Giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2015 - Pdf 81

1

CHƢƠNG 1. TTCK VÀ VAI TRÒ CỦA TTCK ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ
1.1. Tổng quan về TTCK
1.1.1. Khái niệm về TTCK
TTCK là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng,
trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời.
Trong quá trình phát triển và hoàn thiện, TTCK tồn tại dưới hai hình thức:
TTCK có tổ chức và TTCK phi tổ chức.
TTCK có tổ chức với hình thái điển hình của là SGDCK (Stock exchange).
Mọi việc mua, bán, chuyển nhượng, trao đổi CK phải tiến hành trong Sở giao
dịch và thông qua các thành viên của Sở giao dịch theo quy chế của SGDCK.
SGDCK có thể là tổ chức sở hữu nhà nước, là doanh nghiệp cổ phần hoặc một
hiệp hội và đều có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán. Có thể
dẫn ra những SGDCK nổi tiếng của thế giới như: NYSE (New York Stock
exchange), TSE (Tokyo Stock exchange), LSE (London Stock exchange )v.v…
TTCK phi tổ chức là một thị trường không có hình thái tổ chức tồn tại, nó
có thể là bất cứ nơi nào mà tại đó người mua và người bán trực tiếp gặp nhau để
tiến hành giao dịch. Nơi đó có thể là tại quầy giao dịch ở các ngân hàng bất kỳ
nào đó. Thị trường hình thành như thế gọi là thị trường giao dịch qua quầy (Over-
the-counter – OTC).
1.1.2. Tổ chức hoạt động của TTCK
1.1.2.1. Sở giao dịch chứng khoán
Theo Liên đoàn các SGDCK thế giới (WFE), hiện nay trên thế giới đang tồn
tại 4 mô hình tổ chức SGDCK phổ biến. Mỗi mô hình có những ưu điểm và nhược
điểm nhất định, được các nước áp dụng tùy theo từng giai đoạn phát triển nhất định
của thị trường, bao gồm:
SGDCK tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn được sở hữu
bởi các thành viên (còn gọi là mô hình thành viên): Theo mô hình này, SGDCK
do các thành viên là các CTCK sở hữu. Thành viên vừa là người tham gia giao dịch

được tư hữu hoá và chuyển sang hình thức công ty cổ phần. Lý do của trào lưu cổ
phần hoá tiến tới đại chúng hoá các SGDCK theo mô hình thành viên chủ yếu là vì
mô hình thành viên không cho phép các thị trường giao dịch tập trung này có đủ khả
3

năng tài chính để hiện đại hoá sàn giao dịch và cạnh tranh với các đối thủ cả về
phương diện công nghệ lẫn phương diện tài chính. Hơn nữa, với mô hình sở hữu
thành viên (chủ yếu là hoạt động phi lợi nhuận), các SGDCK truyền thống cũng rất
khó có thể đương đầu với những thách thức của quá trình toàn cầu hoá TTCK. Hiện
nay có khoảng 26,5% SGDCK trên thế giới áp dụng mô hình này. Ví dụ: SGDCK
Tokyo (TSE) trước đây được tổ chức theo mô hình thành viên. Tuy nhiên, Luật
Chứng khoán và Sở giao dịch (sửa đổi) đã cho phép TSE chuyển sang hoạt động
theo mô hình công ty cổ phần từ ngày 1/11/2001. TSE có các chức năng: cung cấp
các tiện ích cho hoạt động giao dịch chứng khoán và chứng khoán phái sinh; cung
cấp thông tin thị trường; đảm bảo công bằng cho các giao dịch thực hiện trên
SGDCK, bảo vệ quyền và lợi ích của công chúng đầu tư; thực hiện các chức năng
kinh doanh khác có liên quan đến lĩnh vực chứng khoán và TTCK. TSE được quyền
ban hành các quy chế về giao dịch chứng khoán, thành viên giao dịch, niêm yết
chứng khoán, giám sát và các quy định cần thiết khác cho hoạt động điều hành của
SGDCK. Mô hình quản lý của TSE bao gồm: Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), Hội
đồng quản trị (HĐQT), Uỷ ban kiểm toán nội bộ, Hội đồng tư vấn và Ban giám đốc.
ĐHĐCĐ là cơ quan có quyền lực cao nhất quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền
của ĐHĐCĐ quy định theo Luật Thương mại. HĐQT do ĐHĐCĐ bầu, có nhiệm kỳ
là 2 năm. HĐQT có số lượng không quá 12 người, trong đó phải có tối thiểu 1 thành
viên độc lập không tham gia điều hành hoặc kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán,
có nhiệm vụ đưa ra các đánh giá độc lập đối với các hoạt động của thị trường chúng
khoán. Uỷ ban kiểm toán nội bộ gồm tối đa 4 thành viên do ĐHĐCĐ bầu, có nhiệm
kỳ 4 năm, trong đó có tối thiểu một thành viên độc lập không tham gia vào hoạt
động chứng khoán. Hội đồng tư vấn được thành lập theo đề nghị của HĐQT, thực
hiện chức năng tư vấn, đưa ra ý kiến lên HĐQT về các vấn đề quan trọng có liên

nhất của SGDCK. HĐQT gồm 12 thành viên, được đề cử bởi Uỷ ban bầu cử. Thành
viên của HĐQT được bầu thông qua ĐHĐCĐ. Nhiệm kỳ của các thành viên HĐQT
không tham gia điều hành từ 4-6 năm. Tại mỗi kỳ Đại hội thường niên sẽ có 1/3 số
thành viên của HĐQT hết nhiệm kỳ.
SGDCK tổ chức theo mô hình nhà nước sở hữu hoàn toàn hoặc một
phần: Thực chất mô hình này là Chính phủ hoặc một cơ quan của Chính phủ đứng
ra thành lập và quản lý SGDCK. Kinh phí để xây dựng và vận hành SGDCK do
5

Chính phủ cung cấp. Ví dụ: SGDCK Warsava, Istanbul, Việt Nam… Mô hình này
có ưu điểm là các chi phí cho giao dịch thấp, đảm bảo được tính định hướng trong
quá trình phát triển TTCK và dung hoà được lợi ích của các chủ thể trên thị trường.
Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế nhất định là thiếu tính độc lập và
khá cứng nhắc, nên hoạt động thường kém hiệu quả. Qua các mô hình tổ chức
SGDCK trên cho thấy, đặc điểm nổi bật là SGDCK các nước trên thế giới chủ yếu là
các tổ chức tự quản (SROs), nghĩa là các thành viên /cổ đông tự thiết lập các quy
chế điều chỉnh hoạt động của các thành viên cũng như của SGDCK. SGDCK có
thẩm quyền quyết định việc kết nạp thành viên, cơ chế niêm yết và giao dịch chứng
khoán tại SGDCK, cũng như các cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm của
các thành viên liên quan tới hoạt động giao dịch tại SGDCK. Cơ chế tự quản đã tồn
tại trong lịch sử gần một trăm năm của TTCK thế giới. Đa số các SGDCK trước đây
lựa chọn cơ cấu sở hữu thành viên đều áp dụng cơ chế tự quản. Gần đây, khi quá
trình chuyển đổi cơ cấu sở hữu đã biến nhiều SGDCK thành công ty cổ phần thì cơ
chế tự quản vẫn tiếp tục tồn tại.
1.1.2.2. Công ty chứng khoán
công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian ở thị trường chứng
khoán, thực hiện trung gian tài chính thông qua các hoạt động chủ yếu như mua bán
chứng khoán, môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, phát hành
và bảo lãnh chứng khoán, tư vấn đầu tư và quản lý quỹ đầu tư. Công ty chứng
khoán có thể tham gia quá trình trao đổi cổ phiếu trong thị trường với vai trò trung

giữ trái phiếu một số “lãi” nhất định hàng năm. “Lãi” này được xác định theo tỷ lệ phần
trăm so với số tiền mà người đầu tư cho công ty vay. Vì người cầm giữ trái phiếu không
phải là chủ sở hữu công ty nên họ không được chia cổ tức hay không có quyền bầu cử
cũng như tham gia vào các vấn đề khác của công ty. Lưu ý rằng, các công ty muốn bán
trái phiếu ra công chúng phải phải được sự đồng ý của UBCK, trong đó có một bản cáo
bạch bao gồm các thông tin về công ty và những vấn đề liên quan đến việc phát hành trái
phiếu.
Trái phiếu địa phương:
Trái phiếu địa phương được sử dụng khá phổ biến trên thế giới. Trái phiếu được
các bang, thành phố, hay một số cơ quan của chính quyền địa phương (như cơ quan giáo
dục) phát hành. Đặc điểm quan trọng của trái phiếu này là lãi suất mà người cầm giữ trái
7

phiếu được nhận không phải chịu thuế thu nhập liên bang. Ngoài ra, lãi suất này cũng
được miễn trừ thuế bang và địa phương nếu người cầm giữ trái phiếu sống tại cùng khu
vực với người phát hành. Một đặc điểm quan trọng khác Của trái phiếu địa phương là
trái phiếu địa phương được miễn trừ việc đăng ký với Uỷ ban chứng khoán.
Các quyền lựa chọn:
Quyền lựa chọn là quyền được mua hay bán một cái gì đó tại một thời điểm nào
đó trong tương lai. Các dạng quyền lựa chọn cần quan tâm trên TTCK là các quyền lựa
chọn mua hoặc bán cổ phiếu công ty đã được tiêu chuẩn hoá. Các quyền lựa chọn được
chia thành 2 loại: “quyền mua” cho phép các nhà đầu tư quyền được mua cổ phần của
một loại cổ phiếu đã định với một giá cố định trong một khoản thời gian đã định; “quyền
bán” cho phép nhà đầu tư quyền được bán cổ phần của một loại cổ phiếu đã định với một
giá cố định trong một thời gian đã định.
Chứng khoán chính phủ:
Chính phủ của nhiều nước trên thế giới thường phát hành nhiều loại chứng khoán
nợ, bao gồm tín phiếu, kỳ phiếu và trái phiếu chính phủ được bán ra từ kho bạc qua các
phiên đấu giá. Chứng khoán chính phủ cũng có thể mua được từ các ngân hàng, các nhà
giao dịch chứng khoán chính phủ, các nhà môi giới giao dịch chứng khoán khác.

nhiên, những nhân tố này chỉ có ảnh hưởng lớn đối với giá CK ở những nước có
nền kinh thế thị trường phát triển, thị trường sẽ đánh giá những chính sách này.
Trong điều kiện Việt Nam, nền chính trị ổn định, mặt khác TTCK còn chưa
phát triển, thì nhân tố này ít có tác động.
1.1.4.3. Các nhân tố thị trƣờng
Các nhân tố thị trường, là những nhân tố bên trong của thị trường , bao gồm
sự biến động thị trường và mối quan hệ cung cầu có thể được coi là nhóm nhân tố
thứ ba tác động tới giá cổ phiếu. Sự biến động thị trường là

một hiện tượng chờ
đợi thái quá từ việc dự tính quá cao giá trị thực chất của cổ phiếu khi giá cổ phiếu
cao nhờ sự phát đạt của công ty, và ngược lại do dự đoán thấp giá trị tại thời
điểm thị trường đi xuống.
Mối quan hệ giữa cung và cầu được trực tiếp phản ánh thông qua khối
lượng giao dịch trên thị trường, hoạt động của những nhà đầu tư có tổ chức, giao
dịch ký quỹ…cũng có ảnh hưởng đáng kể. Mặc dù số lượng giao dịch ký quỹ
tăng khi mà giá cổ phiếu tăng, nhưng một khi giá cổ phiếu giảm số lượng cổ phiếu
9

bán ra tăng và làm cho giá càng giảm.
1.2. Vai trò của TTCK đối với nền kinh tế
TTCK là một định chế tài chính tất yếu của nền kinh tế thị trường phát triển,
là chiếc cầu nối vô hình giữa cung và cầu vốn trong nền kinh tế. Với một TTCK
lành mạnh, hoạt động có hiệu quả sẽ tạo điều kiện khai thác tốt các tiềm năng
của nền kinh tế, giúp cho việc thu hút và phân phối vốn trong nền kinh tế có hiệu
quả nhất.
1.2.1.Huy động vốn đầu tƣ cho nền kinh tế
TTCK hoạt động như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm lớn
nhỏ của từng hộ dân cư, thu hút nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các DN, các tổ
chức tài chính tạo thành nguồn vốn khổng lồ tài trợ cho nền kinh tế mà các phương

quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các CK giao dịch trên thị
trường.
1.2.3.Kích thích các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn
Khi tham gia niêm yết trên TTCK tập trung, các DN niêm yết cần phải đáp
ứng được một số điều kiện cụ thể, nhất định theo qui định như: vốn điều lệ, tình
hình tài chính,… và các DN phải công khai tình hình tài chính, kết quả hoạt động
SXKD theo chế độ báo cáo định kỳ và NĐT chỉ mua cổ phiếu của các công ty
tăng trưởng. Với sức ép thường xuyên của thị trường, với quyền tự do lựa chọn
mua CK của NĐT đòi hỏi các nhà quản lý DN phải biết tính toán, nâng cao hoạt
động kinh doanh một cách có hiệu quả. Từ đó, tạo ra một môi trường cạnh tranh
lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ
mới và nâng cao chất lượng sản phẩm.
1.2.4.Tạo tiền đề cho quá trình cổ phần hóa
TTCK là nơi tập trung được toàn bộ cung cầu về vốn và cũng là nơi hội tụ
nhiều nhất các NĐT, do đó nó có tác động rất lớn trong việc nhanh chóng
chuyển các DNNN thành các CTCP một cách có hiệu quả nhất.
Với nguyên tắc hoạt động trung gian, đấu giá, công khai và là nơi mà hoạt
động mua bán CK diễn ra hàng ngày, hàng giờ. TTCK chính là cơ sở làm cho
quá trình CPH theo đúng pháp luật và phù hợp với tâm lý của NĐT. Chỉ có thông
qua TTCK, Nhà nước mới có thể thực hiện được CPH đối với bất kỳ loại hình DN
nào. Mặt khác, nếu không có TTCK thì vốn đầu tư qua CK sẽ bị bất động và như
11

vậy sẽ rất khó khăn trong việc phát hành. Mục tiêu chủ yếu của CPH các DNNN
và các loại hình DN khác là thu hút mọi nguồn vốn nhỏ lẻ trong dân chúng vào
đầu tư. Vì vậy, TTCK còn là tiền đề vật chất cho quá trình CPH.
1.2.5.Tạo môi trƣờng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô và
phát triển kinh tế - xã hội
Các chỉ số của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén
và chính xác. Giá các CK tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng

Những động thái cởi mở
Những ngày đầu tháng 4/2007, chính quyền Trung Quốc đã có một loạt động thái
và những quy định mới áp dụng cho TTCK của mình. Đầu tiên có thể kể đến việc Uỷ
ban Chứng khoán Nhà nước Trung Quốc vừa cho phép các hoạt động mua bán CK
quyền chọn được diễn ra tại TTCK nước này.
Theo quy định mới này, các tổ chức tài chính sẽ không bị ngăn cấm giao dịch CK
quyền chọn cũng như không bị hạn chế huy động vốn cho công tác giao dịch kiểu này.
Quy định mới sẽ cho phép thực hiện các giao dịch quyền chọn đối với các loại cổ phiếu,
ngoại hối và chứng khoán phái sinh. Giới chuyên gia dự báo, quy định mới sẽ tạo điều
kiện cho các nhà môi giới chứng khoán, các quỹ đầu tư và các ngân hàng thương mại
được tham gia năng động hơn và mạnh mẽ hơn vào TTCK nước này.
Cũng trong những ngày đầu tháng 4/2007, Trung Quốc đã có thêm một động thái
mang tính cởi mở khác đối với TTCK, với việc thúc giục đẩy mạnh cổ phần hoá doanh
nghiệp trung ương.
Bên cạnh đó, Trung Quốc sẽ bán thêm nhiều hơn nữa cổ phần trong các doanh
nghiệp nhà nước trung ương cho các nhà đầu tư chiến lược. Mục tiêu của động thái này
là nhằm giảm bớt cổ phần nhà nước trong nhiều DNNN trung ương, đồng thời khuyến
khích các doanh nghiệp này nhanh chóng CPH và bán cổ phiếu ra công chúng, đặc biệt
là các nhà đầu tư chiến lược. Để làm được mục tiêu đẩy mạnh đa dạng hoá hình thức sở
hữu vốn trong các doanh nghiệp nhà nước, nhiệm vụ của Trung Quốc trong vấn đề này
sẽ là xem xét lại các quy định càng sớm càng tốt, hướng tới đạt chuẩn mực chung trong
việc quản lý và chuyển giao vốn của Nhà nước sang các nhà đầu tư khác. Những DNNN
trung ương nào không thể hoàn toàn cổ phần hoá thì có thể để các chi nhánh, công ty con
của họ đưa cổ phiếu tới tay các nhà đầu tư.
Đồng thời, Chính phủ Trung Quốc quan tâm nhiều hơn tới vấn đề bảo vệ giới đầu
tư nhằm tiếp tục tăng cầu cho TTCK, phát triển kênh huy động vốn này. UBCKNN
Trung Quốc tiến hành cho áp dụng chương trình cho vay cầm cố CK nhằm tăng cường
13

tính thanh khoản cho các cổ phiếu, qua đó đảm bảo TTCK là một kênh đắc lực huy động


hơn 13USD hoặc ngừng giao dịch trong 3 năm liền cũng sẽ bị khoá tạm thời.
Có thể dễ dàng nhận thấy, những động thái, quy định mới của UBCKNN Trung
Quốc đa số thông thoáng hơn, cởi mở nhiều hơn là thắt chặt, với một mục tiêu kiên định
là tiếp tục phát triển TTCK lành mạnh nhưng vẫn tiếp tục phát triển bền vững.
Điều này cho thấy tầm nhìn và năng lực của các quan chức chuyên trách chứng
khoán của Trung Quốc đã đủ mạnh để theo kịp và điều phối hợp lý hoạt động của kênh
huy động vốn này.
Những kết quả ngay tức thì
Sau những động thái, quy định mới của UBCKNN Trung Quốc, chứng khoán
Trung Quốc đã thăng hoa lên những tầm cao mới. Đơn cử, chỉ số chứng khoán quan
trọng nhất của Trung Quốc là Shanghai Composite Index hôm 17/4, đã tăng tới 15,43%
so với phiên giao dịch liền trước, lên đạt kỷ lục mới 3.611,87 điểm. Còn trước đó, chỉ
tính trong vòng có một tuần, chỉ số chứng khoán quan trọng nhất của Trung Quốc đã 6
lần phá kỷ lục tăng điểm, một điều đang được coi là kỷ lục về những kỷ lục.
1.3.2.Thất bại từ Thái Lan
TTCK rất nhạy cảm với những sự kiện có thể xảy ra ngoài dự báo của các nhà
đầu tư, những công ty quản lý và các quỹ đầu tư. Sự kiện mới nhất tại Thái Lan vừa xảy
ra là một thí dụ điển hình để các nhà đầu tư tham khảo.
Thứ Ba, ngày 19/12/2006 đã trở thành ngày kinh hoàng và đen tối nhất của
TTCK Thái Lan trong 31 năm qua. Ngay sau khi Ngân hàng Trung ương Thái Lan
(BOT) công bố những biện pháp mạnh nhằm ngăn chặn đà tăng giá của đồng Baht, hàng
loạt những nhà đầu tư nước ngoài đã đầu cơ quy mô lớn cổ phiếu ở TTCK Thái Lan bị
sốc nặng.
Theo quyết định của BOT, tất cả các khoản đầu tư gián tiếp nước ngoài vượt
ngưỡng 20.000 USD sẽ phải được giữ ở Thái Lan ít nhất là 1 năm mới được chuyển ra
nước ngoài và 30% trong số đó phải gửi vào Ngân hàng Nhà nước Thái Lan với lãi suất
0%. Quyết định này nhằm hạn chế nhà đầu tư nước ngoài đổ tiền vào TTCK làm tăng
giá đồng Baht lên mức quá nóng, tăng 14% so với USD kể từ đầu năm 2006 đến nay.
Tuy nhiên, quyết định của BOT là một tai họa cho TTCK, để lại hệ quả xấu cho

16

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Ở chương này, người viết trình bày tổng quan về TTCK Việt Nam. Từ khi thành
lập đến nay, TTCK Việt Nam đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của giới đầu tư
trong và ngoài nước, chứng tỏ được là một thị trường đầy tiềm năng, có cơ hội phát
triển nhanh, mạnh và trong tương lai sẽ là bệ phóng để thị trường dịch vụ tài chính có
những bước phát triển mang tính đột phá.
TTCK là nơi huy động và phân phối vốn có hiệu quả nhất cho nền kinh tế, chịu
sự tác động của các nhóm nhân tố. Thông qua những lý luận về phát triển của TTCK
và những kinh nghiệm từ TTCK Trung Quốc, Thái Lan. Chúng ta cần phải rút ra được
những bài học riêng để tạo một TTCK Việt Nam phát triển.
sẽ tạo
thêm sự đồng bộ và gắn kết đảm bảo yếu tố an toàn cho hoạt động của TTCK và
các thị trường tài chính khác.
Ngày 11/07/2000 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
127/1998/QĐ-TTg về việc thành lập TTGDCK TP.HCM và TTGDCK Hà Nội.
18

Có thể nói, việc thành lập các TTGDCK là một giải pháp cấp bách trước mắt,
không những tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn, thúc đẩy tiến trình
đổi mới
DN
mà còn hướng các hoạt động giao dịch CK đi vào quỹ đạo có tổ chức
ngay từ đầu và đây cũng là bước chuẩn bị cho việc thành lập SGDCK sau này.
2.1.2. Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
TTGDCK TP.HCM chính thức đi vào hoạt động ngày 20/07/2000 và thực
hiện phiên giao dịch CK đầu tiên vào ngày 28/07/2000 đã đánh dấu một cột mốc
quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới.
Sự ra đời của TTGDCK TP.HCM có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo thêm một
kênh huy động vốn dài hạn phục vụ nhu cầu CNH – HĐH đất nước, là một sản
phẩm của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. TTGDCK TP.HCM được
Chính phủ giao một số chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quản lý điều hành hệ
thống giao dịch CK niêm yết tập trung tại Việt Nam. Đó là tổ chức, quản lý và
điều hành việc mua - bán CK, quản lý điều hành hệ thống giao dịch, thực hiện
hoạt động quản lý niêm yết, công bố thông tin, giám sát giao dịch, hoạt động đăng
ký, lưu ký và thanh toán bù trừ CK và một số hoạt động khác.
Tháng 8/2007 Trung tâm giao dịch chứng khoán TP HCM được chuyển đổi
thành Sở giao dịch chứng khoán TP HCM
Chỉ số VN-Index là ký hiệu của chỉ số chứng khoán Việt Nam. VN-Index đã
khởi đầu với 100 điểm vào ngày 28/07/2000 với chỉ
2

Vn-index giảm xuống dưới ngưỡng điểm 1.000 điểm và chỉ xoay quanh mốc 900
điểm vào những ngày cuối năm 2007, với lượng chứng khoán chuyển nhượng rất
hạn chế.
Trong năm 2008, lượng cung chứng khoán tiếp tục được bổ sung đáng kể
thông qua việc Chính phủ đẩy mạnh cổ hoá DNNN, đặc biệt là các DN quy mô lớn,
kinh doanh hiệu quả và việc bán bớt CP Nhà nước trong các DN đã CPH, chưa kể
hàng loạt ngân hàng, Công ty chứng khoán, doanh nghiệp... phát hành trái phiếu, cổ
phiếu để tăng vốn điều lệ, dẫn đến tình trạng TTCK có nguy cơ thừa "hàng". Bên
cạnh đó hiệu ứng từ thông thư 03 về việc hạn chế cho vay đầu tư chứng khoán
không những làm giảm nguồn cung tiền đổ vào TTCK mà còn tác động rất xấu đến
tâm lý nhà đầu tư cả trong và ngoài nước. Chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm 2008
Vn-Index đã mất đi gần 60% số điểm, còn lại 370 điểm. Nhằm mục đích ngăn chặn
đà suy giảm của thị trường, các cơ quan điều hành bắt đầu đưa ra những chủ trương
20

và biện pháp hỗ trợ như: UBCKNN thu hẹp biên độ giao dịch; SCIC tham gia mua
vào cổ phiếu; NHTM được vận động ngừng giải chấp; Tổ chức niêm yết được
khuyến khích mua vào cổ phiếu quỹ. Tuy nhiên, phần lớn các biện pháp này chỉ
phát huy hiệu quả trong ngắn hạn, thị trường tiếp tục sụt giảm, cơn bão giải chấp cổ
phiếu không ngừng tác động tới tâm lý các nhà đầu tư.
Từ tháng 06 đến đầu tháng 09/2008 TTCK đã có sự phục hồi trong ngắn hạn
nhờ vai trò dẫn dắt của một số cổ phiếu blue-chip như STB, FPT, DPM…và đặc
biệt là SSI với sức cầu hỗ trợ từ đối tác nước ngoài, chứng khoán đã có được những
phiên tăng điểm mạnh trong giai đoạn này. Vn-index liên tiếp vượt qua các ngưỡng
cản tâm lý quan trọng và thường xuyên có được những chuỗi tăng điểm kéo dài,
khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch ở mức 16,9 triệu CP&CCQ, tương đương
599,18 tỷ đồng/phiên. Vn-index tăng được 168,55 điểm, tương đương 45,52%, đạt
khoảng 538 điểm.
Từ tháng 09 tới tháng 12/2008 Thị trường trở lại chu kỳ giảm do tác động
của khủng hoảng kinh tế toàn cầu Đây là thời kỳ Vn-index rơi vào xu hướng giảm

25/08/2010, 549.51 điểm là mức đỉnh của VN-Index trong năm 2010, được xác lập
ngày 6/05/2010. Đây là năm đầu tiên mà chỉ số VN-Index đầu năm và cuối năm
không có sự thay đổi nhiều. Tuy nhiên diển biến của TTCK trong năm là hết sức
khó lường và ẩn chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn cho nhà đầu tư. Đặc biệt năm 2010 xảy ra
nhiều điều bất ngờ đi ngược lại với quy luật của TTCK Việt Nam trong quá khứ.

Bảng 1:Tình hình niêm yết chứng khoán trên Hsx năm (2007-2010)
Năm 2007 2008 2009 2010
SL CK niêm yết

125

158

205

279
KL CK niêm yết (Triệu CK)

3,882

5,948

10,536

13,212
Giá trị niêm yết (Tỷ đồng)

38,820


Bảng 2:Tình hình niêm yết chứng khoán trên Hnx năm (2007-2010)
Năm 2007 2008 2009 2010
SL CK niêm yết

115 175

247

364
KL CK niêm yết (Triệu CK)

2,666 3,652

5,480

7,656
Giá trị niêm yết (Tỷ đồng)

26,660 36,520

54,800

76,560
N
guồn: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

23

Biểu đồ 2: Chỉ số Hnx-Index giai đoạn (2006 – 2010)


trường vốn đến 2010 và tầm nhìn 2020, hoạt động của TTCK đã đạt được một số kết
quả sau:
2.2.1.1.Về khung pháp lý, thể chế chính sách
Kể từ khi Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành ngày 29/6/2006 và có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007, đã tạo lập được khuôn khổ pháp lý cao,
đồng bộ và thống nhất cho hoạt động của TTCK, từng bước loại bỏ những mâu
thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan (về cơ bản thống nhất
với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư); phù hợp hơn với luật pháp, thông lệ quốc
tế, tạo nền tảng cho TTCKVN khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế và
khu vực; tăng cường tính công khai minh bạch cho thị trường và nâng cao khả năng
quản lý giám sát thị trường của cơ quan quản lý nhà nước.
2.2.1.2.Về quy mô và hàng hóa của thị trường
Quy mô thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bước
đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước. Trong suốt thời kỳ từ 2000-2005, vốn hóa thị trường
chỉ đạt trên dưới 1% GDP. Quy mô thị trường đã có bước nhảy vọt mạnh mẽ lên
22,7% GDP vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên mức trên 43% vào năm 2007. Trước
biến động của thị trường tài chính thế giới và những khó khăn của nền kinh tế trong
nước, chỉ số giá chứng khoán đã sụt giảm liên tục trong năm 2008 và làm mức vốn
hóa thị trường giảm hơn 50%, xuống còn 18%. Khi nền kinh tế trong nước và thế
giới bắt đầu hồi phục nhẹ từ quý II/2009, chỉ số giá chứng khoán đã bắt đầu tăng trở
lại cùng với số lượng các công ty niêm yết trên thị trường cũng gia tăng nhanh
25

chóng. Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến cuối năm 2009 đã đạt 37,71%
GDP. Tính đến cuối năm 2010 đạt khoảng gần 38% GDP

Bảng 3: Quy mô vốn hóa CK niêm yết giai đoạn (2007-2010)

Năm

KL giao dịch ( Triệu CK) 120 250 611

1,641
GT giao dịch(tỉ VND) 14,200 13,547 26,237

54,313

N
guồn: Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà nội

Trích đoạn CHƢƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TTCK VIỆT NAM PHÁT TRIỂN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status