một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại phòng giao dịch minh phụng ngân hàng tmcp đại tín - Pdf 13

ĐỀ CƯƠNG THỰC TẬP
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA PHÒNG GIAO DỊCH
MINH PHỤNG NGÂN HÀNG TMCP ĐẠI TÍN
LỜI MỞ ĐẦU
Trình bày tính cấp thiết của đề tài
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Trình bày lý do chọn đề tài
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN
CỦA NHTM
1.1 Tín dụng trung-dài hạn và vai trò của tín dụng trung-dài hạn
1.1.1Khái niệm tín dụng trung và dài hạn
1.1.2Đặc điểm tín dụng trung và dài hạn
1.1.3Các hình thức cho vay trung và dài hạn
1.1.4 Vai trò của tín dụng trung và dài hạn trong nền kinh tế thị trường
1.1.4.1Đối với nền kinh tế
1.1.4.2 Đối với doanh nghiệp
1.1.4.3 Đối với ngân hàng
1.2 Chất lượng tín dụng trung và dài hạn trong hoạt động của ngân hàng
thương mại
1.3 Sự cẩn thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung-dài hạn
1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng trung-dài hạn
1.5.1 Những nhân tố về phía khách hàng
1.5.2 Nhân tố về phía ngân hàng
1.5.3 Nhân tố về môi trường
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG-DÀI HẠN TẠI PGD MINH
PHỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẠI TÍN
2.1 Khái quát về phòng giao dịch Minh Phụng
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

3.2 Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng trung- dài hạn của PGD Minh
Phụng
3.2.1 Đa dạng hóa các hình thức tín dụng trung và dài hạn
3.2.2 Đẩy mạnh công tác tư vấn đầu tư
3.2.3 Tăng cường thực hiện Marketing ngân hàng
3.2.4 Mở rộng cho vay các thành phần kinh tế
3.2.5 Đơn giản các thủ tục, nghiệp vụ
3.3Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung- dài hạn của PGD
Minh Phụng
3.3.1 Đổi mới chính sách tín dụng
3.3.2Nâng cao hơn nữa chất lượng thẩm định dự án đầu tư
3.3.3 Cho vay đầy đủ kịp thời đối với những dự án mang lại hiệu quả
kinh tế
3.3.4 Xử lý linh hoạt các tình huống trong quá trình cho vay
3.3.5 Tăng cường các biện pháp thu nợ, đảm bảo trả nợ, lãi vay ngân
hàng
3.3.6 Dự báo các rủi ro tiềm ẩn trong tín dụng trung-dài hạn và có biên
pháp phòng ngừa hữu hiệu
3.3.7 Nâng cao công nghệ ngân hàng
3.4 Một số kiến nghị
KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo de 37.37.46.94.106.118,110
• 
Tâm trạng: Vui vẻ
phân lo ạ i các hình th ứ c cho vay c ủ a TCTD, ý ngh ĩ a pháp lý c ủ a vi ệ c phân lo ạ i đ ó.


A. ĐẶT VẤN ĐỀ :
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng và đóng vai
trò là một hoạt động quan trọng trong quá trình vận hành của các tổ chức tín

chuyên nghiệp cao nên chủ thể thực hiện hoạt động cho vay là các TCTD phải
được thành lập hợp pháp, có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật cụ thể là
các quy định của luật các TCTD năm 2010, bộ luật dân sự năm 2005, luật doanh
nghiệp năm 2005…vv, và chịu sự giám sát chặt trẽ của ngân hàng nhà nước
(NHNN).
- Thứ hai là: đối tượng cấp tín dụng trong hoạt động cho vay là vốn (tiền tệ).
Khác với hoạt động cho thuê tài chính, đối tượng cấp tín dụng là tài sản; đối với
hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá, đối tượng cấp tín dụng
là giá trị của các giấy tờ có giá thì đối tượng của hoạt động cho vay luôn luôn là
vốn (tiền tệ). Vốn ở đây có thể là đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ. Trong hoạt
động cho vay bằng ngoại tệ, tổ chức tín dụng cần đáp ứng thêm một số yêu cầu
khác của pháp luật.
- Thứ ba: thời hạn trong hoạt động cho vay rất đa dang, có thể là ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn. Trong hoạt động cho vay, mục đích của TCTD là cấp cho
bên đi vay một khoản tiền để họ sử dụng vào hoạt động sản suất kinh doanh
hoặc tiêu dùng. Yếu tố mà tổ chức tín dụng xem xét để quyết định cho vay
chính là tính hiệu quả của việc sử dụng tiền vay và căn cứ vào các biện pháp
đảm bảo tiền vay. Nói cách khác, khi tiến hành cho vay TCTTD sẽ không bị
phụ thuộc vào thời hạn tối đa hay tối thiểu phải tuân thủ. Căn cứ vào nhu cầu
xin vay của bên đi vay, TCTD có thể tiến hành cho vay với nhiều thời hạn khác
nhau, thậm chí thời hạn vay có thể chỉ là một vài ngày (trong trường hợp cho
vay qua đêm). Đây chính là điểm khác biệt giữa hoạt động cho vay và các hoạt
động cấp tín dụng khác của TCTD. Cụ thể, trong hoạt động cho thuê tài chính,
thời hạn vay phụ thuộc vào thời gian khấu hao của tài sản thuê. Trong chiết
khấu giấy tờ có giá, TCTD phải căn cứ vào thời hạn thanh toán còn lại của giấy
tờ có giá để quyết định có nên mua lại hay không. Còn đối với hoạt động bao
thanh toán, thời hạn cấp tín dụng phải căn cứ vào thời gian phát sinh các khoản
phải thu của bên được cấp tín dụng.
- Thứ tư: quan hệ cho vay được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật ngân
hàng. Với bản chất là hoạt động ngân hàng nên quan hệ pháp luật về cho vay

Để đảm bảo nguyên tắc hoàn trả, pháp luật có các quy định nhằm yêu cầu
TCTD phải đánh giá khả năng của bên vay, xây dựng các phương án phòng
ngừa rủi ro cũng như giám sát khoản vay hiệu quả. Bên cạnh đó, pháp luật cũng
cho phép các bên có những thỏa thuận sửa đổi hợp đồng phù hợp như gia hạn
nợ, điều chỉnh kì hạn trả nợ để bên vay thực hiện tốt nghĩa vụ hoàn trả của
mình.
- Nguyên tắc tín nhiệm: tín nhiệm là nền tảng của tín dụng, tức là việc
chuyển giao nguồn vốn chỉ được thực hiện khi TCTD( bên cho vay) có niềm tin
vào khả năng trả nợ của bên vay. Nguyên tắc tín nhiệm sẽ đảm bảo cho TCTD
quyết định cho vay một cách chính xác và hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến
khả năng trả nợ của TCTD đối với các khoản vốn đã huy động từ nhận tiền gửi
và các hình thức huy động khác.
Để đảm bảo nguyên tắc tín nhiệm, pháp luật đã quy định bên vay phải
thỏa mãn những điều kiện nhất định mới được quyền vay vốn. Bên cạnh đó,
pháp luật cũng cho phép TCTD được quyền đánh giá về khả năng tài chính của
khách hàng rồi mới quyết định cho vay. Để có được sự tín nhiệm của TCTD,
bên vay cần chứng tỏ năng lực tài chính, khả năng sử dụng vốn vay và có những
cam kết chắc chắn về khả năng trả nợ. Để tăng them sự tín nhiệm, trong nhiều
trường hợp, các bên có thể thỏa thuận về các biện pháp bảo đảm khả năng trả nợ
như cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh.
Tuy nhiên, cơ sở của lòng tin( sự tín nhiệm) này không đơn thuần dựa vào
ý chí củ quan của người ra quyết định cho vay mà cần thiết phải có những tiêu
chí nhất định. Những tiêu chí này pháp luật cho phép TCTD được quyền quy
định trong quy chế cho vay của mình. Do đó trên thực tế có những trường hợp
chủ thể có đủ điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật nhưng TCTD vẫn
cảm thấy có yếu tố rủi ro thì vẫn có thể bị từ chối cho vay.
II. Phân loại các hình thức cho vay và ý nghĩa pháp lý của từng hình thức
phân loại:
Như ta đã biết, vấn đề phân loại cho vay của TCTD cần phải căn cứ vào
nhiều tiêu chí cơ bản khác nhau, và mỗi cách phân loại đó lại đem đến những ý

loại cho vay này bắt đầu từ lúc bỏ tiền mua hàng tồn kho và chấm dứt khi hàng
tồn kho đã tiêu thụ và thu được tiền. Phương thức cho vay đối với dự trữ hàng
tồn kho được áp dụng là phương pháp cho vay ứng trước, thời hạn cho vay gắn
liền với chu kì ngân quỹ của doanh nghiệp.
+ Cho vay vốn lưu động: Là loại cho vay nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu dự trữ
hàng tồn kho và đặc điểm gần giống cho vay mua hàng dự trữ, tuy nhiên đặc
điểm của loại hình cho vay này khác ở chỗ đối tượng cho vay là toàn bộ nhu cầu
vốn lưu động thiếu hụt, hạn mức tín dụng là cơ sở để ngân hàng cho vay và giải
ngân, và không có kì hạn cụ thể cho từng lần giải ngân mà chỉ có thời hạn cho
vay cuối cùng và các điều kiện sử dụng vố vay. Chi phí của món vay gồm có chi
phí trả lãi và chi phí ngoài lãi như phí cam kết sử dụng hạn mức. Thời hạn cho
vay tùy theo đặc điểm về chu kì sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của
từng khách hàng mà thời hạn có thể là vài ngày đến một năm
+ Cho vay dựa trên tài sản có: là loại cho vay dựa trên cơ sở số dư của các
khoản phải thu, tồn kho nguyên liệu, thành phẩm. Tài sản bảo đảm cho các
khoản vay này là các tài sản được tài trợ. Đối với các khoản phái thu, hoạt động
cho vay này được thực hiện thông qua nghiệp vụ triết khấu hoặc nghiệp vụ mua
nợ.
+ Cho vay ngắn hạn công trình xây dựng: đối với các doanh nghiệp hoạt đọng
trong lĩnh vực xây dựng, sau khi nhận được các công trình xây dựng thì cần
phải ứng vốn mua nguyên liệu, thuê thiết bị…để thực hiện thi công và khi công
trình, hạn mục công trình hoàn thành thì mới được chủ đầu tư thanh toán theo
thỏa thuận ở hợp đồng nhận thầu, vì vậy, cho vay ngắn hạn đối với các doanh
nghiệp xây dựng để đáp ứng nhu cầu vốn trong quá yrinhf thi công thì cần chú ý
các đểm sau: Việc xem xét cho vay phải chủ yếu dựa vào từng hợp đồng nhận
thầu; đối tượng cho vay là tiền thuê nhân công, thiết bị, …để thực hiện thi công
theo hợp đồng nhận thầu; kì hạn nợ được xác định dựa vào kế hoạch thi công
theo hợp đồng nhận thầu; nguồn thu nợ là tiền thanh toán của nhà đầu tư; hợp
đồng nhận thầu là cơ sở bảo đảm cho khoản tiền vay.
Ngoài ra, hoạt động cho vay ngắn hạn của TCTD còn được áp dụng đối với các

- Cho vay tuần hoàn: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cam kết chính
thức dành một hạn mức tín dụng trong thời hạn nhất định có thể từ 1 - 3 năm,
hay 5 năm, song thời hạn nợ kí kết trong hợp đồng thường ngắn, và nếu khách
hàng thực hiện tốt các điều khoản của hợp đồng tín dụng thì cam kết hạn mức sẽ
được tiếp tục.
1.3. Ý nghĩa pháp lý của việc phân loại hoạt động cho vay của TCTD theo
tiêu chí thời hạn vay:
- Đối với người làm luật thì việc phân loại các hình thức cho vay của các TCTD
theo thời hạn vay vốn là một trong các tiêu chí để quy định các biện pháp bảo
đảm rủi ro về khả năng chi trả của các TCTD và xây dựng khung lãi xuất cơ
bản cho từng hình thức một cách phù hợp.
- Đối với người đi vay thì việc phân loại các hình thức cho vay như trên với các
hình thức lãi xuất khác nhau sẽ giúp cho những người có nhu cầu vay vốn lựa
chọn được hình thức vay phù hợp nhất với mình cả về thời gian và chi phí.
- Đối với bên cho vay ( TCTD) thì phân loại dựa trên thời gian vay giúp cho
TCTD có thể chủ động hơn trong việc sử dụng nguồn vốn của mình, chọn lựa
đối tượng được vay vốn, điều chỉnh hoạt động cho vay một cách hợp lý và đem
lại hiệu quả cao nhất.
2. Phân loại hoạt động cho vay của TCTD dựa vào tiêu chí đảm bảo khả
năng hoàn trả:
Căn cứ vào tiêu chí này thì hoạt động cho vay của TCTD được chia thành cho
vay có bảo đảm bằng tài sản và cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
2.1. Cho vay có bảo đảm bằng tài sản:
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là loại cho vay mà nghĩa vụ trả nợ vay được
bên vay bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế
chấp hoặc bảo lãnh. Trong trường hợp bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ
trả nợ, TCTD có quyền xử lí tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo thỏa thuận và
phù hợp với quy định của pháp luật. Đây thực chất là hình thức bảo đảm tín
dụng, khi cho vay TCTD áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo ra
cơ sở kinh tế, pháp lí để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay.

hình thành từ vốn vay thì chỉ được áp dụng trong các trường hợp sau:
+ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho ngân hàng cho vay đối
với khách hàng và đối tượng vay.
+ Ngân hàng cho vay trung hạn và dài hạn với các dự án đầu tư phát triển sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống nếu khách hàng vay và tài sản hình thành từ
vốn vay đáp ứng được các điều kiện khách hàng vay có tín nhiệm, có khả năng
tài chính để trả nợ, có dự án đầu tư khả thi, có mức vốn tự có tham gia vào dự
án và giá trị tài sản bảo đảm tiền vay tối thiểu bằng 50% vốn đầu tư.
- Cho vay bằng hình thức bảo lãnh: bảo lãnh là việc bên thứ ba cam kết với
bên cho vay (Người nhận bảo lãnh),sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên đi vay
(Người được bảo lãnh) nếu khi đến hạn mà người được bảo lãnh không thực
hiện hoặc không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Bảo lãnh có thể chia thành
hai loại chính là:
+ Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba: là việc bên thứ ba (bên bảo lãnh) cam
kết với bên cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện
nghĩa vụ trả nợ thay cho bên đi vay, nếu đến hạn trả nợ mà bên đi vay không
thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.
+ Bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội: là biện pháp
đảm bảo tiền vay trong trường hợp cho vay khôn có bảo đảm bằng tài sản, theo
đó tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình bảo lãnh
cho bên đi vay.
2.2. Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản:
Đây là hình thức cho vay mà trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được
bảo đảm bằng các tài sản thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay hoặc của
người thứ ba. Để thực hiện cho vay theo hình thức này thì thong thường các bên
chỉ cần giao kết một hợp đồng duy nhất là hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, trong
trường hợp TCTD cho vay có bảm lãnh bằng tín chấp thì mặc dù khoản vay này
không thể xem là khoản vay có bảo đảm bằng tài sản nhưng người bảo lãnh
bằng tín chấp vẫn phải xác lập văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tín của mình
và gửi cho TCTD để khách hàng vay có thể được tổ chức tín dụng chấp nhận

doanh của mình. Cho vay kinh doanh thông thường là những khoản vay lớn, có
nhiều rủi ro nên cần được TCTD thẩm định kĩ càng để đảm bảo khả năng thu
hồi vốn. Nếu sau khi đã được TCTD giải ngân mà người vay lại sử dụng vốn
vào mục đích khác với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng ,thì bên cho vay có
quyền áp dụng các chế tài thích hợp : Đình chỉ việc sử dụng vốn vay hoặc thu
hồi vốn vay trước thời hạn…
3.2. Cho vay tiêu dùng:
Đây thực chất là việc cho vay mà trong đó các bên có thỏa thuận, cam kết với
nhau về vấn đề số tiền vay sẽ được khách hàng (bên đi vay) sử dụng vào việc
thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và tiêu dùng: Mua sắm đồ gia dụng, mua
sắm nhà của hoặc phương tiện đi lại, du học… Cho vay tiêu dùng thông thường
là các khoản vay nhỏ hơn so với các khoản vay kinh doanh, nhưng trong nhiều
trường hợp thời gian vay lại tương đối dài, nên cũng tác động đến khả năng thu
hồi nợ. Bên cạnh một số trường hợp cần tài sản bảo đảm, TCTD quyết định cho
vay tiêu dùng thường dựa nhiều vào khả năng tạo thu nhập của người vay.
3.3. Ý nghĩa pháp lý của việc phân loại hoạt động cho vay của các TCTD theo
tiêu chí mục đích sử dụng vốn vay:
- Là cơ sở quan trọng để nhà làm luật xây dựng các hạn mức cho vay đối với
từng đối tượng cần vay vốn.
- Giúp cho các TCTD đưa ra được các định hướng phát triển đúng đắn, xây
dựng được các chiến lược quảng cáo, kiểm soát khoản vay hợp lý và hiệu quả.
- Cho vay kinh doanh và cho vay tiêu dùng, thì tùy từng hình thức sẽ có mức lãi
xuất khác nhau và TCTD sẽ có những hỗ trợ đặc thù cho từng hình thức. Việc
phân loại như vậy sẽ giúp cho người cần vay vốn có thể lựa chọn được hình
thức lãi xuất thích hợp và nhận được những sự hỗ trợ cần thiết từ phía các
TCTD.
4. Phân loại theo tiêu chí mục tiêu cho vay của TCTD:
Dựa vào mục tiêu cho vay của TCTD thì có ba loại cho vay đó là: cho vay
thông thường, cho vay chính sách và cho vay đặc biệt.
4.1. Cho vay thông thường:

Là loại cho vay mà bên cho vay gồm nhiều TCTD, cùng hợp vốn để cho khách
hàng vay. Việc cho vay hợp vốn thường được áp dụng trong các trường hợp
sau:
- Nhu cầu vay vốn để thực hiện một dự án vượt quá giới hạn cho vay của một
TCTD theo quy định của pháp luật;
- Nhu cầu phân tán rủi ro của các TCTD khi quyết định cho vay;
- Khả năng nguồn vốn của một TCTD không đáp ứng nhu cầu vốn của dự án.
Trong quan hệ cho vay hợp vốn luôn có hai hợp đồng là hợp đồng đồng tài trợ
và hợp đồng tín dụng. Hợp đồng đồng tài trợ là thỏa thuận giữa các TCTD về
việc cùng cho vay đối với bên vay. Bên đồng tài trợ bao gồm hai thành viên trở
lên, mỗi thành viên là một TCTD hoặc chi nhánh của một TCTD được tổng
giám đốc (giám đốc) của TCTD ủy quyền. Những nội dung cơ bản trong hợp
đồng đồng tài trợ là số tiền đồng tài trợ, số tiền cho vay của từng TCTD, nguyên
tắc nhận tiền, hoàn trả và phân chia lãi vay, cũng như thỏa thuận về TCTD đầu
mối,…
Khi thực hiện đồng tài trợ, các thành viên tài trợ phải tự chọn ra một TCTD đầu
mối. TCTD đầu mối đó có thể là TCTD hoặc chi nhánh TCTD mà doanh nghiệp
có nhu cầu vay vốn hoặc xin bảo lãnh mở tài khoản thanh toán. Sở dĩ pháp luật
quy định như trên là nhằm tạo điều kiện cho TCTD có thể kiểm tra và giám sát
được bên vay vốn thông qua số dư trên tài khoản hoặc có thể kiểm tra trên thực
tế quá trình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp được đồng tài trợ cho vay. Theo
quy định tại quy chế đồng tài trợ của các TCTD thì mọi quan hệ tín dụng, bảo
lãnh giữa bên đồng tài trợ với bên nhận tài trợ đều thông qua TCTD đầu mối.
Quy định này nhằm mục đích xác định trách nhiệm của TCTD đầu mối trong
quan hệ đồng tài trợ.
5.3. Ý nghĩa pháp lý của việc phân loại hoạt động cho vay của TCTD theo
tiêu chí số lượng bên cho vay:
Việc phân loại hoạt động cho vay theo tiêu chí này giúp cho việc lựa chọn áp
dụng các quy định pháp luật phù hợp để giải quyết quyền lợi của các bên trong
quan hệ tín dụng được thuận lợi và nhanh chóng hơn, tiết kiệm thời gian và tiền

hình thức cho vay trong thực tế luôn có những điểm tích cực cũng như những
điểm bất hợp lý gây trở ngai nhiều cho chính các tổ chức tín dụng cũng như
người đi vay. Từ sự phân tách rõ ràng các hình thức cho vay này các nhà quản
lý kinh tế vĩ mô có thể đưa ra các quy định cụ thể điều chỉnh hoạt động tín dụng
nói chung và hoạt động cho vay nói riêng.
- Căn cứ vào các hình thức cho vay trên của TCTD mà tạo nền tảng để hình
thành nên 1 hệ thống chỉnh thể thống nhất về hoạt động cho vay của TCTD,
đồng thời từ đó mà các TCTD có thể xây dựng được chiến lược kinh doanh vi
mô và vĩ mô, cũng những ưu đãi riêng của tổ chức mình nhằm thu hút đông đảo
khách hàng, đảm bảo được lợi nhuận.
C. KẾT LUẬN:
Hoạt động cho vay của các TCTD chính là hình thức cấp tín dụng phổ
biến và quan trọng nhất hiện nay trong nền kinh tế nước ta. Việc phân loại các
hình thức cho vay này có rất nhiều tiêu chí, song việc phân biệt đó vẫn chỉ là
tương đối, mỗi loại, mỗi hình thức cho vay đều hàm chứa cả những ưu điểm và
nhược điểm cần khắc phục. Vì vậy chúng ta vẫn cần phải xây dựng và hoàn
thiện các hình thức này cả dưới góc độ pháp lý và góc độ kinh tế.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi năm 2010;

214027634 vi-VN
w s_fRtfZqcZp7p
w s_uJCQaIYapa
w s_ZJeM1PB0vr
w s_BBNqfvB0vr
Lưu
&'()*(+,
Nhấp nút "Tôi đồng ý" nghĩa là bạn đã đồng ý và chấp nhận (1) Các Điều khoản Thỏa thuận
về Sử dụng Dịch vụ Yahoo! và Qui định về Sự Riêng tư, và (2) nhận email thông báo từ
Yahoo!.
 - .(
 (*/01
123) 
• ('
o 456
o 70+
o 
<
2012
>
<
Các đi?u kho?n B? sung cho vi?
kho?n B? sung”) 1. CH? P NH? N
Hoan nghênh Quý khách đ?n v?
Southeast Asia Pte Ltd. (Đăng k
v?"). Vi?c Quý khách s? d?ng D
tháng 2
>
ản chất của kinh doanh tiền tệ chính là “Kinh doanh rủi ro”, và nợ xấu vì vậy là một phần tất yếu trong
hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, cách thức để “chung sống hòa bình với nợ xấu” có thể xem

2012 2 http://vn.360plus.
Các ngân hàng hoặc khách hàng vô
hình chung bị buộc phải nghĩ ra nhiều
chiêu thức để luồn lách, đảo nợ, dẫn
đến việc đánh giá chất lượng tín dụng
nhiều khi trở nên thiếu thực chất.
được tiếp ứng đủ thanh khoản và vốn liếng để duy trì hoạt động. Một khi nỗ lực tự thân vận động
nhằm ứng phó với nợ xấu của doanh nghiệp và ngân hàng trở nên kém hiệu quả thì sự ra tay kịp thời
và đúng liều lượng của cơ quan điều hành luôn là điều tối cần thiết nhằm duy trì sự ổn định cho nền
tảng kinh tế - xã hội. Thực tế này được phản ánh rất rõ qua cuộc giải cứu rất ngoạn mục nhưng
không kém phần mạo hiểm của FED đối với hệ thống ngân hàng Mỹ trong cuộc đại khủng hoảng
2008-2009. Gần đây là nỗ lực của ECB nhằm tiếp ứng vốn để hệ thống ngân hàng Châu âu có thể
cầm cự với khủng hoảng nợ công.
Thực trạng khó khăn hiện nay của Việt Nam
Bất luận nguyên nhân phát sinh như thế nào, nợ xấu luôn được xem như là bức tranh toàn cảnh về
trình độ phát triển và sức khỏe của toàn bộ nền kinh tế, là hàn thử biểu phản ánh sức sống của lực
lượng doanh nghiệp cũng như đo lường năng lực kiểm soát rủi ro của hệ thống ngân hàng trước
những sức ép thường xuyên, mang tính chu kỳ do tác động của tình trạng bất ổn vĩ mô.
Năm 2011, cùng với những khó khăn do tác động của lạm phát và lãi suất cao, nợ xấu trong hệ thống
ngân hàng Việt Nam đã tăng đến mức cần báo động. Số tuyệt đối nợ xấu năm 2011 theo ước tính
của NHNN vào khoảng 85 ngàn tỷ đồng. Nhưng theo một số chuyên gia am hiểu thì con số này vào
khoảng 100 ngàn tỷ đồng với lý do còn một số khoản nợ tiềm ẩn chưa được phản ánh đầy đủ trên hệ
thống sổ sách. Xung quanh tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam (< 5%), vẫn còn nhiều
quan điểm khác nhau. Một số ý kiến cho rằng tỷ lệ này có thể gấp đôi (10-12%) và chính NHNNVN
cũng thừa nhận việc đánh giá phân loại nợ ở các ngân hàng vẫn chưa theo đúng chuẩn mực thông lệ
quốc tế.
Theo quy định tại 493, khái niệm “nợ xấu” bao hàm tất cả các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3
đến nhóm 5 tùy theo cấp độ rủi ro khác nhau, theo nguyên tắc chỉ cần một món vay (trong tổng thể
nhiều món vay khác nhau) phát sinh quá hạn, hoặc được điều chỉnh kỳ hạn nợ, hoặc gia hạn nợ, thì
toàn bộ dư nợ vay của khách hàng đó phải chuyển sang nhóm nợ xấu. Trường hợp khách hàng tích

doanh nghiệp, ngân hàng, mà của cả
Chính phủ và Ngân hàng nhà nước.
Bên cạnh đó, để giải quyết vấn đề nợ xấu một cách đồng bộ và hiệu quả, thiết nghĩ cần có sự thay
đổi căn bản về quan niệm điều hành, nhanh chóng nghiên cứu ban hành những cơ chế và công cụ
phù hợp hơn nhằm thúc đẩy tiến trình xử lý nợ tại các doanh nghiệp đi vào khuôn khổ hợp pháp, hợp
lý, phù hợp với thực trạng sức khỏe của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Điều này cũng cần
thiết khi nền kinh tế Việt Nam phải đối diện với những khó khăn có thể nảy sinh trong tương lai.
Chính phủ và NHNNVN, cần tiến hành sửa đổi bổ sung quyết định 493 cho phù hợp với hoàn cảnh
mới, động viên đúng mức những nỗ lực của doanh nghiệp
và ngân hàng trong tiến trình xử lý nợ xấu. Điều quan
trọng nhất là tạo lập hành lang pháp lý để nhanh chóng tái
cơ cấu, khôi phục trạng thái lành mạnh cho những khoản
nợ xấu, nợ đóng băng sau khi đã được xử lý một cách
hợp lệ, qua đó phát huy cao hơn hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp, tránh thất thoát, lãng phí.
Cần tập trung nâng cao năng lực hoạt động cho các công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng ở các
doanh nghiệp nhằm thúc đẩy nhanh hơn tiến trình tái cấu trúc nợ và vốn. Chính phủ cần sớm trình
Quốc hội ban hành Luật bảo vệ phá sản theo mô hình của Hoa Kỳ, với quan niệm rằng thất bại trong
kinh doanh không bị coi là xấu – luật phá sản Hoa Kỳ được xây dựng theo hướng khuyến khích để
những người thất bại có được cơ hội tiếp tục theo đuổi công việc kinh doanh hợp pháp của mình.
Đồng thời cần khẩn trương hoàn thiện pháp luật, kiên quyết áp dụng những chế tài mạnh để đảm bảo
duy trì kỷ cương, kỷ luật thanh toán trong toàn bộ nền kinh tế, tránh tình trạng chiếm dụng vốn triền
miên, vô tội vạ như hiện nay, bởi chính thực trạng này đang khiến nhiều doanh nghiệp khốn khổ, mất
khả năng thanh toán, kể cả dẫn đến phá sản nhưng thực ra không phải vì trách nhiệm chủ quan của
chính họ.
,89":;5<1(=>
&5)"(&(("5"
1. Dư nợ/Tổng nguồn vốn ( % )
?@(A;5<B(=9=&C=DE AFG"*(HI
J;5<(KC=D,=D*(H=LA8&MB4N0,&H=(O


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status