 16.998 sau đó giảm nhẹ. Giao dịch nằm trong biên độ tỷ giá. Tuy nhiên
cung hạn chế, cầu ngoại tệ vẫn lớn. Sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá từ 2% lên
3% trong ngày 7/11/2008, tăng tới mức 17.440 đồng/USD. Nguyên nhân:
- Trong khoảng thời gian từ tháng 10 - tháng 11, nhà đầu tư nước ngoài
đẩy mạnh việc bán ra chứng khoán trong đó bán trái phiếu (700 triệu USD), cổ
phiếu (100 triệu USD). Nhu cầu mua ngoại tệ của khối nhà đầu tư nước ngoài
tăng cao khi muốn đảm bảo thanh khoản của tổ chức tại chính quốc. Nhu cầu
mua USD của các ngân hàng nước ngoài cũng tăng mạnh (khoảng 40 triệu
USD/ngày).
- Cầu USD trên thị trường tự do tăng cao bởi khi NHNN không cho phép
nhập vàng thì hiện tượng nhập lậu vàng gia tăng, làm tăng cầu USD để nhập
khẩu (do USD là đồng tiền thanh toán chính).
Năm 2009:
Giai đoạn 1: Từ ngày 01/01/2009 đến ngày 24/11/2009, tỷ giá liên tục
tăng, cụ thể: Tỷ giá biến động mạnh trên cả thị trường liên ngân hàng và thị
trường tự do. Cụ thể: Từ tháng 1 đến tháng 3, tỷ giá LNH dao động trong
khoảng 17.450-17.700 đồng/USD, cách giá trần khoảng từ 0 – 200 đồng, còn
TTTD cao hơn tỷ giá LNH khoảng 100 đồng. Từ tháng 4 đến tháng 9, tỷ giá trên
2 thị trường dao động trong khoảng 18.180 - 18.500 đồng/USD. Từ tháng 10
đến 25/11/2009, biến động tỷ giá rất dữ dội từ 18.545 – 19.300 đồng/USD, có
lúc đạt đỉnh 20.000 đồng/USD trên TTTD và 19.750 đồng/USD trên thị trường
liên ngân hàng. Nguyên nhân:
- Hiện tượng găm giữ ngoại tệ chờ giá lên và tâm lý bất ổn, lo ngại về tỷ
giá tương lai của người dân.

kiều và từ lao động làm việc ở nước ngoài gia tăng; Nguồn thu từ khách quốc tế
đến Việt Nam gia tăng trở lại (tháng 1 tăng 20,4%); Kim ngạch xuất khẩu
chuyển từ tăng trưởng âm sang tăng trưởng dương…Bên cạnh đó, các tập đoàn,
ĐH Công Nghiệp TP.HCM – Khoa Tài chính - Ngân hàng – Môn thị trường tài chính (2012-2013)

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lê Thị Khánh Phương Trang 22

tổng công ty lớn của Nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng, sức ép tâm lý găm
giữ USD do lo sợ rủi ro tỷ giá giảm, chênh lệch giữa giá thị trường tự do với giá
niêm yết trên thị trường chính thức đã giảm đáng kể.
- Ngoài ra, từ cuối năm 2009 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã có những
giải pháp “vượt trước ngăn chặn” với nhiều động thái để giảm sức ép tăng tỷ
giá, như: Tăng tỷ giá liên ngân hàng đồng thời với việc giảm biên độ giao dịch
từ ±5% xuống còn ±3%; Yêu cầu các tập đoàn và tổng công ty lớn của nhà nước
bán lại ngoại tệ cho ngân hàng; Bán ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại có
trạng thái dưới 5%; Hạ 3% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi USD…
Giai đoạn 2: Từ ngày 11/02/2010 đến ngày 17/08/2010, tỷ giá tăng và
dao động quanh mức 19.000 đồng/USD (18.900-19.100 đồng /USD) và đang có
xu hướng giảm do những chính sách tích cực từ phía NHNN. Ngày 11/02 Ngân
hàng Nhà nước điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ mức 17.941
VNĐ/USD lên mức 18.544 VNĐ/USD. Nguyên nhân:
- Ngày 30/12/2009, với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà
nước chính thức ban hành thông tư hướng dẫn việc các tập đoàn, tổng công ty
lớn của Nhà nước bán lại ngoại tệ cho các ngân hàng. Việc bán lại được thực
hiện khá nhanh sau đó và tạo một nguồn cung đáng kể, hỗ trợ các ngân hàng cải
thiện trạng thái ngoại tệ vốn căng thẳng trước đó.
- Chỉ hơn nửa tháng sau đó, ngày 18/1/2010, Ngân hàng Nhà nước có
Quyết định số 74/QĐ-NHNN giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối
với các tổ chức tín dụng. Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7%
xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12

góp phần kiềm chế nhập siêu.
Năm 2011:
Ngày 11-2-2011: lần đầu tiên trong lịch sử Ngân hàng Nhà nước có quyết
định tăng tỷ giá mạnh nhất từ trước đến nay, tỷ giá tăng 9,3% từ 18.932 lên
20.693 VND/USD, đi cùng với việc siết biên độ từ +/-3% xuống còn +/-1%. Tuy
nhiên phải đến đầu tháng 4-2011 tỷ giá mới bắt đầu có dấu hiệu bình ổn. Cùng
với sự điều chỉnh trên, dấu hiệu đó là kết quả của loạt giải pháp Ngân hàng Nhà
nước triển khai mà giới quan sát vẫn dùng từ “ép” hay “vắt cung ngoại tệ”.
Nguyên nhân:
ĐH Công Nghiệp TP.HCM – Khoa Tài chính - Ngân hàng – Môn thị trường tài chính (2012-2013)

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lê Thị Khánh Phương Trang 24

Trước hết, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng lạm phát hai con
số và có xu hướng tăng cao trở lại, lạm phát tháng 01/2011 đã ở mức 17,4%.
Trong thời gian đầu năm 2011, nền kinh tế liên tục đón nhận các “cú sốc” về giá
xăng dầu (Xăng A92 tăng 2.900 đồng/lít, lên 19.300 đồng/lít; dầu diesel tăng
3.550 đồng/lít, lên 18.300 đồng/lít), giá bán điện bình quân tăng thêm 15,28% so
với giá năm 2010, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm diễn biến phức tạp và lan
rộng, thiên tai khắp nơi trên thế giới đẩy nhu cầu lương thực lên cao, gạo xuất
khẩu của Việt Nam tăng giá gây áp lực lên giá lương thực, thực phẩm trong
nước tăng, (nhóm hàng lương thực thực phẩm chiếm tỷ trọng 42,85% trong “rổ”
hàng hóa tính CPI của Việt Nam). Cộng thêm sự kỳ vọng về việc giảm giá tiền
đồng trong thời gian tới, giá vàng tăng liên tục thiết lập các mức kỷ lục mới, sự
bất ổn của nền kinh tế toàn cầu khiến cho tâm lý găm giữ vàng và USD của
người dân và doanh nghiệp tăng cao.
Thứ hai: Thâm hụt thương mại hàng hóa, nhập siêu tuy đạt mức dưới
20% kim ngạch xuất khẩu nhưng số tuyệt đối dự kiến vẫn là 13,5 tỷ USD, tăng
5% so với năm 2009 (năm 2009 là 12,85 tỷ USD). Riêng quý I/2011 ước tổng
kim ngạch xuất đạt 18,8 tỷ USD, tăng khoảng 29,7%, trong khi tổng kim ngạch

của Việt Nam sang Mỹ (thị trường xuất khẩu chủ lực) bị suy giảm khả năng
cạnh tranh.
Thứ 5: Từ lâu ở Việt Nam tồn tại cơ chế hai tỷ giá, chính thức và thị
trường tự do (“chợ đen”) khiến cho các doanh nghiệp và người dân gặp khó
khăn, việc quản lý thị trường ngoại hối của Nhà nước gặp nhiều trở ngại. Các
nhà đầu tư nước ngoài e ngại đầu tư vào Việt Nam vì lo ngại rủi ro tỷ giá, ngoại
tệ “chạy ngầm từ thị trường chính thức sang thị trường chợ đen vì giá cao hơn),


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status