Câu 1: Anh chị hãy nêu nhận xét của mình về thế giới quan và nhân sinh quan Phật
giáo. Và cho ý kiến của mình về vấn đề tôn giáo ở địa phương ?
Phật giáo là một trong những học thuyết triết học - tôn giáo lớn nhất trên thế giới và đã tồn tại
rất lâu đời với hệ thống giáo lý rất đồ sộ. Phật giao la một ton giao được Thich Ca Mau Ni
(Shakyamuni) truyền giảng ở miền bắc Ấn Độ vao thế kỷ 6 trước cong nguyen. Phật giao la hinh thức
tổ chức giao đoan được xay dựng tren một niềm tin từ đức Phật, tức từ biển lớn tri tuệ va từ bi của
Siddbada. Do được truyền ba trong một thời gian dai ra nhiều nơi đến nhiều chủng tộc nen lịch sử
phat triển của đạo Phật kha đa dạng. Sau khi ra đời ở Ấn Độ vao thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 6 trước
Cong nguyen, Phật giao được lưu hanh rộng rai ở cac quốc gia trong khu vực A - Phi, gần đay được
truyền tới cac nước Au - Mỹ. Trong qua trinh truyền ba, đạo Phật đa kết hợp với tin ngưỡng, tập tục,
dan gian, văn hoa bản địa để hinh thanh rất nhiều tong phai va học phai, co tac động vo cung quan
trọng với đời sống xa hội va văn hoa của rất nhiều quốc gia.
Tư tưởng triết học Phật giao thể hiện tren hai phương diện thế giới quan va nhan sinh quan,cả
hai phương diện nay đều chứa đựng những tư tưởng duy vật va biện chứng chất phac.
1. Thế giới quan Phật giáo
Thế giới quan Phật giao la một thế giới quan co tinh duy vật va vo thần, đồng thời co chứa
đựng nhiều yếu tố biện chứng sau sắc. Những tư tưởng triết học Phật giao nay đượcthể hiện thong
qua 3 phạm tru cơ bản: vo nga, vo thường va duyen khởi.Tinh duy vật va vo thần thể hiện ro net nhất
ở quan niệm về tinh tự than sinh thanh,biến đổi của vạn vật, khong do sự chi phối quyết định của một
lực lượng thần linh haythượng đế tối cao nao. Trai lại vạn vật đều tuan theo tinh tất định va phổ biến
của luật nhan quả. Điều nay được quan triệt trong việc ly giải những vấn đề của cuộc sống nhan sinh
như: Hạnh phuc, đau khổ, giau ngheo, thọ, yểu…
- Phật giao cho rằng vạn vật la vo thủy chung, khong co sự vật đầu tien vi khong co nguyen
nhan đầu tien va cũng khong co sự vật cuối cung. Vạnvật, kể cả con người đều khong do thần linh
hay thượng đế sang tạo ra. Như vậy ngay từ đầu Phật giao đa đặt ra mục đich giải quyết vấn đề cơ
bản của Triết học một cach biệnchứng va duy vật. Phật giao đa gạt bỏ vai tro sang tạo thế giới của cac
“đấng tối cao” của“Thượng đế” va cho rằng bản thể của thế giới tồn tại khach quan va khong do vị
thần naosang tạo ra cả. Cai bản thể ấy chinh la sự thường hằng trong vận động của vũ trụ, la muon
ngan hinh thức của vạn vật trong vận động, no co mặt trong vạn vật nhưng no khong dừnglại ở bất kỳ
hinh thức nao. Tuy nhien, Phật giao cũng cho rằng vạn vật, kể cả con người chỉ la ảo va giả, chỉ do
“tam vo minh” sinh ra.
viễn cả.Cai nhan nhờ co cai duyen mới sinh ra được ma thanh quả. Quả lại nhờ co duyen ma thanh
nhan khac, nhan khac lại thanh quả. Quả lại nhờ co duyen ma thanh nhan khac, nhan khaclại nhờ co
duyen ma thanh quả mới Cứ thế nối nhau vo cung vo tận ma thế giới, vạn vật, muon loai, cứ sinh
sinh, hóa hóa mãi.
Phật giao đa đề cập đến vấn đề ngũ uẩn: sắc, thụ, tưởng, thanh, thức la những vấn đề co y thức
luận sau xa. Tuy đối tượng đo la tam va tinh chất la duy tam nhưng trong qua trinh ngũ uẩn chứa
đựng một qua trinh nhận thức hợp ly. Từ sự vật khanh quan (Sắc),con người cảm thụ được(Thụ), suy
nghĩ(Tưởng), rồi thực hiện (Hanh), va cuối cung la biết (Thức).Ở đay nếu đem boc cai thần bi ra ta
thấy co những hạt nhan hợp ly. Phật giao đa đưa vao những quan niem biện chứng với cac khai niệm
‘vo thường’, ‘vo nga’. Cho thấy Phật giao nhin sự vật trong sự vận động biến đổi lien tục khong co gi
la trụ lại mai, khong co ai la tồn tại mai. Tuy nhận thức đo chỉ nhin thấy cai biến đổi ma khong nhin
thấy cai ổn định tương đối. Phật giao đề cập đến mối nhan duyen đến mối quan hệ nhan quả, đến việc
xet sự vật phải từ kết quả tim ra nguyen nhan va xem kết quả nay la nguyen nhan từ kết quả khac
trong mỗi qua hệ khac.
2. Nhân sinh quan Phật giáo
Nhan sinh quan Phật giao la phần trọng tam của triết học nay. Nội dung triết học nhan sinh
của Phật giao tập trung ở bốn luận điểm (gọi la Tứ diệu đế hay con gọi la tứ chan đế hay tứ thanh đế).
Bốn luận điểm nay được Phật giao coi la bốn chan ly vĩ đại về cuộc sống nhan sinh cho bất cứ cuộc
sống nhan sinh nao thuộc đẳng cấp nao, đồng thời cũng la cơ sở của cac thuyết khac trong giao ly
Phật.
Khổ đế giải thich sự thật nơi cuộc sống nhan sinh khong co gi khac ngoai sự đau khổ, rang
buộc hệ luỵ, khong co tự do. Đo la 8 nỗi khổ trầm lam bất tận ma bất cứ ai cũng phải ganh chịu: Sinh,
Lao, Bệnh, Tử, Ai biệt Ly (yeu thương chia lia), Oan tăng hội (oan ghet nhau ma phải sống với nhau),
Sở cầu bất đắc (cai mong muốn ma khong đạt được), va Ngũ thụ uẩn (5 yếu tố vo thường nung nấu
lam khổ).
Nhân đế la những nguyen nhan tạo thanh sự khổ. Những nguyen nhan đo khong phải timđau
xa ma ở ngay trong mỗi chung ta. Do đo, Phật đưa ra ly thuyết thập nhị nhanduyen để thấy được
nguồn gốc của sự vật trong thế gian. 12 nhan duyen la sợi day lien tụcnối tiếp con người trong vong
sinh tử luan hồi đo la: 1.Vo minh; 2.Hanh; 3.Thức; 4.Danhsắc; 5.Lục nhập; 6.Xuc; 7.Thụ; 8.Ai;
9.Thủ; 10.Hữu; 11.Sinh va 12.Lao Tử. Trong 12 nhanduyen ấy thi “Vo minh” la nguyen nhan thau
8. Chinh tư duy: Sau khi co niệm khởi, con người sẽ tư duy, suy nghĩ một cach chan chinh,
lam chủ được dong tư duy.Tam nguyen tắc (hay “bất chinh đạo”) co thể thau tom vao ba điều học tập,
ren luyện lớn la: Giới - Định – Tuệ (tức la: Giữ giới luật, thực hanh thiền đinh va khai thong tri tuệ
Bat nha).
Muốn thực hiện được “ Bat chinh đạo” thi phải co phương phap để thực hiện nhằm ngăn ngừa
những điều gian ac gay thiệt hại cho minh va những người lam điều thiện co lợi ich cho minh va cho
người. Nội dung của cac phương phap đo la thực hiện “ Ngũ giới” ( năm điều răn ) va “Lục độ” (Sau
phep tu ). “Ngũ giới” gồm: Bất sat (Khong sat sinh), Bất đạo (Khong lam điều phi nghĩa), Bất dam
(Khong dam dục), Bất vọng ngữ (Khong bịa đặt, khong vu oan giao hoạ cho kẻ khac, khong noi dối),
“Lục độ” gồm: Bố thi (Đem cong sức, tai tri, của cải để giup người một cach thanh thực chứ khong
để cầu lợi hoặc ban ơn), Tri giới (Trung thanh với điều răn, kien tri tu luyện), Nhẫn nhục (Phải biết
kien nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng để lam chủ được minh), Tịnh tiến (Cố gắng nỗ lực vươn len),
Thiền định (Tư tưởng phải tập trung vao điều ngay, chinh khong để cho cai xấu cho lấp), Bat nha (Tri
tuệ thấy ro hết, hiểu thấu hết mọi chuyện tren thế gian).
Tom lại, Phật giao cũng co những hạn chế, ảnh hưởng tieu cực nhất định đến tư duy của
người Việt Nam. Phật giao chỉ thấy ca nhan con người ma khong thấy xa hội con người, chỉ thấy
cong người noi chung ma khong thấy con người của giai cấp đối khang nhau trong xa hội trước đay,
khong thừa nhận đấu tranh trong giai cấp xa hội,do đo khong thấy được nguyen nhan khổ ải của con
người, khong thấy được sự cần thiết phải chống ap bức, boc lột vi thế quan niệm từ bi bac ai trong
một số trường hợp bất lợi cho đấu tran giải phong giai cấp, chống ap bức.
Phật giao cho rằng chỉ co bằng sự kien định để thực hiện “Bat hanh đạo”, “Ngũ giới”, “Lục
độ” thi chung sinh mới co thể giải thoat minh ra khỏi nỗi khổ. Phật giao khong chủ trương giải phong
bằng cach mạng xa hội. Mặc du Phật giao len an rất gay gắt chế độ người boc lột người, chống lại chủ
nghĩa duy tam cua Balamon giao. Đo la một trong những nhược điểm đồng thời cũng la ưu điểm nửa
vời của Đạo phật. Đứng trước bể khổ của chung sinh Phật giao chủ trương cải tạo tam linh chứ khong
phải cải tạo thế giới hiện thực.
Như vậy, Phật giao nguyen thuỷ co tư tưởng vo thần, phủ nhận đấng sang tạo ( vo nga, vo tạo
giả) va co tư tưởng biện chứng ( vo thường, ly thuyết Duyen khởi ). Tuy nhien, Triết học Phật giao
cũng thể hiện tinh duy tam chủ quan khi coi thế giới hiện thực la ảo giả va do cai tam vo minh của
con người tạo ra.
Hầu hết tất cả các môn phái triết học Ấn Độ cổ đại, dù là thuộc hệ thống Bà la môn chính
thống hay thuộc hệ thống không chính thống, đều có xuất phát điểm của tư tưởng giải thoát nỗi khổ
của cuộc đời con người và điểm đạt tới của sự giải thoát là dập tắt hay diệt hết mọi dục vọng, trở về
với chân bản tính của mình, đồng nhất với thực tại tuyệt đối tối cao, vĩnh hằng hay niết bàn. Tuy
nhiên, khác với các tôn giáo khác, giáo lý, luật lệ, lễ nghi và triết lý của họ thường bị các tầng lớp
thống trị phản cách mạng lợi dụng để hạ thấp và đọa đày con người nói chung, người lao động nói
riêng xuống địa vị của những sinh vật thấp hèn; Tư tưởng Phật giáo chống đối lại những thế lực đó -
những thế lực nấp sau lưng Thượng đế để duy trì vĩnh viễn quyền lực thống trị của mình trong các xã
hội tồn tại dựa trên sự phân chia đẳng cấp. Triết thuyết Phật giáo chứng minh vạn vật đều có mâu
thuẫn nội tại của nó và đều nằm trong quá trình vận động biến đổi không ngừng. Sự biến đổi đó
không do một lực lượng siêu nhiên nào chi phối điều khiển đến mức an bài cả cuộc sống con người
mà con người không thể nhận thức được. Phật giáo khẳng định sự biến đổi ấy đều theo duyên sinh,
nhân quả.
Chính việc núp sau lưng Thượng đế của kẻ thống trị mà Phật giáo đã lấy giải thoát làm trọng
tâm cho giáo lý của mình. Đức Phật nói: “ Này các đệ tử, ta nói cho mà biết, nước ngoài khơi chỉ có
một vị mặn, đạo của ta dạy cũng chỉ có một vị là vị giải thoát”. Ngài khuyên mọi người dẹp bỏ mọi
Tham, Sân, Si và trở về với thực tại giải quyết những vấn đề nhân sinh: “Này các vị, đừng thắc mắc
rằng thế giới này là hữu hạn hay vô hạn, cõi đời này là hữu cùng hay vô cùng. Dù nó hữu hạn hay vô
hạn, hữu cùng hay vô cùng thì điều các vị phải thừa nhận trước hết vẫn là: cuộc đời đang đầy rẫy khổ
đau.”. Chính vì thế trong bốn chân lý lớn của triết lý Phật giáo - Tứ Diệu Đế - Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni đã coi khổ đế là chân lý đầu tiên.
Như một sự tổng kết về tư tưởng giải thoát của triết học - tôn giáo Ấn Độ, Đức Phật đã đưa ra
quan điểm có tính khái quát về nổi khổ rằng: “Hởi các tỳ kheo! Bây giờ đây là chân lý cao thượng về
sự khổ: Sinh là khổ, bệnh là khổ, phiền não, ưu tư là khổ, sống chung với người mình không ưa là
khổ, xa lìa những người thân yêu là khổ, mong muốn mà không được là khổ, tóm lại chính thụ ngũ
uẫn là khổ”. Vậy, chính nỗi khổ của cuộc đời thôi thúc con người vươn lên mơ ước một cõi hạnh
phúc tuyệt đối. Triết học và tôn giáo Ấn Độ nói chung, Phật giáo nói riêng không chỉ là thoát khổ
theo quan niệm thông thường, mà trên con đường hướng đến mục đích đó, nó còn đặt ra những câu
hỏi khiến con người luôn khao khát tìm kiếm như: Bản chất và ý nghĩa tối cao của cuộc đời là gì? Cái
gì là giá trị cao cả và là cứu cánh của cuộc sống con người? Những câu hỏi đó đã làm cho mọi quan
của Phật giáo. Ở đó có sự kế thừa, chắt lọc, dung hợp và cả sự hoàn thiện những mặt mạnh và cả
những mặt yếu của tất cả những quan điểm, những phương pháp, các chủ trương gíải thoát của các
trường phái triết học, tôn giáo vào thời đó.
Tư tưởng giải thoát mà Đức Phật đưa ra đã thể hiện rất sâu sắc tính chất nhân bản, nó quan
tâm đến thân phận và đời sống của mỗi con người, giúp con người thoát khỏi những nổi khổ của cuộc
đời, tìm cho họ một niềm tin trong cuộc sống, một chỗ dựa vững chắc và chỗ dựa vững chắc âý
không ở đâu xa lạ mà chính ngay trong tâm mỗi người.
Thời đại ngày nay là thời đại phát triển. Nước ta vừa trải qua mấy chục năm chiến tranh và
hàng chục năm sống dưới chế độ tập trung quan liêu bao cấp, nên đời sống còn rất nghèo nàn lạc hậu,
rất cần có sự phát triển kinh tế. Phát triển có nghĩa là có sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế, về
đời sống vật vất và văn hóa. Đảng và Nhà nước ta chỉ ra nhiệm vụ trước mắt là tiến đến làm cho dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Để đạt được điều đó, nước ta cần có những
con người tham vọng lớn, năng động, lạc quan, tin tưởng, dũng cảm mưu trí và đầy tính sáng tạo.
Nhưng những phẩm chất cần có đó của con người, phần lớn trái với giáo lý của Phật giáo, vì tham
vọng trái với cấm dục, thực hành vô dục, ly dục của nhà Phật; Lạc quan tin tưởng có phần trái với từ
bi; Dũng cảm sáng tạo trái với tinh thần nhẫn nhục chịu đựng của Đức Phật. Ngay khi nói tới một chủ
trương phát triển chăn nuôi để có nhiều thịt để xuất khẩu ra các nước khác cũng trái với giới sát của
nhà Phật Vì thế, hoằng dương thế giới quan Phật giáo trong thời đại hiện nay, rõ ràng có những trở
ngại khó có thể vượt qua. Thế nhưng, thế giới quan vô thần khoa học và nhân đạo không từ bỏ vị trí
của mình vì sự phát triển của nhân loại, vì sự phát triển toàn diện và hoàn thiện của con người, cũng
không có lý do gì mà không bổ sung những nét tích cực mà Phật giáo đã từng dẫn dắt con người gắn
bó với con người. Những trở ngại trên là do sự đối lập về thế giới quan. Trên phương diện nhân sinh
quan, nhất là lĩnh vực đạo đức, lối sống của Phật giáo có nhiều mặt, nhiều nét tương đồng mà cuộc
sống hôm nay của con người mới Xã hội Chủ nghĩa rất cần phải kế thừa và phát huy. Ảnh hưởng của
tư tưởng giải thoát ở đây là thuộc loại thứ hai, con người luôn bị trói buộc bởi quyền uy danh vọng
làm mê mờ tâm tính cần phải đoạn tuyệt nó mà được tự tại. Về lý là giải thoát khỏi sự trói buộc coi
quyền uy danh vọng là mục đích làm tâm ô nhiễm, hệ phược để được thanh thãn giữa cuộc đời, là đạt
cuộc sống không tham, không sân, không si đến với ung dung tự tại giữa thế gian - xã hội hiện đại
đầy biến động của phát triển.
Câu3: Anh chị hãy dùng các phạm trù vô ngã, vô thường, duyên để làm rõ tư tưởng của
(vật chất), thụ (cảm giac), tưởng (ấn tượng), hanh (suy ly) va thức (y thức). Theo cach phan loại
khac-“lục tại”: địa (chất khoảng), thuỷ (chất nước), hoả (nhiệt năng), phong (hơi thở), khong (khoảng
trống) va thức (y thức). Noi một cach tổngquat thi vạn vật chỉ la sự “hội hợp” của hai loại yếu tố la
vật chất “sắc” va tinh thần“danh”. Như vậy thi khong co cai gọi la “toi” (vo nga).
Cái "thân" con người tồn tại trên cõi đời này chỉ như điện và ảnh, như ảnh của điện, như
bóng chớp, hiện hữu rồi qua đi. Chữ điện ảnh đến nay vẫn được dùng để chỉ ngành nghệ thuật thứ
bảy (gọi nôm na là chớp bóng, chiếu bóng, chiếu phim). Cái "thân" con người đang hữu (có) rồi tất
yếu sẽ đến ngày trở về vô (không). Nhưng theo quan niệm của Phật giáo và theo Thiền sư Vạn Hạnh,
cái "thân" con người không phải từ hữu tuần tự đi đến vô mà là hoàn vô, trở về vô, về cõi hư vô - về
với "Tây phương cực lạc", "hạc giá vân du", "thiên thu vĩnh quyết" Muôn kiếp con người có tự cõi
vô thủy vô chung, từ quá khứ vô cùng (α) cho đến thời khắc sinh ra ở điểm A, cứ cho là thượng thọ
đến 80 tuổi, tồn tại trong 80 năm trên cõi đời yêu dấu, rồi tạ từ cuộc sống ở điểm C và lại được trở về
với cõi vị lai - vô cùng - vô chung vô thủy (α). Thế là trọn vẹn một kiếp con người.
Phạm tru “vô thường” gắn liền với phạm tru “vo nga”. Vo thường nghĩa la vạn vật biến đổi
vo cung theo chu trinh bất tận: Sinh – Trụ – Dị – Diệt…(hay: Sinh – Trụ – Hoại –Khong). Vậy thi
“co co” – “khong khong” luan hồi (banh xe quay) bất tận: “thoang co”,“thoang khong” cai con ma
chẳng con, cai mất ma chẳng mất. Bản chất sự tồn tại của thếgiới la một dong biến chuyển khong
ngừng (vo thường). Khong thể tim ra nguyen nhanđầu tien, do vậy khong co ai tạo ra thế giới va cũng
khong co gi vĩnh hằng.
Đời người hữu sinh hữu tử, có sinh tất có tử. Thế thì sau khi hân hạnh được sinh ra làm kiếp
con người, mỗi ngày ta sống đây cũng tức là đang mất đi, đang xa dần điểm A, tóc ngày một bạc
phai, mắt ngày một mờ, chân ngày một chậm. Mỗi ngày ta sống đây tức là đang thêm một ngày tiến
dần về điểm C, quĩ tháng năm dần thu hẹp, "miếng da bò" thời gian dần khép lại
Nên hiểu rằng Phật giáo và Thiền sư Vạn Hạnh thấu triệt bản chất giới hạn sự tồn tại của thân
kiếp con người nhưng tuyệt nhiên không quan niệm cuộc đời là hư vô, hư ảo, vô nghĩa. Trong thực
chất, việc Thiền sư nhấn mạnh sự thật Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô (Vạn thứ cây mùa xuân tốt
tươi, mùa thu khô héo) chính là nhằm chỉ rõ chân lý và qui luật tồn tại của thế giới hữu hình muôn
kiếp chúng sinh. Đời người có những tháng năm tuổi trẻ thì rồi sẽ đến ngày già nua, da mồi tóc bạc.
Từ cuối chặng đường đời, chính Nguyễn Trãi cũng từng tiếc nuối "Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu
niên" và nhắc nhở kẻ hậu sinh: "Biên xanh nỡ phụ cười đầu bạc - Đầu bạc xưa rày có thuở xanh"
vậy? Thì chính Thiền sư Vạn Hạnh đã tổng kết, chỉ rõ cái kết cục tất yếu để mỗi con người an nhiên
hơn trước mọi sự thịnh suy trong hôm nay để đến ngày mai không bao giờ phải ân hận, tiếc nuối.
Theo Thiền sư Vạn Hạnh, khi còn có tấm thân và được làm một bóng chớp, làm một giọt
sương treo trên đầu ngọn cỏ giữa cõi đời này, con người cần phải biết quí từng phút từng giây. Thời
gian rồi sẽ qua đi, đối diện với mọi lẽ thịnh suy, con người càng cần biết làm chủ chính mình, đạt đến
"nhậm vận", an nhiên tự tại trước mọi thăng trầm thế sự. Sống một ngày là lãi một ngày. Sống một
ngày là thêm niềm vui và hạnh phúc. Có thể đó là thông điệp Thiền sư Vạn Hạnh gửi đến mọi chúng
sinh trên cõi đời này
Câu 4: Anh chị hãy làm rõ triết lý nhân sinh của lão Tử là vô vi và ý nghĩa của nó đối
với đời sống hiện nay ?
Quan điểm "vô vi" của Lão Tử xét cho cùng là những vấn đề đạo đức, nhân sinh và chính trị
xã hội. Mặc dù Lão Tử đề cao mặt tự nhiên của con người, phủ nhận mặt xã hội, nhưng quan điểm
"vô vi" của Lão Tử vẫn biểu hiện sâu sắc nghệ thuật sống, thái độ ứng xử của con người, phương
pháp trị nước của vua chúa hay bộ máy nhà nước, và đây cũng chính là chỗ tập trung giá trị hệ thống
triết học của ông.
Tư tưởng vô vi với tự nhiên
Trong Đạo Đức kinh Lão Tử viết: “vạn vật trong trời đất sanh từ có (hữu), (hữu) có sanh từ
không (vô). Hữu vô đều từ thiên đạo”
"Vô vi" là một khái niệm triết học đạo đức của người Trung Hoa cổ đại. Đó là phương pháp
sống tự nhiên, mộc mạc, thuần phác, không bị cưỡng chế, gò ép. Khái niệm "vô vi" ở Lão Tử cũng
xuất phát từ ý nghĩa này, nhưng cốt lõi thực sự của nó là nghệ thuật sống của con người trong sự hoà
nhập với tự nhiên. Thuận theo bản tính tự nhiên của con người. "Vô vi" trong "Đạo Đức kinh" có ba ý
nghĩa chính : Một là vạn vật đều có bản tính tự nhiên của mình, chúng tồn tại, vận động, biến hoá
theo lẽ tự nhiên, không cần biết đến ý nghĩa, mục đích của bản thân chúng, ví dụ như cá, bản tính tự
nhiên của nó là lội dưới nước, chim là bay trên trời. Nghĩa là sống với cái vốn có tự nhiên, không can
thiệp vào quá trình vận hành của các vật khác, biết chấp nhận và thích ứng với mọi hoàn cảnh, môi
trường. Từ đó Lão Tử phản đối trường phái hữu vi, cho rằng hành vi của họ chỉ làm xáo trộn trật tự,
điều hoà tự nhiên của tạo hoá.
Câu chuyện đầy ẩn dụ thời Tống về ba người nếm dấm cắt nghĩa rất rõ quan điểm vô vi của
Lão Tử. Một hôm, Phật Thích ca, Khổng Tử và Lão Tử gặp nhau trước một vại dấm tượng trưng cho
rất ưu tư về vấn đề quốc trị. Ông thấy là “dân đói vì người trên lấy thuế nhiều cho nên dân đói, dân
khó trị vì người trên theo hữu vi cho nên dân khó trị,” “thiên hạ nhiều kiêng kỵ thì dân càng nghèo;
dân nhiều lợi khí thì quốc gia thêm mờ tối, người càng nhiều xảo thuật thì vật kỳ lạ càng xuất hiện,
pháp luật càng sáng tỏ thì trộm cướp càng nhiều.” Và vì nhận xét như vậy cho nên Lão Tử chủ trương
rằng người lãnh đạo quốc gia phải áp dụng sách lược vô vi để trở về (phản phục) với đạo hay cái gốc
tự nhiên ban đầu thì mới có thể an bang tế thế.
“Phản phục (trở về) là cái động của đạo. “Động mà không động, không động mà động”, yếu
mềm là cái dụng của đạo. Ông cho rằng với đường lối vô vi: lo cho dân no ấm, mạnh khỏe và dạy cho
dân sống tự nhiên hợp với môi trường chung quanh, không suy nghĩ hay thèm thuồng mỹ vật. Một
khi dân được ấm no, không bệnh tật và không ham chuộng của quý vật lạ cũng như không có nhu cầu
khoe tài hay ganh đua để được lãnh tụ yêu mến thì dân đã thấm nhuần tinh thần vô vi (không làm); và
khi đã theo vô vi rồi thì dẫu có kẻ tài trí, tham lam xách động nhân dân nổi loạn thì họ cũng không
làm (vô vi). Như vậy, nếu muốn lòng dân không loạn thì người lãnh tựu của quốc gia phải biết lo cho
dân, không đặc ra sưu cao thế nặng, không bóc lột.
Lãnh tụ quốc gia phải biết thương dân, không thể chỉ đặt ra luật lệ và đợi dân làm sai rồi hành
hạ, giam cầm, xử trảm. Lãnh tụ quốc gia có nhiệm vụ chỉ bảo nhân dân hướng thiện theo đạo chứ
không thể đem cái chết ra hăm dọa nhân dân. Tương tự như con thú khi bị dồn vào chân tường thì cắn
lại, nhân dân khi bị bóc lột, khổ sở hết mức thì hết sợ chết; mà khi nhân dân hết sợ chết thì sự dọa nạt
của lãnh tụ trở nên vô dụng. Kẻ nào dùng bạo lực để trị quốc thì “hiếm khi không bị thương ở tay”.
Thương dân thì phải lo cho dân no ấm, tránh sưu thuế cao và không ép buộc dân phục dịch. Nếu kẻ ở
trên sống xa xỉ, thâu sưu thuế cao mà còn bắt dân phục dịch thì nhân dân chỉ có thể chịu đựng đến
một mức độ nào đó rồi trở nên loạn bởi vì họ không còn sợ chết nữa. “Thánh nhân vi phúc, bất vi
mục” (Thánh nhân vì cái bụng mà không vì con mắt). Lãnh tụ quốc gia không nên đam mê cái bề
ngoài xa xỉ mà ngược lại phải biết thương dân, lo cho dân no bụng và tránh những hành động ép dân
vào cái thế khinh tử.
"Không chuộng hiền khiến dân không tránh, không trọng vật khiến dân không trộm cướp,
không thấy vật đáng ham khiến lòng dân khỏi loạn. Cho nên lối trị dân như vậy, thường khiến cho
lòng dân trống, bụng no nhược trĩ, xương cứng cáp, thường khiến cho dân không biết, không muốn"
"Thánh nhân coi toàn dân như trẻ sơ sinh". Vì trẻ nhỏ vốn sống hồn nhiên, không có ham muốn, dục
vọng, chưa xa cái đức tự nhiên, vô vi. Lão Tử nói : "Không xa đức trở lại thời kì trẻ thơ". Hơn thế,
xa nơi sinh trưởng, không có lòng tham để tranh giành quyền lợi. Con người không tranh giành quyền
lợi thì thiên hạ không có chiến tranh cho nên quốc gia dẫu có xe cộ, thuyền bè, binh giáp cũng không
dùng đến. Khi người dân có đời sống thái hòa gần gũi với thiên nhiên thì lãnh tụ quốc gia có thể “giũ
áo, chắp tay, không làm (vô vi)” mà thiên hạ cũng được thái bình.
Tư tưởng của Lão Tử về "Đạo" cũng như phép biện chứng và chủ nghĩa "vô vi" là rất sâu sắc
và độc đáo. Với trình độ tư duy lí luận cao, những quan điểm ấy của Lão Tử đã đóng góp đáng kể vào
sự phát triển tư tưởng triết học phương Đông. Trong cái "lờ mờ", "hỗn độn" và gợi mở, Lão Tử đã
làm cho người đời sau kinh ngạc, thán phục trước sức mạnh của tư duy trừu tượng. Tuy nhiên Lão
Tử, mặc dù được đời sau tôn vinh là Thái Thượng Lão Quân, vẫn không thoát khỏi sự hạn chế, bởi
điều kiện lịch sử khi giải quyết những vấn đề về bản thể luận, nhận thức luận hay phép biện chứng.
Nhưng dù sao, về phương diện lịch sử, chúng ta cũng phải nghiêng mình trước di sản tài hoa và sắc
sảo của ông.
Ý nghĩa
Khái niệm vô vi trong Đạo Đức kinh thường được hiểu lầm là không nên làm gì cả, nhưng
thật ra Lão Tử khuyên rằng làm mà như không làm, và không làm những điều không nên làm. Ông
cũng viết rằng nước tuy mềm mại uyển chuyển nhưng có thể chảy đến bất cứ nơi nào, và với một
khối lượng lớn thì có thể làm lở cả đất đá. Như vậy vô vi có thể ví von với cách hành xử của nước.
Tư tưởng “ vô vi” của Lão Tử luôn phát triển, góp phần giáo dục nhân sinh quan cho từng cá
nhân, luôn tự răn mình phải làm người tốt, không để ảo ảnh hữu vi lôi kéo cám dỗ, khuyên “tri nhân
giả trí, tự tri giả minh”, nghĩa là biết người khác chỉ mới là trí, nhưng tự biết mình thì mới là sáng.
Như vậy ông chú trọng đến việc tự chinh phục bản thân hơn là chinh phục kẻ khác. Nên bằng lòng
với cái mình có, “tri túc chi túc hà thời túc, tri nhàn chi nhàn hà thời nhàn”, nghĩa là biết đủ thì đủ và
lúc nào cũng đầy đủ cả, biết nhàn thì nhàn và lúc nào cũng nhàn cả.
Một đặc tính căn bản của sách lược vô vi của Lão Tử là tiết kiệm, không phí sức, phí công thi
triển tài năng, mà ngược lại thì tằn tiện trong mọi trường hợp để bồi bổ, nuôi dưỡng ngay cả trong lúc
phải thi thố tài năng. Sự sung mãn, dồi dào đến từ nỗ lực tiết kiệm lâu dài sẽ đem đến thắng lợi.
Trong hoạt động, nhận thức con người cần phải tôn trọng các mối quan hệ vốn có của nó.
Cái đúng của Vô Vi là mọi người luôn thuận theo quy luật, xã hội sẽ được thái bình. Làm trái quy luật
sẽ bị ổn hại. Đó là về xã hội còn về con người:
" Người thông minh không cậy vào chức vụ của mình để hành sự, người dũng không lợi dụn
chủ yếu đi tìm phương pháp nhận thQc mới để khắc phục triệt để phương pháp kinh viện giáo điều,
nhRm xây dựng một triết học và một khoa học mới có liên hệ mật thiết với nhau, hướng đến xây dựng tri
thQc.
Các nhà triết học thời kì này đều thừa nhận chân lý khách quan. Trong học thuyết về các
“ngẫu tượng”, Bacon phê phán uy quyền tư tưởng như trở lực đối với sự phát triển tri thức khoa học,
và khẳng định rằng “ chân lý - đứa con của thời gian, chứ không phải của uy quyền”. Trong trường
hợp này, thời gian trở thành sự thẩm định tính đúng đắn của tri thức. Descartes thì nhấn mạnh sự cần
thiết xác lập phương pháp khoa học, giúp con người tránh khỏi những sai lầm ngộ nhận, rơi vào tình
trạng mất phương hướng hoặc thiếu tự chủ trong đánh giá vấn đề. “Để tìm kiếm chân lý về sự vật cần
phải có phương pháp” - Descartes nhấn mạnh như vậy.
Điểm tương đồng tiếp theo gắn với tinh thần hoài nghi và phê phán đối với tri thức kinh việc
trung cổ và chủ nghĩa giáo điều trong khoa học , đề cao vai trò của “ánh sáng tự nhiên của trí tuệ con
người”, thứ ánh sáng mà nhờ nó chủ nghĩa phổ quát Kytô giáo bị loại trừ dần, thay thế nó là nhận
thức luận khoa học, giúp con người phá vỡ các rào cản, các “vùng cấm” đối với tri thức.
Tuy nhiên về lý luận nhận thức; cụ thể, ở cách hiểu về nguồn gốc và bản chất của tri thức,
về phương pháp nhận thức lại có những điểm khác biệt rõ rệt.
Ph. Bê cơn, T. Hôpxơ, J. Lốccơ là những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm cho rằng nguồn
gốc duy nhất của tri thức là kinh nghiệm. Kinh nghiệm liên quan đến cảm tính, cảm giác, tri giác,
biểu tượng. Nội dung của mọi tri thức con người nói cho cùng đều quy về kinh nghiệm. Phương châm
của những người này là "không có gì trong nhận thức mà trước đó không do cảm giác thu
nhận".Trong tâm hồn và lý tính của con người không hề có những tri thức, biểu tượng hoặc ý niệm
nào bẩm sinh. Tâm hồn, trí tuệ của con người từ đầu vốn thuần khiết, như cái bảng trắng, nhưng khi
có tri giác, cảm giác thì những sự kiện đó đã "viết lên bảng những bức thư của mình". Do cảm giác có
thể đánh lừa, chúng ta kiểm tra chúng bằng thực nghiệm, qua đó chỉnh lý lại các cơ quan cảm tính của
mình.
Becon cho rằng: những sai lầm về mặt nhận thức (ông ta gọi là Iđôla) nó có nguyên nhân chủ
quan và nguyên nhân khách quan. Vì vậy nó sẽ dẫn đến những sai lầm về mặt nhận thức, bởi thế khi
loại bỏ được những Iđôla này thì cũng là quá trình đi khắc phục hoàn thiện nhân cách của con người.
Becon đã chỉ ra 4 Iđola làm ảnh hưởng, cản trở quá trình nhận thức của con người đó là:
- Iđôla loài (loài là loài người). Nội dung cơ bản của Iđôla loài là con người thường xuất phát
điều và để chống giáo điều thì phải biết hoài nghi. Vì vậy hoài nghi không phải là chủ nghĩa hoài
nghi.
Lý luận về phương pháp
Vào thời cận đại vấn đề phương pháp gắn bó hữu cơ với sự tiến bộ của nhận thức khoa học.
Lôgíc học truyền thống của Arixtốt không đủ sức đáp ứng những đòi hỏi của quá trình khám phá chân
lý. Vì thế các nhà tư tưởng thế kỷ XVII tìm kiếm phương pháp tư duy thích hợp, nhằm giúp con
người thâm nhập sâu hơn vào cõi bí hiểm của tự nhiên. Bêcơn chỉ trích thời xã hội đương thời là đã
xác lập một nền quân chủ trong khoa học xoay quanh ngai vàng tri thức của Arixtốt. Ông phê phán
tam đoạn luận cùng phương pháp quy nạp đơn giản, xây dựng phương pháp quy nạp khoa học, đề cao
vai trò của khoa học thực nghiệm, khẳng định “chân lý là đứa con của thời gian, chứ không phải của
uy quyền”.
Đềcát trong tác phẩm “Những quy tắc hướng dẫn lý trí” nhấn mạnh sự cần thiết giải phóng lý
trí ra khỏi nhận thức mơ hồ. Phương pháp luận của Đềcáctơ đề cao tri thức xác thực và dựa vào toán
học “phổ quát” để nêu ra những quy tắc quan trọng nhất của tư duy.
Cuộc luận chiến giữa các nhà triết học xung quanh việc tìm cơ sở của phương pháp mới chính
là cuộc luận chiến giữa chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý thời cận đại.
Theo chủ nghĩa kinh nghiệm tri thức cần phải đi từ cái cụ thể, cái kinh nghiệm (thực nghiệm)
đến những khái quát và đưa ra lý thuyết. Đó là phương pháp quy nạp của sự vận động trí tuệ đồng
hành với thực nghiệm và nó chính là phương pháp chính xác trong triết học và khoa học.
Theo chủ nghĩa duy lý phải đi từ cái chung đến cái cụ thể, khi phát triển những tư tưởng có
sẵn trong đầu ấy, con người có thể thu được tri thức chính xác về thế giới. Dù những bằng chứng về
thế giới là do chúng ta thu được từ cảm giác, vì vậy cả kinh nghiệm và thực nghiệm đều là những cái
cấu thành tri thức về thế giới, song cần phải tìm cơ sở của phương pháp chính xác trong trí tuệ. Tư
duy đều dựa trên trực giác và diễn dịch. Tư duy xuất hiện trước cảm giác và không phụ thuộc vào
cảm giác, song tư duy lại phải đi kèm với cảm giác. Phương pháp chính xác của mọi khoa học và triết
học đều giống phương pháp toán học.
Trong thực tế, chủ nghĩa duy lý và phương pháp tương tự của nó luôn chiếm ưu thế, nó được
sử dụng rộng rãi. Mọi sự "phân tích", "chia nhỏ", sự vật hiện tượng trong nghiên cứu đã đem lại hiệu
quả rất lớn, nhất là trong toán học, trong cơ học, nhưng chỉ được xem là cơ sở của tri thức khoa học.
Khuynh hướng duy lý trong triết học cận đại với phương châm thế tục hoá đầy đủ khoa học, khẳng
Thời kỳ trung cổ ở Tây Âu được đánh dấu bằng thời điểm sụp đổ của tây đế quốc La Mã năm
476 và kết thúc khi xuất hiện các hình thức ban đầu của chủ nghĩa tư bản (thế kỷ XV). Một loạt nhà
nước phong kiến vốn là các tỉnh thành của đế quốc La Mã đã hình thành như Anh, Pháp, Ý, Tây Ban
Nha, Đức… Quá trình hình thành chế độ phong kiến ở Tây Âu được biểu hiện ở ba mặt chủ yếu: sự
lãnh địa hoá toàn bộ ruộng đất trong xã hội, quá trình nông nô hoá giai cấp nông dân và trang viên
hoá nền kinh tế.
Từ thế kỷ V đến XI, nền kinh tế Tây âu là nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp. Sản phẩm làm
ra chỉ đủ cung cấp cho công xã và thái ấp của giai cấp địa chủ phong kiến. Công xã và thái ấp là
những tổ chức kinh tế khép kín. Sự hình thành vô số công xã, thái ấp phong kiến thời kỳ này đã tạo
nên chế độ phong kiến cát cứ, phân quyền. Xã hội có hai giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân.
Quyền chiếm hữu tư liệu sản xuất, tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm thuộc về giai cấp địa chủ.
Mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp địa chủ và nông dân hết sức sâu sắc, cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp
này ngày càng diễn ra gay gắt. Do hoàn cảnh kinh tế - xã hội như vậy, tầng lớp nghèo khổ của xã hội
chiếm đa số đã phải cầu đến đấng thiêng liêng che chở, họ theo đạo, đọc kinh và vào nhà tu nương
tựa. Tôn giáo, đặc biệt là đạo Cơ đốc phát triển mạnh. Tu viện mở nhiều và quyền vị của Giáo hoàng
rất lớn.
Qua những đặc điểm kinh tế - xã hội, chúng ta có thể nhận ra rằng nhà thờ đạo Kito là một tổ
chức tập quyền hùng mạnh, thống trị châu Âu cả về tinh thần và chính trị. Trong xã hội đó, khoa học
và triết học không thể tìm cho mình một con đường đi độc lập, việc nghiên cứu khoa học và triết học
chủ yếu tập trung trong các tu viện và trường học của nhà thờ . Do đó, triết học trung cổ Tây Âu còn
được gọi là “triết học Kytô giáo” – triết học tôn giáo. Tên gọi “triết học Kytô giáo” đã cho thấy liên
minh giữa triết học và tôn giáo, sự chi phối của tôn giáo đối với tư duy triết học. Triết học Kytô giáo,
do đó, là triết học chịu sự chi phối của tư tưởng Kytô giáo, là công cụ của thần học Kytô giáo, giải
quyết các vấn đề triết học theo các chuẩn mực của nó. Tư tưởng Kytô giáo chi phối toàn bộ diện mạo
tinh thần xã hội, trong đó có triết học. Sự độc tôn này thể hiện trong thái độ đối với di sản cổ đại. Nhà
thờ chỉ cho phép truyền bá những tư tưởng phù hợp hoặc gần với hệ thống nhất thần và đạo đức Kitô
giáo như học thuyết duy tâm của Socrate, Platon, nhị nguyên luận duy tâm của Aristote, chủ nghĩa
khắc kỷ, trường phái Platon… Một khi đa thần giáo bị bài xích thì tinh thần đa nguyên triết lý cũng
không còn, vì theo quan điểm của các Giáo phụ tinh thần ấy gây chia rẽ con người và bất ổn xã hội.
Khát vọng khám phá cái mới bị thay bằng sự tuân phục “Lời thiêng”. Là “người phụng sự trung
cần đi trước nhận thức. Niềm tin giúp con người hiểu biết sâu sắc hơn; không có niềm tin không đi
đến tri thức một cách vững chắc.
Thuyết nhân bản và đạo đức học: Con người là khâu trung gian đặc thù giữa vương quốc
tinh thần và vương quốc tự nhiên. Cuộc đấu tranh, sự giằng co giữa cái thiện và cái ác, giữa phần
“thần” và phần “thú” trong con người là một quá trình gắn với tồn tại trần gian của con người. Các
khái niệm “nguyên tội tổ tông”, “chuộc lỗi”, “cứu rỗi” và “phục sinh” thường được nhắc đến trong
đạo đức học Kytô giáo, nhằm nhắc nhở con người luôn biết tự kiểm điểm về những hành vi của mình,
vươn đến cái thiện. Đối với con người trung cổ chết không phải là sự kết thúc hoàn toàn, mà chỉ là sự
chấm dứt một cuộc sống (cõi trần), chờ phán xử để đón nhận cuộc sống khác ở Cõi vĩnh hằng.
Ôguýtxtanh cho rằng, trên trần thế, tức là nơi con người, loài người đang sống, vương quốc
của điều ác là nhà nước, vương quốc của Thượng đế là nhà thờ. Ôguýtxtanh là người luôn bảo vệ sự
bất bình đẳng xã hội và cho rằng Thượng đế ban thưởng cho người này được sướng và bắt người kia
phải khổ. Người nghèo chỉ nên yêu cái không lấy được, không nên yêu của cải, chỉ nên yêu Thượng
đế, vì cuộc sống những năm tháng ở trần gian là tạm bợ là quỷ sứ, còn "thiên đàng" mới là hạnh phúc.
Đacanh không chỉ đề cao sự thống trị của Nhà thờ đối với xã hội mà còn kịch liệt chống lại sự
bình đẳng xã hội. Theo ông, xã hội trần thế chỉ là sự chuẩn bị cho cuộc sống ở thế giới bên kia. Giáo
hoàng là Đại diện của Thượng đế ở trần gian. Nhà thờ phải là Chính quyền tối cao đứng trên chính
quyền Nhà nước của các quốc vương. Quốc vương có nghĩa vụ thực hiện yêu cầu của Nhà thờ trừng
phạt không thương tiếc kẻ tà đạo. Ông coi xuyên tạc tôn giáo là tội rất lớn, lớn hơn cả tội làm tiền giả; vì
đồng tiền chỉ để thỏa mãn nhu cầu đời sống tạm thời, còn xuyên tạc tôn giáo sẽ làm mất đi cuộc sống
vĩnh hằng sau khi chết. Nếu quốc vương buộc những kẻ làm tiền giả vào tội chết là đúng, thì treo cổ
những kẻ tà đạo là việc làm còn đúng hơn…
Tômát Đacanh ca ngợi chế độ bất bình đẳng và trật tự đẳng cấp trong xã hội. ông cho rằng
chính quyền của vua chúa là do thượng đế sáng tạo ra. Dân phải phục tùng vua, vua phải phục tùng
Giáo hoàng La Mã. Chính quyền quản lý thân thể, Giáo hội quản lý phần hồn. Cao hơn thân thể là
linh hồn, cao hơn quyền lực nhà nước là Giáo hội - đại diện thiêng liêng của Thượng đế trên trần thế
Triết học duy lý chỉ đóng vai trò “người phiên dịch” những hình ảnh, biểu tượng của Kinh
thánh ra ngôn ngữ logic và những khái niệm trừu tượng.
Như vậy đặc điểm cơ bản của triết học trung cổ Kytô giáo là sự liên minh của nó với thần học
và chịu sự chi phối của thần học thông qua chú giải, chứng minh cho Kinh Thánh như chân lý duy
sẽ thay thế nó bao giờ cũng có một thời kỳ quá độ. Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử
phát triển và thay thế nhau của các HTKTXH. Song, không phải HTKTXH này kết thúc hoàn toàn rồi
HTKTXH tiếp sau mới ra đời. Giữa HTKTXH cũ bị thay thế và HTKTXH mới sẽ thay thế nó bao giờ
cũng có một giai đoạn chuyển tiếp, một TKQĐ. Xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa với giai đoạn
đầu là chủ nghĩa xã hội, một chế độ xã hội mới hoàn toàn về chất so với các chế độ xã hội trước đó lại
càng đòi hỏi phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, đầy khó khăn, thử thách, khó tránh khỏi những
va vấp, đổ vỡ tạm thời. Trong “Phê phán Cương lĩnh Gô-ta”, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã chỉ
rõ “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội
nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị ”
C.Mác và Ph.Ăngghen đã vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội để phân tích một xã hội
hiện thực là xã hội tư bản. Hai ông đã tìm ra quy luật phát sinh, phát triển và diệt vong của nó, đồng
thời dự báo về sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn - hình thái cộng sản chủ nghĩa - mà
giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội.
C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá cao vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản trong việc phát triển
lực lượng sản xuất tạo ra nền đại công nghiệp cơ khí và gắn liền với nó là giai cấp vô sản cách mạng.
Đó là lực lượng sản xuất có tính chất xã hội. Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì nền đại công nghiệp
và giai cấp vô sản càng phát triển. Chính sự ra đời của nền đại công nghiệp đã quyết định thắng lợi
của chủ nghĩa tư bản đối với xã hội phong kiến, thì đến lượt nó, sự phát triển của nền đại công nghiệp
làm cho nền sản xuất có tính chất xã hội lại mâu thuẫn với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa. Sự phát triết của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội đòi hỏi phải "thủ tiêu mâu thuẫn ấy",
phải "tự giải thoát khỏi cái tính chất tư bản của chúng, đến chỗ thực tế thừa nhận tính chất của chúng
là những lực lượng sản xuất xã hội". Điều đó có nghĩa là, phải xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa, xác lập chế độ sở hữu có tính chất xã hội - chế độ công hữu. Và do đó, một xã hội mới
ra đời thay thế chủ nghĩa tư bản - đó là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Sự ra đời chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản không phải theo ý muốn chủ quan, mà dựa
trên những tiền đề vật chất do chủ nghĩa tư bản tạo ra, và là kết quả của việc giải quyết các mâu thuẫn
vốn có trong lòng xã hội tư bản. Do đó, nó phải vừa kế thừa, phát triển các thành tựu văn minh đạt
được trong lòng xã hội tư bản, vừa xóa bỏ tính chất tư bản của nó; giải phóng con người khỏi áp bức
bóc lột, mang lại quyền tự do, bình đẳng và các giá trị đích thực của con người.
Để đi đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, tất yếu phải thông qua cách mạng vô sản.
nặng nề. Trong điều kiện đó, V.I.Lênin đã phát triển sáng tạo lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội. Ông đã chỉ ra hai con đường cơ bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Con đường thứ nhất: quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội. Đây là con đường tiến lên chủ
nghĩa xã hội đối với các nước tư bản phát triển.
Con đường thứ hai: quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua nhiều khâu trung gian, nhiều bước
quá độ. Đây là con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội đối với các nước lạc hậu, kinh tế kém phát triển.
V.I.Lênin viết: "Không nghi ngờ gì nữa, ở một nước trong đó những người sản xuất - tiểu
nông chiếm tuyệt đại đa số dân cư, chỉ có thể thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa bằng một loạt
những biện pháp quá độ đặc biệt, hoàn toàn không cần thiết ở những nước tư bản phát triển trong đó
công nhân làm thuê trong công nghiệp và nông nghiệp chiếm tuyệt đại đa số dân cư… Chỉ có một
giai cấp như vậy mới có thể là chỗ dựa về mặt xã hội, kinh tế và chính trị cho sự chuyển trực tiếp lên
chủ nghĩa xã hội. Chỉ trong những nước mà giai cấp ấy đã phát triển đầy đủ, thì mới có thể trực tiếp
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội mà không cần đến những biện pháp quá độ đặc biệt có tính
chất toàn quốc Ở Nga, công nhân công nghiệp là thiểu số còn tiểu nông là tuyệt đại đa số. Trong
một nước như vậy, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thắng lợi triệt để với hai điều kiện.
Điều kiện thứ nhất là có sự ủng hộ kịp thời của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một nước hay một
số nước tiên tiến Điều kiện nữa là sự thỏa thuận giữa giai cấp vô sản đang thực hiện sự chuyên
chính của mình hoặc đang nắm chính quyền nhà nước với đại đa số nông dân". V.I.Lênin đã phân tích
một cách cụ thể tình hình kinh tế nước Nga, và chỉ ra con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều
kiện nước Nga còn lạc hậu. Ông thừa nhận kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, khuyến khích phát
triển sản xuất, thúc đẩy lưu thông hàng hóa nhằm chiến thắng tình trạng nghèo nàn của đất nước.
Trong đó, V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh lợi dụng chủ nghĩa tư bản, nhất là hướng vào chủ nghĩa tư
bản nhà nước, làm khâu trung gian để chuyển một nước tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội. V.I.Lê nin
viết: "Chủ nghĩa tư bản là xấu so với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản lại là tốt so với thời trung cổ,
với nền tiểu sản xuất, với chủ nghĩa quan liêu do tình trạng phân tán của những người tiểu sản xuất
tạo nên. Vì chúng ta chưa có điều kiện để chuyển trực tiếp từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội,
bởi vậy, trong một mức độ nào đó, chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi, nó là sản vật tự nhiên
của nền tiểu sản xuất và trao đổi; bởi vậy, chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách
hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất
và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản
Nước ta có những điều kiện khách quan bên ngoài và bên trong để quá độ lên CNXH bỏ qua
chế độ TBCN.
Điều kiện bên ngoài là sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
làm cho lực lượng sản xuất thế giới phát triển đã đạt đến trình độ cao, đã mở đầu giai đoạn mới của
quá trình xã hội hóa sản xuất, tạo ra cuộc cách mạng trong lĩnh vực kinh tế, tạo điều kiện hiện thực để
nước ta có thể tranh thủ vốn, cơ sở vật chất - kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của thế giới cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nếu chúng ta thực hiện hiệu quả phương châm đa
phương hóa, đa dạng hóa quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế. Trong điều kiện kinh tế thế giới có bước
nhảy vọt về cơ sở vật chất - kỹ thuật, xã hội loài người đòi hỏi phát triển lên một xã hội mới của nền
văn minh cao hơn - đó là nền văn minh của kinh tế tri thức. Do đó, quá độ lên CNXH là con đường
phát triển hợp quy luật khách quan. Sau CNTB nhất định phải là một chế độ xã hội tốt đẹp hơn - chế
độ XHCN. Bối cảnh, điều kiện quốc tế mới nêu trên đã tạo khả năng để Việt Nam chúng ta thực hiện
quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN.
Điều kiện bên trong là nước ta đã giành được độc lập dân tộc, có chính quyền của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Với những thắng lợi đã
giành được trong hơn 80 năm qua, đặc biệt là những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của 25
năm đổi mới, đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, bước vào nhóm nước đang
phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế
rộng rãi, có vị thế quốc tế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Đây là điều kiện tiên
quyết, quyết định con đường quá độ lên CNXH ở nước ta.
Như vậy, cả từ phương diện lý luận, cả từ phương diện thực tiễn vận động của lịch sử nhân
loại suốt thế kỷ XX, thập niên đầu thế kỷ XXI và đặc biệt từ thực tiễn lịch sử đấu tranh giải phóng,
xây dựng đất nước ở Việt Nam, việc nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa là một tất yếu khách quan, là hoàn toàn phù hợp với xu thế của thời đại, với đặc điểm lịch sử -
cụ thể của cách mạng Việt Nam, đáp ứng đúng khát vọng của nhân dân ta.
Câu 8: Anh chị hãy làm rõ mục tiêu của nước ta: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng dân chủ văn minh ?
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng, được tổng kết, đúc rút
từ sự phân tích toàn bộ lịch sử nhân loại và thực tiễn xã hội thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản, kế
thừa một cách có hệ thống những giá trị tư tưởng và thành tựu khoa học quan trọng nhất của loài
quan niệm “giàu” dưới chủ nghĩa xã hội của chúng ta ngày nay có điểm mới so với quan niệm của
C.Mác. C.Mác không nói “giàu về sở hữu tư liệu sản xuất, chỉ nói “giàu” về thu nhập, tức “giàu”
trong sở hữu tư liệu sinh hoạt. Còn trong quan niệm của chúng ta ngày nay thì dưới chủ nghĩa xã hội
rất có thể người này, nhóm người này sở hữu nhiều “cổ phiếu”, “cổ phần” hơn người kia, nhóm người
kia. Như vậy, chẳng phải có sự phân biệt giàu nghèo (tương đối) cả trong sở hữu tư liệu sản xuất đó
sao? Nhưng nguyên tắc mà C.Mác nêu lên vẫn hoàn toàn đúng: xã hội không cho phép bất cứ ai