Giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 23

Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Hằng
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
• Lý do chọn đề tài.
Trong tình hình kinh tế thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, khó
lường đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia tổ chức thương mại quốc tế WTO
7/11/2006, nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập một cách sâu rộng thì việc huy động
và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan
trọng, mục tiêu đẩy mạnh công cuộc đổi mới, từng bước công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước, nắm vững thời cơ, vượt qua khó khăn thách thức, huy động mọi nguồn lực
trong và ngoài nước, tạo ra những động lực mới, những đột phá mới, từ tư duy đến thực
tiễn để sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng chậm phát triển và cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Thực tiễn sinh động của công
cuộc đổi mới ở nước ta đã chỉ ra rằng qua 10 năm thành lập và phát triển từ tháng
7/2000, TTCK đã đáp ứng yêu cầu về vốn đặc biệt là vốn trung và dài hạn nhằm thực
hiện sự nghiêp CNH-HĐH đất nước. Tuy nhiên, nó vẫn còn rất nhiều yếu tố rủi ro chính
vì lý do đó mà tôi chọn đề tài “Giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt
Nam” để làm luận văn tốt nghiệp.
• Mục tiêu của đề tài.
Đề tài nhằm tìm hiểu, phân tích và đánh giá một cách có hệ thống TTCK, phân
tích các rủi ro gắn liền với các loại chứng khoán, để làm cơ sở lý giải một cách khoa học
những vấn đề lý luận và thực tiễn về quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng
khoán Việt Nam kết hợp với việc đánh giá thực trạng cơ sở vật chất. Từ đó, đề xuất một
số chiến lược phát triển và hoàn thiện thị trường chứng khoán ở Việt Nam.
• Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu qua các phương tiện thông tin như
wedsite, tivi…Qua các sách báo, tạp chí kinh tế, chứng khoán,...
Phương pháp xử lý số liệu: Lý luận cơ bản là chủ yếu sau đó tiến hành so sánh,
phân tích, tổng hợp các biến động của thị trường qua các năm qua đó có thể thấy thực
trạng TTCK trong những năm qua, trong hiện tại và những định hướng trong tương lai
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 1

thế kỷ 15 ở tại những thành phố trung tâm buôn bán ở phương Tây, các thương gia
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 2
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Hằng
thường tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi việc mua bán các vật phẩm hàng hoá. Lúc
đầu chỉ là một nhóm nhỏ sau đó tăng dần rồi hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế kỷ
15, để thuận tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc họ thống
nhất các quy ước và dần dần các quy ước được sửa đổi hoàn chỉnh thành những quy tắc
có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia “ thị trường”. Phiên chợ riêng đầu
tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ), tại
đó có một bảng hiệu hình ba túi da với một tiếng Pháp là “Bourse” tức là “mậu dịch thị
trường” hay còn gọi là “Sở giao dịch”. Vào năm 1547, thành phố ở Bruges Bỉ mất đi sự
phồn thịnh do eo biển Even bị cát lấp nên mậu dịch thị trường ở đây bị sụp đổ và giữa
thế kỷ 16 một quan chức đại thần của Anh quốc đã đến quan sát và về thiết lập một mậu
dịch thị trường tại London (Anh), nơi mà sau này được gọi là Sở giao dịch chứng khoán
London. Các mậu dịch thị trường khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức và
Bắc Âu.
Thị trường ngày càng phát triển cả về lượng và chất với số thành viên tham gia
đông đảo và nhiều nội dung khác nhau. Vì vậy, theo tính chất tự nhiên nó lại được phân
ra thành nhiều thị trường khác nhau như: Thị trường giao dịch hàng hoá, thị trường hối
đoái, thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai và thị trường chứng khoán, … với đặc
tính riêng của từng thị trường thuận lợi cho giao dịch của người tham gia vào thị trường
đó.
Ngày nay, theo sự phát triển của công nghệ khoa học kỹ thuật, các phương thức giao
dịch ở các Sở giao dịch chứng khoán cũng được cải tiến dần theo tốc độ và khối lượng
yêu cầu nhằm đem lại hiệu quả và chất lượng cho giao dịch, các Sở giao dịch đã dần dần
sử dụng máy vi tính để truyền các lệnh đặt hàng và chuyền dần từ giao dịch thủ công kết
hợp với máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện tử thay cho thủ
công trước kia.
Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên Thế giới cho thấy
thời gian đầu, thị trường hình thành một cách tự phát, đối tượng tham gia chủ yếu là các

tập trung (SGDCK) hay TTCK không tập trung (thị trường OTC).
- TTCK tập trung: Là địa điểm hoạt động chính thức của các giao dịch chứng khoán
gọi là SGDCK. Đó là nơi các nhà môi giới kinh doanh chứng khoán gặp gỡ để đấu giá,
thương lượng mua bán chứng khoán cho khách hàng hay cho chính mình theo những
nguyên tắc và quy chế giao dịch của SGDCK đề ra trên cơ sở của Luật chứng khoán.
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 4
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Hằng
- TTCK không tập trung (thị trường OTC): là hoạt động giao dịch của CK không
thông qua SGDCK, mà thực hiện bởi các công ty chứng khoán thành viên với phương
thức giao dịch thông qua mạng điện thoại và mạng máy tính.
c) Căn cứ vào phương thức giao dịch của thị trường, chia ra 2 loại thị trường:
- Thị trường giao ngay (Spot market): Là thị trường của những giao dịch CK mà lệnh
của khách hàng được thực hiện ngay căn cứ vào giá trị hiện tại và sẽ thanh toán ngay
hoăc vào một ngày gần sau đó.
- Thị trường kỳ hạn hay thị trường tương lai (Future market):Là thị trường của các
hợp đồng tương lai và các công cụ dẫn xuất từ chứng khoán. Hợp đồng được ký kết căn
cứ vào giá cả hiện tại, nhưng giao dịch thanh toán lại diễn ra một ngày ở tương lai trong
kỳ hạn.
1.2 Chức năng của TTCK
1.2.1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Vai trò quan trọng đầu tiên của TTCK là thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội
để hình thành các nguồn vốn lớn có khả năng tài trợ cho các dự án đầu tư dài hạn phát
triển kinh tế cũng như tài trợ tăng vốn mở rộng sản xuất kinh doanh. Thực tiễn đã chứng
minh TTCK là công cụ huy động vốn hết sức hiệu quả.
1.2.2 Khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.
TTCK tạo ra cơ hội thuận tiện khuyến khích xã hội tiết kiệm và biết cách sử dụng
tiền tiết kiệm một cách có hiệu quả, qua việc đầu tư vào các loại chứng khoán. Mỗi cá
nhân, tổ chức trong xã hội chỉ có một số tiền tiết kiệm nhỏ, nhưng tổng số tiền tiết kiệm
của cả xã hội sẽ tạo ra một nguồn vốn lớn cho đầu tư.
Mặt khác, trong xã hội cũng tồn tại các quỹ tiền tệ tập trung: Ngân hàng đầu tư, ngân

môi giới chứng khoán để thương lượng đấu giá, mua bán chứng khoán, là cơ quan phục
vụ cho hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán.
1.3.2 Hình thức sở hữu.
SGDCK là một tổ chức có tư cách pháp nhân, được thành lập theo qui định của luật
pháp, SGDCK có thể có các hình thức sau:
+ Là một tổ chức vận hành theo nguyên tắc thành viên.
+ Là một tổ chức do chính phủ sở hữu.
1.3.3 Chức năng của SGDCK
+ Tổ chức quản lý điều hành việc mua bán chứng khoán.
+ Quản lý điều hành hệ thống giao dịch chứng khoán.
+ Cung cấp các dịch vụ liên quan đến mua bán chứng khoán.
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 6
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Hằng
1.4 Hàng hóa của thị trường chứng khoán
1.4.1 Cổ phiếu
1.4.1.1 Khái niệm
Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp
của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành.
Khi một công ty cổ phần huy động vốn để thành lập hoặc mở rộng, hiện đại hoá sản
xuất, họ chia số vốn cần huy động thành những phần nhỏ bằng nhau, gọi là cổ phần, các
nhà đầu tư sẽ đầu tư vào công ty bằng cách mua các cổ phần. Khi đó, các nhà đầu tư trở
thành cổ đông. Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu.
1.4.1.2 Đặc điểm của cổ phiếu
a) Hình thức cổ phiếu:
Cổ phiếu có thể tồn tại dưới dạng chứng chỉ hoặc dưới dạng tài khoản hay bút toán
ghi sổ (các cổ đông nắm giữ giấy báo Có số tiền trên tài khoản của mình). Hình thức thứ
hai còn được gọi là chứng khoán phi vật thể hay chứng khoán phi vật chất. Hình thức cổ
phiếu do Bộ tài chính phát hành, thống nhất trên toàn quốc. Công ty cổ phần nào niêm
yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán thì mẫu cổ phiếu phải do Nhà nước quản
lý.

b) Trái phiếu có thời hạn:
Thời hạn của trái phiếu là thời hạn đi vay của tổ chức phát hành đối với trái chủ và
được ghi rõ trên bề mặt trái phiếu. Trái phiếu có thể được hoàn vốn khi đáo hạn, nhưng
cũng có thể được hoàn vốn trước hạn toàn bộ hay từng phần, do đó, thời hạn trung bình
(thời gian mà toàn bộ 100% số tiền của trái phiếu được sử dụng) của trái phiếu có thể có
thể bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đáo hạn của trái phiếu.
c) Trái phiếu có quy định lãi suất và thời hạn trả lãi:
Mỗi trái phiếu đều ghi cam kết của tổ chức phát hành thanh toán cho người sở hữu
trái phiếu một số tiền lãi cố định vào một ngày nhất định. Số lãi thường được ghi là một
tỷ lệ phần trăm của mệnh giá trái phiếu, gọi là lãi suất.
1.4.2.3 Phân loại trái phiếu
a) Trái phiếu công ty:
Là các trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn dài hạn. Trái phiếu công ty có
đặc điểm chung sau: Trái chủ được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song không
được tham dự vào các quyết định của công ty. Nhưng cũng có loại trái phiếu không
được trả lãi định kỳ, người mua được mua dưới mệnh giá và khi đáo hạn được nhận lại
mệnh giá. Khi công ty giải thể hoặc thanh lý, trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 8
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Hằng
các cổ phiếu.
Trái phiếu công ty bao gồm những loại sau:
- Trái phiếu có đảm bảo: Là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp cụ
thể, thường là bất động sản và các thiết bị. Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở
một mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài
sản cụ thể.
- Trái phiếu không bảo đảm: Trái phiếu tín chấp không được đảm bảo bằng tài sản
mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty. Nếu công ty bị phá sản, những trái chủ của
trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước cổ
động. Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép trái chủ được quyền chuyển
trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành. Tuỳ theo quy định, việc chuyển

hành.
1.4.3 Các chứng khoán phái sinh.
Khi thị trường chứng khoán ngày càng phát triển, bên cạnh hai công cụ lưu thông
chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu, còn xuất hiện các giao dịch mua bán các chứng từ tài
chính có nguồn gốc chứng khoán, bao gồm những loại sau:
a) Chứng quyền.
Chứng quyền là một chứng thư do công ty phát hành cho các cổ đông hiện hữu,
trong đó quy định cổ đông đó được quyền mua một lượng cổ phiếu mới phát hành theo
giá quy định thấp hơn giá thị trường trong một thời gian nhất định. Chứng quyền chỉ tồn
tại ở dạng chứng thư, không có chứng quyền tài khoản, có thời hạn hiệu lực ngắn và
trong thời hạn đó, hiệu lực của nó là không thể huỷ ngang. Trên chứng quyền có ghi rõ
số lượng quyền mua cổ phiếu mới và giá mua ưu đãi. Chứng quyền là một loại hàng hoá
đặc biệt được giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán, giá của nó phụ thuộc giá trị của
chứng quyền, thời hạn còn lại của chứng quyền, xu hướng biến động về thị giá của cổ
phiếu ấn định trong chứng quyền.
b) Bảo chứng phiếu
Bảo chứng phiếu là một chứng thư do tổ chức phát hành ra cho tất cả những người
mua cổ phiếu và trái phiếu mới của công ty khi có đợt phát hành mới. Người nắm giữ
bảo chứng phiếu được quyền mua một lượng cổ phiếu và trái phiếu nhất định theo một
giá quy định trong tương lai. Giá đó thường cao hơn giá phát hành. Mục đích của việc
phát hành bảo chứng phiếu là nhằm tạo ra một nhu cầu tiềm ẩn đối với cổ phiếu và trái
phiếu của công ty mình trong tương lai. Các công ty phát hành chứng minh một cách
gián tiếp là cổ phiếu và trái phiếu của mình sẽ tăng giá trong tương lai, hoặc mức giá
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 10
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Hằng
hiện tại là còn ở mức khuyến mại. Cam kết trong bảo chứng phiếu cũng là một cam kết
không thể huỷ ngang trong suốt thời hạn hiệu lực. Thời hạn của bảo chứng phiếu là dài
hạn hoặc vô hạn. Khi phát hành, giá trị nội tại của bảo chứng phiếu là bằng không,
nhưng nó sẽ có giá trị trong tương lai. Thị giá của chứng phiếu tuỳ thuộc vào các yếu tố
như giá chuyển đổi, thời hạn còn lại trên chứng khế, giá trị cổ phiếu cơ bản.

- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu,
chứng chỉ thụ hưởng,... phục vụ cho hoạt động của họ.
1.5.2 Nhà đầu tư.
Nhà đầu tư là những người mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán.
Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: Nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức.
1.5.3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán.
- Công ty chứng khoán.
- Quỹ đầu tư chứng khoán.
- Các trung gian tài chính.
1.5.4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán.
- Cơ quan quản lý Nhà nước.
- Sở giao dịch chứng khoán.
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán.
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán.
- Công ty dịch vụ chứng khoán:
+ Các tổ chức tài trợ chứng khoán.
+ Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm.
1.6. Nguyên tắc hoạt động và điều kiện cho sự hình thành TTCK.
1.6.1 Nguyên tắc hoạt động.
Sự hoạt động của TTCK là rất phức tạp, nhưng nhìn chung nó hoạt động tuân theo
các nguyên tắc sau:
a) Nguyên tắc trung gian.
TTCK hoạt động không phải trực tiếp do những người muốn mua hay bán chứng
khoán thực hiện mà do người môi giới trung gian thực hiện. Đây là nguyên tắc trung
gian cơ bản cho tổ chức và hoạt động của TTCK. Nguyên tắc trung gian nhằm bảo đảm
các loại chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực và thị trường chứng khoán
hoạt động lành mạnh, đều đặn, hợp pháp và ngày càng phát triển, bảo vệ lợi ích của nhà
đầu tư.
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 12
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Hằng

triển các tổ chức hoạt động trên thị trường:
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 13
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Hằng
- Các công ty bảo hành phát hành CK.
- Các công ty môi giới CK.
- Các công ty giao dịch CK cho chính mình.
- Các quỹ đầu tư.
- Tổ chức tư vấn.
- Nhân viên giao dịch.
Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kế toán quốc tế áp dụng thống nhất trong toàn ngành.
Đồng thời phát triển các công ty kiểm toán trong và ngoài nước đáp ứng yêu cầu thẩm
định cả hai phía: các tổ chức CK, các tổ chức kinh doanh chứng khoán.
d) Điều kiện về con người.
Nhân tố con người đóng vị trí hết sức quan trọng đối với sự thành công của TTCK.
Vì đây là một ngành rủi ro cao nên phải có đội ngũ cán bộ nhanh nhạy, nghiệp vụ và có
tư cách. Vì vậy cần đào tạo cán bộ cho TTCK, thực hiện trước khi thành lập TTCK.
- Cán bộ quản lý giám sát thị trường, công tác tại Ủy ban chứng khoán.
- Cán bộ quản lý, điều hành tại sở giao dịch CK và tại các hệ thống phụ trợ.
- Nhân viên KDCK tại các công ty KDCK.
1.7 Một số định chế tài chính trung gian
Các tổ chức tài chính trung gian là các tổ chức tài chính thực hiện chức năng dẫn
vốn từ người có vốn tới người cần vốn. Tuy nhiên không như dạng tài chính trực tiếp
người cần vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau ở thị trường tài chính, các
trung gian tài chính thực hiện sự dẫn vốn thông qua một cầu nối nghĩa là người cần vốn
muốn có được vốn phải thông qua người thứ ba, đó chính là các tổ chức tài gián tiếp hay
các tổ chức tài chính trung gian.
1.7.1 Chức năng.
a) Chức năng tạo vốn.
Các trung gian tài chính huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, hình thành các quỹ
tiền tệ tập trung. Bằng cách trả lãi suất, các trung gian tài chính đem lại lợi ích cho

Ngày 20/07/2000, Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) TP HCM đã chính
thức khai trương và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 với 02 loại
cổ phiếu niêm yết. Qua 10 năm với sự tăng trưởng của thị trường và hội nhập với TTCK
thế giới, Trung tâm giao dịch chứng khoán TP HCM đã chính thức được Chính phủ ký
Quyết định số: 599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007 chuyển đổi thành Sở giao dịch Chứng
khoán TP HCM. Ngày 08/08/2007, SGDCK TP HCM đã chính thức được khai trương.
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 15
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Hằng
Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (SGDCK Hà Nội) được thành lập theo Quyết
định số 01/2009/QĐ-Ttg ngày 2/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở chuyển
đổi, tổ chức lại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. TTGDCK Hà Nội được
thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998, chính thức đi vào hoạt
động từ năm 2005 với các hoạt động chính là tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán
niêm yết, đấu giá cổ phần và đấu thầu trái phiếu. Sau 5 năm hoạt động, TTGDCK Hà
Nội đã có những bước trưởng thành nhanh và mạnh, thu hút được sự quan tâm của
doanh nghiệp và công chúng đầu tư.
1.8.3 Cách thức và các loại lệnh được sử dụng trong giao dịch.
Việc mua bán chứng khoán trên các thị trường chứng khoán dựa vào các nhà môi
giới và nhà kinh doanh chứng khoán. Để thực hiện việc giao dịch, nhà đầu tư phải cung
cấp cho nhà môi giới những thông tin nhất định. Một trong những thông số mà nhà đầu
tư phải cung cấp cho nhà môi giới là các loại lệnh mua bán hay Lệnh giao dịch là chỉ thị
mua hoặc bán chứng khoán của người đầu tư cho người môi giới của công ty chứng
khoán để thực hiện giao dịch.
a) Cách thức đặt lệnh
Khi khách hàng muốn giao dịch, họ phải đặt lệnh bằng một trong các hình thức sau
đây:
- Đặt lệnh trực tiếp tại phòng lệnh của công ty chứng khoán.
- Đặt lệnh qua điện thoại.
- Qua mạng máy tính nối mạng trực tiếp với phòng lệnh của công ty chứng khoán.
Nội dung của mẫu lệnh gồm các thông tin sau:

lệnh (tức là lệnh ATO chỉ có giá trị trong một đợt khớp lệnh và không có giá trị trong
đợt khớp lệnh tiếp theo). Lệnh ATO được sử dụng trong đợt khớp lệnh định kỳ thứ nhất.
- Lệnh ATC giống lệnh ATO nhưng được sử dụng trong đợt khớp lệnh định kỳ thứ
ba.
- Lệnh Huỷ mua: Dùng để hủy lệnh đã đặt Mua cổ phiếu.
- Lệnh Huỷ bán: Dùng để huỷ lệnh đã đặt Bán cổ phiếu.
Chú ý: Lệnh chỉ được Huỷ khi lệnh đặt chưa khớp.
1.8.4 Một số kiến thức khác về TTCK.
a) Chỉ số giá chứng khoán
Trên thế giới có nhiều phương pháp tính chỉ số giá chứng khoán khác nhau, nhưng
chỉ số giá chứng khoán được tính bằng công thức:
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Hằng
HNX-Index =
∑ Pit x Qit
∑ Pio x Qit
Trong đó,
Pit: Giá thị trường của cổ phiếu I vào thời điểm hiện tại
Qit: Số lượng cổ phiếu niêm yết của cổ phiếu I vào thời điểm hiện tại.
Pio: Giá thị trường của cổ phiếu I vào ngày cơ sở (gốc i : 1,……, n)
VN INDEX =

Pt∗Qt

Po∗Qo
Trong đó:
Pt là giá tại thời điểm hiện tại
Po là giá tại thời điểm gốc
Qt là số lượng cổ phiếu ở thời điểm hiện tại
Q0 là số lượng cổ phiếu ở thời điểm gốc

phiếu. Giao dịch lô chẵn được thực hiện theo phương thức giao dịch khớp lệnh định kỳ
tại thị trường giao dịch tập trung.
Theo qui định của HOSE đơn vị giao dịch cổ phiếu và chứng chỉ quĩ đầu tư là 10 cổ
phiếu, trái phiếu không qui định lô giao dịch. Còn HASTC đơn vị giao dịch là 100 cổ
phiếu hoặc 10 triệu đồng tính theo mệnh giá trái phiếu.
f) Đơn vị yết giá.
Đơn vị yết giá được biểu thị qua bảng sau:
 HOSE
Mức giá Đơn vị yết giá
<49.900 100 đ
50.000- 99.500 500 đ
>100.000 1.000 đ
 HASTC: Đối với cổ phiếu là 100 đồng, trái phiếu không qui định.
Đối với giao dịch thỏa thuận không qui định đơn vị giao dịch và đơn vị yết giá.
g) Ngày thanh toán
Theo quy định của Trung tâm giao dịch chứng khoán là ngày T + 3, tức là 03 ngày
làm việc sau ngày lệnh được thực hiện (không kể ngày Lễ, ngày nghỉ) có nghĩa:
-Khi lệnh mua chứng khoán được thực hiện, sau 03 ngày chứng khoán mới được
chuyển về tài khoản của khách hàng. Khi chứng khoán về tới tài khoản thì bạn mới có
các quyền đối với số chứng khoán đó.
-Khi lệnh bán chứng khoán được thực hiện, sau 03 ngày tiền bán chứng khoán sau
mới được chuyển về tài khoản của khách hàng. Trong đó:
+ Ngày T: Giao dịch.
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 19
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Hằng
+ Ngày T+1: Đối chiếu.
+ Ngày T+2: Bù trừ.
+ Ngày T+3: Thanh toán.
h) Ngày giao dịch hưởng cổ tức.
Là ngày mà nhà đầu tư mua cổ phiếu trên thị trường sẽ được hưởng cổ tức của công

Những tháng đầu năm kinh tế thế giới đã chứng kiến nhiều sự biến động lớn. Đầu
tiên là tín hiệu hồi phục đã trở nên rõ ràng ở một số khu vực kinh tế chủ chốt, tuy nhiên
kinh tế thế giới vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn trên chặng đường hồi phục
của mình. Cuộc khủng hoảng nợ tại châu Âu ngày một nghiêm trọng đang đe dọa lên
nền kinh tế của các nước khu vực Euro cũng như đe dọa đẩy thế giới đến một khủng
hoảng kinh tế mới. Thiên tai liên tục xảy ra ở các khu vực khác nhau với mức độ ngày
càng trở nên nghiêm trọng cũng gây những ảnh hưởng nhất định đến sự phục hồi của
kinh tế thế giới bên cạnh đó mối đe dọa xảy ra xung đột vũ trang ở các khu vực nhạy
cảm như Trung Đông, Nam Mỹ cũng gây ra những áp lực lớn.
Tuy vậy, qua 8 tháng đầu năm 2010 này thì những tín hiệu phục hồi ở hầu hết các
khu vực trên thế giới đã rất rõ ràng các khu vực kinh tế đều vượt qua khó khăn một cách
ngoạn mục và có những bước tăng trưởng tốt, khó khăn đã dần được loại bỏ và tạo lập
được lòng tin cho các nhà đầu tư. Dưới đây là biểu đồ thể hiện sức hấp dẫn của một số
kinh tế trong năm 2009 và những tháng đầu năm 2010. Theo biểu đồ này thì Việt Nam
đứng ở vị trí thứ 60 trong số 66 nước có sức hấp dẫn nhất thế giới.
Biểu đồ sức hấp dẫn của các nền kinh tế năm 2009-2010
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 21
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Hằng
2.1.1 Nền kinh tế của một số khu vực kinh tế chủ chốt thế giới.
Nền kinh tế Mỹ tiếp tục đi lên với mức tăng trưởng 0.3 % trong quý I/2010. Đóng
góp chủ yếu vào mức tăng trưởng này là sự cải thiện mức chi tiêu cá nhân, xuất khẩu và
hoạt động đầu tư khu vực tư nhân. Trong những báo cáo gần đây, Cục dự trữ liên bang
Mỹ (FED) cho rằng nền kinh tế đang tiếp tục được cải thiện, cơ quan này cũng nâng dự
báo tăng trưởng kinh tế Mỹ từ mức 2.8% - 3.5% lên mức 3.2 – 3.7% trong năm nay. Tuy
vậy, quá trình hồi phục vẫn còn chậm và còn chứa đựng nhiều rủi ro thị trường việc làm,
tăng lên 9.4% và nhà đất vẫn ảm đạm lượng nhà xây dựng mới giảm 12.8 % mức thấp
nhất trong nửa thế kỷ qua.
Trong quí II/2010 kinh tế Mỹ tiếp tục tăng trưởng 0.6% vượt qua mức dự báo của
các chuyên gia kinh tế, điều này cho thấy kinh tế Mỹ vẫn đang phục hồi đúng hướng,
với sự phục hồi của nền kinh tế lớn nhất thế giới trong nửa đầu năm 2010 sẽ tạo động

nhiệt kinh tế. Thảm họa cháy rừng ở Nga cũng đang rất nghiêm trọng và có thể gây ảnh
hưởng đến ngành nông nghiệp của nước này và nền kinh tế thế giới.
2.2 Đôi nét về nền kinh tế Việt Nam.
Kinh tế Việt Nam kết thúc năm 2007 với nhiều thành tựu mức thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt kỷ lục 17,8 tỉ USD và tăng trưởng kinh tế đạt 8.4%. Thị
trường chứng khoán có một năm tăng mạnh với chỉ số Vn-Index đạt trên ngưỡng 1.000
điểm kể từ nửa cuối tháng 1-2007 cho đến giữa tháng 11-2007, xen giữa là giai đoạn
giảm nhẹ trong tháng 8 và 9-2007. Tuy nhiên mức nhập siêu tăng đặc biệt là với Trung
Quốc tăng gấp gần 2,5 lần so với năm 2006 và chỉ số lạm phát lần đầu trở lại với 2 con
số sau hơn một thập kỷ kể từ 1995. Đúng vào thời điểm đó thì thị trường tín dụng, bất
động sản của Mỹ xảy ra khủng hoảng và lan rộng một cách nhanh chóng theo một dây
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 23
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Hằng
chuyền trong sự liên thông giữa thị trường bất động sản, tiền tệ, chứng khoán, nhiều
ngân hàng và định chế tài chính Mỹ và thế giới rơi vào tình trạng thua lỗ nặng, mất tính
thanh khoản, đối diện với nguy cơ phá sản cao, kể từ tháng 8-2007 cuộc khủng hoảng
kinh tế tài chính thế giới bắt đầu đến tận cuối năm 2009 thì nền kinh tế thế giới mới có
những dấu hiệu phục hồi.
Trong bối cảnh đó Việt Nam vẫn nỗ lực tiếp tục đà tăng trưởng đã đạt được từ những
năm trước đó. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến những biến
động lớn về thị trường, tỷ giá, đầu tư và thương mại. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu
ngày càng làm cho thời tiết trở nên bất lợi hơn cho nông nghiệp, thiên tai xuất hiện với
tần số cao hơn, sức tàn phá mạnh hơn, chi phí cho canh tác nông nghiệp tăng lên.
Tổng kết tình hình kinh tế trong năm 2009 kinh tế nước ta đạt được những thành
tựu: tăng trưởng GDP 5.2%, trên mức trung bình khu vực song là mức thấp nhất từ một
thập kỷ. Lạm phát được kiểm soát duy trì ở mức dưới hai con số.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn những điểm cần chú ý: bội chi ngân
sách tăng lên cả về con số tuyệt đối lẫn theo tỷ lệ GDP, nợ chính phủ và nợ nước ngoài
tăng lên, nhập siêu và cán cân thanh toán tài khoản vãng lai bị thâm hụt, gây sức ép lên
tỷ giá đồng tiền Việt Nam.

. Tăng thêm triệu USD 5,396 715 13.3%
3 Số dự án
3.1
. Cấp mới dự án 635 533 83.9%
3.2
. Tăng vốn lượt dự án 241 137 56.8%
4 Xuất khẩu
4.1
. Kể cả dầu thô triệu USD 16,314 20,674 126.7%
4.2
. Không kể dầu thô triệu USD 12,611 17,670 140.1%
5 Nhập khẩu triệu USD 13,292 19,453 146.4%

Nguồn: www.vneconomy.vn
Tuy nhiên nền kinh tế vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn: Chất lượng, hiệu quả tăng
trưởng hạn chế, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn khiêm tốn. Một số nhân tố kinh tế vĩ
mô chưa được cải thiện đáng kể, nhất là cân đối xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, cân
đối thu chi ngân sách Nhà nước, cân đối vốn đầu tư phát triển, chỉ số giá tiêu dùng tuy
đã giảm nhưng vẫn còn ở mức cao.
Những khó khăn, thách thức đó đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế của nước ta.
Vì vậy, nếu không tích cực tìm các giải pháp khắc phục có hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng rất
lớn đến việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2010 như: sản
SVTH: Hoàng Văn Hùng Trang 25

Trích đoạn CHƯƠNG 3 CÁC KIẾN NGHỊ THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia thị trường chứng khoán. Minh bạch, công khai hoá thông tin
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status