Nấm ăn, nấm dược liệu – cơ chế hấp thụ dinh dưỡng và giá trị của chúng.
Mục lục
Mở đầu 2
A. Cơ chế hấp thụ dinh dưỡng của nấm 3
B. Giá trị dinh dưỡng và giá trị dược liệu của nấm ăn và nấm dược liệu .6
I. Giá trị dinh dưỡng 6
1. Protein 7
2. Acid nucleic 8
3. Lipid 8
4. Glucide và cellulose 9
5. Vitamin 9
6. Khoáng 10
II. Giá trị dược liệu 10
1. Tác dụng chống khối u 11
2. Tăng cường sức miễn dịch 12
3. Tác dụng chống virus bệnh cảm mạo 12
4. Phòng trị bệnh tim mạch 13
5. Tác dụng giải độc, bổ gan 14
6. Tác dụng bổ dạ dày 14
7. Tác dụng đối với hệ thống thần kinh trung ương 14
8. Tác dụng hạ đường huyết 15
9. Chống phóng xạ 16
10. Tác dụng khử gốc hữu cơ tự do 16
11. Tác dụng chống lão hóa 17
Kết luận 18
Phụ lục 1 19
Phụ lục 2 20
Phụ lục 3 22
Tiểu luận nấm
Nấm ăn, nấm dược liệu – cơ chế hấp thụ dinh dưỡng và giá trị của chúng.
A. Cơ chế hấp thụ dinh dưỡng của nấm
Nấm chủ yếu sống dị dưỡng, lấy thức ăn từ các nguồn hữu cơ (động vật
hoặc thực vật). Ngoại trừ niêm khuẩn thay đổi hình dạng tế bào để nuốt lấy
thức ăn (tương tự động vật), còn lại hầu hết các loài nấm đều lấy dinh dưỡng
qua màng tế bào hệ sợi (giống rễ cây thực vật).Nhiều loài nấm có hệ men
(enzyme) phân giải tương đối mạnh, giúp chúng có thể sử dụng các dạng
thức ăn phức tạp, bao gồm các đại phân tử như chất xơ (cellulose,
hemicellulose), chất đạm (protein), chất bột (amidon, polysaccharide), chất
mộc (ligin)… Với cấu trúc sợi, tơ nấm len lỏi sâu vào trong cơ chất (rơm rạ,
mạt cưa, gỗ…) rút lấy thức ăn đem nuôi toàn bộ cơ thể nấm (tần dinh dưỡng
hay tần sinh sản).
Dựa theo cách dinh dưỡng của nấm, có thể chia thành 3 nhóm:
Nhóm 1: Hoại sinh: đặc tính chung của hầu hết nấm, trong đó có nấm
trồng. Thức ăn của chúng là xác bã thực vật hoặc động vật. Nhóm nấm này
có hệ men tiêu hóa tương đối mạnh, phân giải được nhiều loại cơ chất (thức
ăn). Chúng có khả năng biến đổi những chất này thành những thành phần
đơn giản để có thể hấp thu được. Tuy nhiên cũng có những trường hợp nấm
không thể phân giải được cơ chất, và nhờ vào các vi sinh vật khác (vi khuẩn,
nấm mốc, xạ khuẩn) tiến hành trước một bước.
Nấm phục linh hoại sinh trên rễ cây thông
Tiểu luận nấm
3
Nấm ăn, nấm dược liệu – cơ chế hấp thụ dinh dưỡng và giá trị của chúng.
Nhóm 2: Ký sinh: bao gồm chủ yếu các loại nấm gây bệnh. Chúng
sống bám vào cơ thể các sinh vật khác (động vật, thực vật hoặc các loài nấm
khác). Thức ăn của chúng chính là các chất lấy từ cơ thể ký chủ, làm suy yếu
hoặc tổn thương ký chủ. Một số nấm ăn có thể sống trên cây còn tươi, nhưng
đời sống thực sự vẫn là hoại sinh, nên được xếp vào nhóm trung gian, gọi là
bán ký sinh (trường hợp nấm mộc nhĩ).
Nhóm 3: Cộng sinh: đây là nhóm nấm đặc biệt, lấy thức ăn từ cơ thể
các chất tạo năng lượng, nếu thiếu nó sẽ kìm hãm sự hấp thụ glucose, cũng
như quá trình hô hấp của nấm. Kali (K) dự phần trong sự thẩm thấu và giữ
nước của tế bào, tham gia các hoạt động trao đổi chất và biến dưỡng protein.
Magie (Mg) rất cần cho sự biến dưỡng các chất đường. Các nguyên tố vi
lượng khác, như sắt (Fe), kẽm (Zn), Mangan (Mn), Molybden (Mo), Bor
(Bo)… chỉ cần một lượng rất nhỏ, nhưng lại quan trọng cho việc hoạt hóa
các enzyme, tổng hợp các loại vitamin, hấp thu các trao đổi chất, kể cả quá
trình hình thành quả thể một cách bình thường.
Quá trình hấp thụ các chất dinh dưỡng thông qua bề mặt sợi nấm. Sợi
nấm lại rất mỏng mang nên dễ bị tác động bởi các yếu tố môi trường như
nhiệt độ, pH, ánh sáng, ảnh hưởng của các yếu tố này lại liên quan đến đặc
điểm của từng loài nấm.
Một yếu tố không thể thiếu được là nước. Nước giúp hòa tan các chất
dinh dưỡng và chuyển chúng qua màng tế bào sợi nấm. Nếu môi trường
không có nước, sợi nấm sẽ bị khô và chết. Do đó để nấm mọc tốt cần thêm
nước vào nguyên liệu nuôi trồng. Lượng nước trong nguyên liệu (độ ẩm)
không cần cao lắm (khoảng 40-60%), vì nước nhiều sẽ làm giảm khả năng
khuếch tán oxi và nấm sẽ bị yếm khí mà chết. Ngoài độ ẩm nguyên liệu còn
phải chú ý đến độ ẩm không khí. Độ ẩm này thường rất cao (80-95%), nhờ
vậy quả thể không bị mất nước và phát triển bình thường.
Tiểu luận nấm
5
Nấm ăn, nấm dược liệu – cơ chế hấp thụ dinh dưỡng và giá trị của chúng.
B. Giá trị dinh dưỡng và giá trị dược liệu của nấm ăn và nấm dược liệu
I. Giá trị dinh dưỡng:
Ngoài các đặc điểm như nhiều đạm, ít mỡ, ít calo, nấm ăn còn có các
chất có ích cho cơ thể con người như đường đa, khoáng và vitamin. Chất
đạm của nấm ăn, động vật và thực vật là ba nguồn đạm quan trọng của loài
người. Có thể nói, nấm là một loài thực phẩm thuốc.
Nấm rơm
1
60
78
58
59
0
8
7
9
11
156
381
392
345
369
Tiểu luận nấm
6
Nấm ăn, nấm dược liệu – cơ chế hấp thụ dinh dưỡng và giá trị của chúng.
1. Protein
Theo kết quả nghiên cứu mới đây của sinh hóa học và sinh vật học
phân tử thì protein và acid nucleic là cơ sở vật chất quan trọng nhất trong
quá trình hoạt động của sự sống. Hơn nữa, enzyme có tác dụng quan trọng
trong sự sống là protein, chất kích tố có tác dụng điều tiết quá trình trao đổi
chất là protein hoặc dẫn xuất của protein, vận động co duỗi của cơ chính là
do protein, máu con người do protein tạo thành, phản ứng miễn dịch của cơ
thể đều nhờ có protein mới thực hiện được.
Protein của nấm ăn cũng gồm 2 loại protein đơn thuần và protein phức
hợp. Hàm lượng protein trong 1kg nấm mỡ tương đương với 2kg thịt lợn
nạc, cao hơn 1kg thịt bò. Trong nấm ăn tươi có khoảng 4% là protein, gấp 12
lần so với rau và quả tươi.
Trứng
Nấm mỡ
Nấm hương
Nấm sò
Nấm rơm
913
527
174
321
384
295
179
87
87
187
790
446
348
306
366
616
366
261
264
375
859
420
261
390
607
Trong bào tử Linh chi, chất béo không no gồm acid oleic (55,2%), acid
linoleic (16,5%), acid palmitic (19,8%). Còn trong bào tử của nấm tùng
nhung, acid linoleic chiếm tới 78,5%, acid palmitic chiếm 13,1%.
Tiểu luận nấm
8
Nấm ăn, nấm dược liệu – cơ chế hấp thụ dinh dưỡng và giá trị của chúng.
Phospholipide trong nấm ăn khá phong phú, chủ yếu là ovo-lipide,
cholamino-lipide. Trong nấm hương, cứ mỗi gram có khoảng 128 đơn vị
quốc tế tiền vitamin D (ergosterol) mà nhu cầu của một người là 400 đơn vị
quốc tế, nghĩa là chỉ cần ăn mỗi ngày 3-4g nấm hương khô là thỏa mãn nhu
cầu vitamin D.
4. Glucid và cellulose
4.1. Glucid
Trong nấm ăn có tới 30-93% là chất glucid, nhưng gần đây, người ta
phát hiện glucid của nấm ăn không chỉ là chất dinh dưỡng mà còn là chất đa
đường (polysaccharide) và hợp chất của đa đường có tác dụng chữa bệnh,
nhất là chống khối u.
Trong nấm ăn, phần lớn đa đường do các đường đơn như glucose,
semi-lactose, xylose, arabinose hợp thành. Các chất đường đơn hexose (6C)
vừa là nguồn năng lượng vừa là thành phần đa đường.
4.2. Cellulose
Cellulose trong nấm ăn chiếm khoảng 2,5-21,5%, bình quân 8%. Các
nghiên cứu gần đây chứng tỏ, cellulose có tác dụng chống sự trầm tích của
muối trong mật và giảm hàm lượng cholesterol trong máu, nhờ đó mà phòng
được sỏi thận và huyết áp cao. Do đó thường xuyên ăn các loại nấm như
nấm hương, nấm mỡ, nấm kim châm… là rất có lợi.
5. Vitamin
Vitamin là loại hợp chất hữu cơ không thể thiếu được trong quá trình
duy trì sự sống của con người mà phần lớn là do thức ăn cung cấp. Nấm ăn
là nguồn vitamin phong phú, nhất là vitamin B1, B2, C, PP, B6, acid folic,
Nấm rơm
0,1
42,5
54,9
108,7
91,9
0,31
3,7
4,9
4,7
3,3
0,4
8,9
7,8
4,8
1,2
0
26,5
0
0
20,2
2,5
8,8
4,5
15,2
17,2
50
71
12
33
lactosan hỗn tạp. Trong nấm Vân chi (Coriollus versicolor) có chất protein-
đa đường PS-K chống ung thư đã được ứng dụng trên lâm sàng, công thức
hóa học cũng đã rõ; hiện các chất đa đường của nấm Linh chi, Trư linh, nấm
hương và hòe xuyên (Trametes robiniphila) đã được chế thành thuốc và ứng
dụng trên lâm sàng.
2. Tăng cường sức miễn dịch
Tiểu luận nấm
11
Nấm ăn, nấm dược liệu – cơ chế hấp thụ dinh dưỡng và giá trị của chúng.
2.1. Tăng cường sức miễn dịch của tế bào
Chất đa đường của nấm hương làm cho tế bào lympho T có sức miễn
dịch kém được khôi phục bình thường; chất đa đường của Vân chi kích thích
lympho T chuyển hóa thành tế bào lympho B. Dịch linh chi có thể tăng hoạt
lực của thực bào trong xoang bụng chuột bạch. Hiện nay, người ta đã dùng
đảm bào tử của nấm chế ra chất tăng cường miễn dịch nhằm tăng cường
chức năng của tế bào lympho T để chống virus, giảm sự tổn hại về sức đề
kháng của cơ thể. Nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học chứng minh tác dụng
miễn dịch của một số loài nấm như Linh chi, Vân chi, Mộc nhĩ trắng… trong
quá trình điều trị các bệnh viêm gan, viêm phế quản mãn tính và một số
bệnh tim phổi khác.
2.2. Tăng cường tác dụng miễn dịch của dịch thể
Nấm hương và Vân chi có tác dụng kích hoạt cho bổ thể. Bổ thể là một
nhóm protein huyết thanh cực kỳ phức tạp, hiện đã biết có 9 loại thành phần
(C1-C9). Ví dụ đa đường của nấm hương làm cho bổ thể C3 tách thành C3a
và C3b là tác nhân hoạt hóa tế bào nuốt khổng lồ. Vân chi, Linh chi, Trư linh
có khả năng làm kháng thể của tuyến tạng xúc tiến tăng tế bào; nấm hương,
linh chi, nấm khịa… có thể xúc tiến sự hình thành hemoprotein miễn dịch
IgG; nấm linh chi có thể xúc tiến sự hình thành hemoprotein miễn dịch IgA ;
còn mộc nhĩ trắng, vân chi, nấm hương, nấm khịa xúc tiến sự hình thành
hemoprotein miễn dịch IgM.
phòng chống xơ cứng động mạch. Mộc nhĩ đen, nấm đầu khỉ, đông trùng hạ
thảo cũng có tác dụng làm giảm hàm lượng mỡ trong máu.
4.3. Tác dụng hạ huyết áp.
Người Nhật Bản chiết xuất từ nấm rễ dài (Collybia radicata) lên men
làm chất nấm rễ dài có tác dụng hạ huyết áp. Một số nấm ăn khác có tác
Tiểu luận nấm
13
Nấm ăn, nấm dược liệu – cơ chế hấp thụ dinh dưỡng và giá trị của chúng.
dụng hạ huyết áp như: linh chi, nấm mỡ, nấm rơm, nấm kim vàng, mộc nhĩ
trắng, mộc nhĩ đen, mộc nhĩ lông…
5. Tác dụng giải độc, bổ gan
Chất đa đường của linh chi và nấm hương còn có tác dụng bổ gan rõ
rệt, khống chế có hiệu quả đối với viêm gan mãn do virus, bổ trợ cho điều trị
ung thư gan. Giang Tây, Hồ Nam đã dùng đa đường linh chi trị viêm gan dạt
hiệu quả 97-98%. Cát Lâm dùng nước chiết nấm Lưỡi cây (Ganoderma
applanatum) trị viêm gan cũng đạt kết quả. Đại học sư phạm Đông Bắc dùng
Vân chi hoang dại hái trên núi Trường Bạch chế thành “Vân chi can thái”
chữa được chứng viêm gan dạng B. Giang Tô dùng nấm trơn (Armillariella
tabescens) chế thành viên nhộng điều trị viêm túi mật, viêm gan mãn tính
hay cấp tính đều có kết quả tốt. Ngoài ra, nấm phục linh, nấm gan bò đắng
cũng có thể dùng chữa bệnh gan.
6. Tác dụng bổ dạ dày
Nấm đầu khỉ xưa được coi là “cống phẩm”, có tác dụng bổ ngũ tạng,
giúp tiêu hóa. Qua thí nghiệm thấy có tác dụng chống viêm loét dạ dày. Hiện
nay, người ta thường dùng viên nấm đầu khỉ chữa các chứng khó tiêu, khối u
đường tiêu hóa, viêm loét dạ dày, tá tràng có hiệu quả tốt. Sách “Nhật dụng
bản thảo” đời nhà Nguyễn nói đến tác dụng “bình khí, sát trùng” của nấm
bèo, nay phân tích hóa học thấy nó có nhiều acid amin, manose có tác dụng
phòng trị đối với các chứng viêm gan, loét dạ dày, tá tràng, sỏi niệu đạo và
sỏi túi mật. Phân tích quả thể nấm kim châm thấy hàm lượng acid amin rất
Nhà khoa học Nhật Bản cho rằng nấm đông trùng hạ thảo có thể kích thích
tế bào tiết ra chất pancreatin làm đường trong máu giảm đi. Chất đa đường B
(Ganoderan B), đa đường C (Ganoderan C) cũng có tác dụng giảm lượng
đường trong máu.
Tiểu luận nấm
15
Nấm ăn, nấm dược liệu – cơ chế hấp thụ dinh dưỡng và giá trị của chúng.
9. Chống phóng xạ
Người ta điều trị khối u bằng mổ và chất phóng xạ. Dùng nấm ăn có tác
dụng như chất bổ trợ sau mổ, có thể kéo dài tuổi thọ của người bệnh, nay
được ứng dụng rộng rãi.
Năm 1978, Từ Thừa Hùng và Từ Đường Phú chứng minh dùng nước
chiết mộc nhĩ trắng thí nghiệm trên chuột và trên chó đều có thể xúc tiến
khôi phục chức năng tạo máu và giảm nhẹ hiện tượng xuất huyết. Lâm Chí
Bân (1981) phát hiện, trước khi cho nhiễm xạ liều chí tử mà tiêm chất đa
đường vào dưới da có thể làm giảm tỉ lệ tử vong của chuột 39,4%. Trịnh Sĩ
Trung (1992) báo cáo, sau khi tiêm chất đa đường mộc nhĩ trắng vào xoang
bụng chuột có khối u ở cơ được 40 giây thì chiếu xạ cục bộ, thấy có tác dụng
dự phòng rõ rệt.
Năm 1985, Hứa Tường Dục báo cáo, dùng nước chiết nấm trơn tiêm
vào xoang bụng hoặc cơ bắp chuột bạch và chó có tác dụng bảo vệ rõ rệt.
Lâm Chí Bân phát hiện, trước khi cho nhiễm phóng xạ, đổ nước chiết
linh chi vào dạ dày chuột bạch, có thể làm giảm tỉ lệ chết đáng kể. Năm
1990, Lý Thụy Tường cũng chứng minh, tiêm nước chiết linh chi vào xoang
bụng chuột bạch trước khi cho nhiễm xạ sẽ có tác dụng bảo vệ nhất định.
10. Tác dụng khử gốc hữu cơ tự do
Gốc tự do là sản phẩm hoạt tính được hình thành trong quá trình trao
đổi chất của tế bào, gây phản ứng oxy hóa, làm cho nhiều loại chất béo
không no ở màng tế bào bị oxy hóa mạnh, làm cho kết cấu và chức năng của
Từ thời Minh (1590) trong sách “Bản thảo cương mục”, tác giả Lý Thờ Trân
đã viết: “Có 6 loại Linh chi xanh, đỏ, vàng, trắng, đen, tím đều có tác dụng
dược liệu tính bình, không độc, ăn nhiều lần cơ thể nhẹ đi mà không già,
sống lâu như thần tiên”. Ngày nay, trong cuộc đấu tranh sinh tử của con
người với lão hóa và bệnh tật thì tác dụng của nấm ngày càng to lớn.
Tiểu luận nấm
17
Nấm ăn, nấm dược liệu – cơ chế hấp thụ dinh dưỡng và giá trị của chúng.
KẾT LUẬN
Nấm ăn và nấm dược liệu đang có nhu cầu lớn trên thị trường tiêu dùng
nội địa và xuất khẩu.
Nấm ăn và nấm dược liệu bao gồm nhiều loại như nấm rơm, nấm sò,
nấm mỡ, mộc nhĩ, nấm hương, linh chi… là thực phẩm giàu chất dinh
dưỡng, chứa nhiều protein và acid amin, chất khoáng, vitamin và các chất
kháng sinh.Nấm được xem như là một loại “rau sạch” và “thịt sạch”, được
sử dụng ngày càng rộng rãi trong các bữa ăn của con người. Ngoài giá trị
dinh dưỡng, nấm còn có giá trị dược liệu, có tác dụng chữa một số bệnh như
bệnh tim mạch, bệnh dạ dày, tăng sức miễn dịch… Các món ăn làm từ nấm
rất thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao.
Chúng tôi hy vọng tài liệu này sẽ góp phần cung cấp thêm thông tin về
cơ chế hấp thụ dinh dưỡng cũng như các giá trị dinh dưỡng, giá trị dược liệu
của nấm ăn và nấm dược liệu.
Xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Xuân Nghiễn đã tạo điều kiện cho
chúng tôi thực hiện đề tài này. Trong quá trình thực hiện còn nhiều sai sót,
rất mong thầy và các bạn đóng góp ý kiến.
Tiểu luận nấm
18
Nấm ăn, nấm dược liệu – cơ chế hấp thụ dinh dưỡng và giá trị của chúng.
Phụ lục 1
Cách ăn nấm tươi
2. Mọc nước
Thịt lợn nạc rửa sạch, băm thật nhỏ, miến ngâm nước băm nhỏ. Mộc
nhĩ rửa sạch băm nhỏ. Hành khô bóc vỏ, rửa sạch, đập vỡ, băm nhỏ. Trộn
thịt nạc với ít giò sống, miến, mộc nhĩ, hành khô, nêm ít nước mắm, hạt tiêu,
viên thành viên, hấp chín.
Xương lợn rửa sạch, chặt nhỏ, cho vào nồi nước lạnh, đun sôi kĩ, vớt
bọt cho trong, nêm mắm muối, thêm một ít gia vị để vừa ăn. Cho nấm rơm
hay nấm mỡ vào đun sôi lại để làm nước dùng. Lấy viên thịt xếp vào bát tô,
dội nước dùng lên trên. Ăn nóng, nên rắc thêm hạt tiêu, rau mùi ở trên để
kích thích khẩu vị.
3. Gà xào nấm
Thịt gà bỏ xương, thái mỏng, ướp đường, tiêu, muối, bột đao hòa nước,
mỡ nước, hành củ tươi băm nhỏ bóp đều để ngấm. Nấm mỡ, nấm sò, nấm
rơm rửa sạch, trần qua nước sôi, dội lại nước sạch cho giòn, ướp ít nước
mắm, tiêu xay.
Tiểu luận nấm
20
Nấm ăn, nấm dược liệu – cơ chế hấp thụ dinh dưỡng và giá trị của chúng.
Đun mỡ nóng già, phi thơm hành, tỏi cho thịt gà vào xào, cho tiếp nấm,
đảo đều, thêm ít nước dùng, bột đao, cho hành tươi, đảo đều, xúc ra đĩa. Ăn
nóng, khi ăn rắc thêm tiêu, rau mùi. Món ăn ngon, mùi thơm hấp dẫn, có vị
ngọt.
4. Canh nấm
Phi thơm hành mỡ, cho thịt nạc xào săn, đổ nước vào đun sôi, nêm
mắm muối, trút nấm đã rửa sạch, miến cắt khúc đun sôi lại, nêm vừa ăn. Cho
thêm ít gan lơn thái mỏng và sau đó nêm lại. Ăn nóng, khi ăn rắc thêm hạt
tiêu, rau mùi. Món canh thơm đặc trưng của nấm, vị ngọt đậm. Ăn ngon, bổ.
5.Nấm rơm tẩm bột rán
Nấm rơm rửa sạch, chẻ nhỏ, để ráo nước. Cho bột mì vào bát, cho nước
lã đánh tan với đường cho nổi bọt, cho nấm vào trộn đều. Cho từng thìa nấm
4. Nước linh chi, ngũ vị tử, đan sâm, phục linh
Linh chi, ngũ vị tử, phục linh mỗi thứ 10g, cho vào nồi đất bỏ thêm 13g
đan sâm đổ ngập nước (3 bát nước) đun kĩ, uống ngày 1 thang. Trị tim đập
mạnh, hơi thở ngắn, mất ngủ, hay nằm mơ.
5. Nước linh chi, hoài sơn, bạch truật, chỉ xác, đẳng sâm
Linh chi, đẳng sâm, hoài sơn, bạch truật, chỉ xác, mỗi thứ 10g cho vào
nồi đất, đổ 3 bát nước. Sắc còn 1 bát, chia 3 lần, uống trong ngày. Uống liên
tục trong hàng tháng, giúp tiêu hóa tốt, bổ tì vị.
6. Bột phục linh
Nấm phục linh phơi khô, tán mịn, hòa với nước rồi đổ vào nồi sữa đang
sôi. Uống ngày lúc đói vào buổi sáng. Hoặc dùng 30g nấm, phục linh phơi
Tiểu luận nấm
22
Nấm ăn, nấm dược liệu – cơ chế hấp thụ dinh dưỡng và giá trị của chúng.
khô tán nhỏ, ngâm với 50g rượu gạo, sau một tuần dùng được. Ngày uống 2
lần mỗi lần 2 thìa cà phê.
Bài thuốc dùng cho người tì vị hư, ăn uống khó tiêu.
Bột phục linh bôi lên da mặt, vào những chỗ nám đen, sau một thời
gian sẽ hết.
7. Điều bổ ti phế
Phục linh, nhân sâm, hạt sen mõi thứ 6g trộn với thục địa, chính thảo
mỗi thứ 4g, bạch truật 12g, can khương 3 lát, đại táo 2 quả. Cho tất cả các vị
trên vào nồi đất, đổ 3 bát nước, đun nhỏ lửa đến khi còn lại 1 bát. Uống
trong ngày. Dùng cho người tiêu hóa kém, ít ngủ, tì hư, thấp trệ. Uống ít
nhất 3 thang.
8. Diêng tán
Phục linh 8g, nhân sâm 10g, bạch truật 12g, quất bì và chính thảo mỗi
thứ 4g, mộc qua 2g. Trộn đều, tán mịn, mỗi ngày uống 1 thìa cà phê. Thuốc
dùng cho trẻ con gầy yếu, ăn uống kém.
9. Sâm quýt thang