các biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp - Pdf 13

LuËn v¨n tèt nghiÖp
CHƯƠNG I
VỐN KINH DOANH VÀ CÁC PHƯƠNG HƯỚNG BIỆN PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP
I. VỐN KINH DOANH, NGUỒN HÌNH THÀNH VỐN KINH DOANH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại vốn sản xuất kinh doanh.
Đất nước ta đã tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, chuyển
từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
Trong điều kiện đó các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ ngày càng được mở rộng
và phát triển, xuất hiện các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế khác
nhau cùng song song tồn tại cạnh tranh lẫn nhau và bình đẳng trước pháp luật
mỗi doanh nghiệp là một tế bào kinh tế, doanh nghiệp là do sản xuất kinh doanh
các hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu của thị trường và của xã hội. Trong quá trình
sản xuất kinh doanh thì mục tiêu lớn nhất của các doanh nghiệp đều là thu được
lợi nhuận tối đa và đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì các doanh
nghiệp cần phải có tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Quá
trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra các sản
phẩm lao vụ, dịch vụ.
Mỗi doanh nghiệp muốn có được các yếu tố nói trên trước hết phải có một
lượng vốn nhất định ban đầu để tiến hành mua sắm tài sản vật tư phục vụ cho
quá trình sản xuất. Như vậy vốn kinh doanh của DN là biểu hiện bằng tiền của
1
LuËn v¨n tèt nghiÖp
toàn bộ tài sản được doanh nghiệp sử dụng hợp lý và có kế hoạch vào hoạt động
kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Trong thời kỳ bao cấp phần lớn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp đều
do nhà nước cấp phát hoặc thông qua ngân hàng cho vay với lãi suất rất thấp nên

thái tiền tệ ban đầu với giá trị lớn hơn (T
/
>T) vì vậy khi một đồng vốn bị ứ đọng
(TSCĐ không cần dùng, tiền vàng cất trữ ) thì chỉ là những đồng vốn chết .mặt
khác tiền có vận động nhưng bị thất tán (T
/
<T) thì đồng vốn cũng không được
đảm bảo chu kỳ vận động tiếp theo sẽ bị ảnh hưởng.
+ Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể
phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Trong quá trình sản xuất
kinh doanh với mỗi quy mô khác nhau thì đòi hỏi phải có một lượng vốn tương
ứng để nhằm đảm bảo đầu tư mua sắm theo đúng kế hoạch đã đề ra. Nếu ứng với
một quy mô nhất định mà doanh nghiệp chỉ có một lượng vốn nhỏ hơn so với
quy mô đó thì việc đảm bảo cho đầu tư khó có thể đem lại mục tiêu mong muốn
của nhà đầu tư vì với số vốn hạn chế thì nhà đâù tư không thể mua sắm đầy đủ,
đồng bộ công nghệ, tài sản để sản xuất làm cho quá trình sản xuất kinh doanh
bị gián đoạn, đảo lộn từ đó sẽ khó đạt được mục tiêu mong muốn.
+ Vốn có giá trị về mặt thời gian điều này có nghĩa là phải xem xét yếu tố
thời gian của đồng vốn. Trong nền KTTT đều phải xem xét giá trị thời gian của
đồng vốn do ảnh hưởng sự biến động của giá cả, lạm phát nên sức mua của đồng
tiền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau.
+ Vốn phải gắn với chủ sở hữu và phải được quản lý chặt chẽ. Trong nền
KTTT không thể có những đồng vốn vô chủ, ở đâu có những đồng vốn vô chủ
thì ở đó sẽ chi tiêu lãng phí, kém hiệu quả, chỉ khi nào xác định rõ CSH thì đồng
vốn mới được chi tiêu tiết kiệm, có hiệu quả. Cũng cần phân biệt quyền sở hữu
3
LuËn v¨n tèt nghiÖp
và quyền sử dụng vốn, tuỳ theo hình thức đầu tư mà người sở hữu vốn có thể
đồng nhất với người sử dụng vốn hoặc người sở hữu tách khỏi người sử dụng
vốn, song dù trong trường hợp nào người sở hữu vốn vẫn phải được ưu tiên đảm

+ Trong mỗi chu kỳ sản xuất giá trị của VCĐ được chuyển dịch dần từng
phần khi tham gia vào quá trình sản xuất theo mức độ hao mòn của TSCĐ, giá trị
hao mòn của TSCĐ được tính chuyển vào giá tri của sản phẩm theo một chu kỳ
sản xuất và hình thành nên quỹ khấu hao TSCĐ của DN.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh VCĐ bị tách thành hai
phần.
Một phần của VCĐ là giá tri hao mòn đã được chuyển vào giã tri của sản
phẩm sản xuất ra dưới hình thái chi phí khấu hao và được tích lại sau khi sản
phẩm hàng hoá được tiêu thụ, phần tích lại đó được dùng vào tái SX giản đơn và
mở rộng toàn bộ TSCĐ nhằm duy trì năng lực sản xuất bình thường của doanh
nghiệp.
Phần thứ 2 của VCĐ chính là giá trị còn lại của TSCĐ lại giảm dần đi
tương ứng với mức suy giảm dần giá trị sử dụng của TSCĐ. Khi quá trình vận
động ngược chiều đó kết thúc thì cũng là lúc hết thời gian sử dụng của TSCĐ
còn VCĐ thì hoàn thành một vòng luân chuyển, như vậy sau nhiều chu kỳ sản
xuất thì VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
Trong các doanh nghiệp nói chung VCĐ là một bộ phận quan trọng của
vốn sản xuất kinh doanh, nhất là đối với các DN sản xuất VCĐ chiếm một tỷ
trọng lớn, đặc điểm vận động của nó lại tuân theo tính quy luật riêng nên quy mô
5
LuËn v¨n tèt nghiÖp
VCĐ, trình độ tổ chức quản lý sử dụng VCĐ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
sử dụng VKD của DN. Do đó các nhà quả lý cần chủ trọng, quan tâm đến bộ
phận VKD này.
1.1.2 Vốn lưu động của doanh nghiệp.
VLĐ của doanh nghiệp là số vốn bằng tiền được ứng ra để mua sắm
TSLĐ sản xuất, tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh của DN thực hiện được một cách thường xuyên liên tục.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài tư liệu lao động doanh
nghiệp cần phải có đối tượng lao động ĐTLĐ được biểu hiện thành hai bộ phận,

Tuy nhiên để đạt được hiệu quả cao nhất thì doanh nghiệp cần phải quản lý và sử
dụng tốt cả hai bộ phận VCĐ và VLĐ.
1.2. Nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ khi nền kinh tế của nước ta chuyến sang nền kinh tế thị trường thì khi
đó hình thành nên một thị trường vốn rất phong phú. Vì vậy, vốn kinh doanh của
doanh nghiệp có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, mỗi nguồn vốn
có ưu nhược điểm khác nhau. Do đó để giúp cho doanh nghiệp lựa chọn dễ dàng
và hiệu quả các nguồn vốn, người ta phân loại nguồn vốn dựa vào các tiên thức
khác nhau, ta đi nghiên cứu một số phân loại chủ yếu:
7
LuËn v¨n tèt nghiÖp
1.2.1 Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn. Thì vốn kinh doanh
của doanh nghiệp được chia làm hai loại là nguồn vốn dài hạn, nguồn vốn ngắn
hạn(hay nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời)
+ Nguồn vốn dài hạn ( nguồn vốn thường xuyên ) bao gồm: vốn CSH và
nguồn vay dài hạn, đây là nguồn vốn có tính chất ổn định, dài hạn mà doanh
nghiệp có thể sử dụng lâu dài, nguồn vốn này được sử dụng cho việc đầu tư mua
sắm TSCĐ và một bộ phận TSLĐ tối thiểu cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
+Nguồn vốn ngắn hạn (nguồn vốn tạm thời ) doanh nghiệp sử dụng để đáp
ứng các nhu cầu về vốn có thời hạn ngắn và có tính chất bất thường phát sinh
trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nguồn vốn này bao gồm
các khoản vay ngắn hạn và các khoản vốn chiếm dụng của khách hàng và của
nhà nước.
Cách phân loại này giúp các nhà quản lý doanh nghiệp xem xét huy động
các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh
nghiệp. Mặt khác còn giúp cho việc lập các kế hoạch tài chính, những dự định về
tổ chức nguồn vốn trong tương lai trên cơ sở xác định quy mô số lượng vốn cần
thiết, lựa chọn nguồn vốn và quy mô thích hợp cho từng nguồn vốn đó.

doanh liên kết, hợp tác với các DN khác .
9
LuËn v¨n tèt nghiÖp
(3) Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn. Thông qua việc phát hành
cổ phiếu, trái phiếu, cho phép doanh nghiệp thu hút rộng rãi số tiền nhàn rỗi
trong xã hội nhằm phục vụ mục đích huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp.
Huy động vốn bằng các hình thức huy động bên ngoài rất phong phú mỗi
hình thức có ưu nhược điểm riêng, vì vậy doanh nghiệp phải hết sức thận trọng
khi lựa chọn một trong các hình thức đó sao cho hiệu quả kinh tế mang lại là lớn
nhất với chi phí sử dụng vốn thấp nhất và khăn năng rủi ro nhỏ nhất. Với việc
huy động vốn từ bên ngoài sẽ tạo cho doanh nghiệp có cơ cấu tài chính linh hoạt
hơn nhưng nó cũng có những nhược điểm.
Ví dụ: Vay ngân hàng thì doanh nghiệp phải chịu sự giám sát của ngân
hàng trong việc sử dụng vốn vay, phải trả lại tức tiền vay, vốn vay đúng hạn.
Nếu doanh nghiệp sử dụng vốn kém hiệu quả hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh
thì nợ vay sẽ trở thành gánh nặng của doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy rõ được lợi thế đó của
mình từ đó chủ động trong công tác huy động vốn vào sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh nhiều khi nhu cầu về vốn của doanh nghiệp
rất lớn mà nguồn vốn tự có không đáp ứng được. Vì vậy, doanh nghiệp phải
năng động trong việc huy động vốn từ bên ngoài. Dù doanh nghiệp khai thác sử
dung nguồn vốn bên trong hay bên ngoài thì cũng cần phải hiểu rõ và phát huy
ưu điểm, hạn chế nhược điểm của mỗi loại nguồn vốn để đáp ứng nghiên cứu sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách tốt nhất đạt hiệu quả sử dụng cao
nhất.
10
LuËn v¨n tèt nghiÖp
II. SỰ CẦN THIẾT VÀ YÊU CẦU CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

kinh doanh. Do đặc điểm luân chuyển không ngừng của vốn : “chu kỳ nối tiếp
chu kỳ” nên sau mỗi chu kỳ sản xuất nhất thiết phải có vốn để đáp cho chu kỳ
tiếp theo. Mặt khác, DN luôn cần mở rộng quy mô sản xuất nên đòi hỏi quy mô
vốn ngày càng được tăng lên tương ứng. Với vai trò quan trọng đó đòi hỏi doanh
nghiệp luôn phảit quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ,đó cũng là
mục tiêu cần đạt tới của các nhà quản lý vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Ba là :Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay nhu cầu về vốn kinh
doanh lớn xong nguồn tài trợ có hạn. Do vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn ngày càng trở nên bức thiết đòi hỏi các nhà quản lý huy động vốn tốt ,sử
dụng vốn một cách có hiệu quả đảm bảo đồng vốn có khả năng sinh lời ,không
ngừng tích luỹ cho doanh nghiệp.
Bốn là : Xuất phát từ thực trạng nền kinh tế nước ta, tình hình kinh doanh
kém hiệu quả diễn ra phổ biến. Tư tưởng ấu trĩ lạc hậu, chậm đổi mới còn tồn tại
trong một số nhà quản lý, việc thích nghi với cơ chế khắt khe của thị trường còn
lúng túng trì trệ thậm chí phá sản. Sau mỗi chu kỳ kinh doanh vốn không được
bảo toàn đẫn đến thua lỗ. Vì vậy, để nhanh tróng thích nghi với cơ chế mới
,nhanh chóng theo kịp tốc độ phát triển của nền kinh tế thế giới hiện nay thì cần
12
LuËn v¨n tèt nghiÖp
khắc phục tình trạng yếu kém, trì trệ, cần quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả sử
dụng vốn.
2.2.2. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là với một số vốn nhất định nhưng doanh
nghiệp tạo ra được nhiều doanh thu hơn và nhiều lợi nhuận hơn hoặc đầu tư
trang bị thêm cơ sở vật chất để mở rộng kinh doanh tăng doanh thu, hạ giá thành
tăng lợi nhuận.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn biểu hiện trên hai mặt là nâng cao hiệu
quả sử dụng VCĐ và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ.
+Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định có nghĩa là:

2.3.1 Nhóm phản ánh về cơ cấu tài chính cuả doanh nghiệp .
+ Hệ số nợ :là chỉ tiêu tài chính phản ánh trong một đồng vốn hiện nay
doanh nghiệp đang sử dụng thì có bao nhiêu đồng vay nợ .
Nợ phải trả
Hệ số nợ =
Tổng nguồn vốn
+ Tỷ suất tự tài trợ :là một chỉ tiêu tài chính đo lường sự góp vốn của chủ
sở hữu trong tổng số vốn hiện có của doanh nghiệp .
Nguồn vốn CSH
Tỷ suất tự tài trợ =
Tổng nguồn vốn
14
LuËn v¨n tèt nghiÖp
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ.
Để tiến hành kiểm tra tài chính đối với hiệu quả sử dụng VCĐ thường sử
dụng một số chỉ tiêu sau:
* Nhóm chỉ tiêu tổng hợp:
+ Hiệu quả sử dụng vốn cố định .chỉ tiêu này phản ánh một đồng VCĐ có
thể tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần.
Doanh thu (DTT)
Hiệu suất sử dụng VCĐ =
VCĐ bình quân trong kỳ

VCĐ
đk
+VCĐ
ck
Trong đó : VCĐ bình quân trong kỳ =
2
+ Hàm lượng VCĐ. Phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu hoặc doanh

+ Hàm lượng VLĐ. Phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thì cần phải có
bao nhiêu đồng VLĐ.
`Số VLĐ bình quân trong kỳ
Hàm lượng VLĐ =
Doanh thu (hoặc doanh thu thuần)
+ Tỷ suất lợi nhuận VLĐ. Phản ánh một đồng VLĐ trong kỳ có thể tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập).
16
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế thu nhập)
Tỷ suất lợi nhuận VLĐ =
`Số VLĐ bình quân trong kỳ
2.3.4 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn SXKD.
+ Tỷ suất doanh lợi tổng vốn . Phản ánh một đồng vốn sản xuất bình quân
trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận .
Lợi nhuận thuần
Tỷ suất doanh lợi tổng vốn =
Vốn sản xuất bình quân
+ Vòng quay toàn bộ vốn . Phản ánh trong kỳ vốn sản xuất kinh doanh của
DN quay được bao nhiêu vòng.
Doanh thu thuần
Vòng quay toàn bộ vốn =
Vốn sản xuất bình quân
+ Tỷ suất lợi nhuân vốn CSH. Phản ánh một đồng vốn CSH tạo ra được
bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần.
Tỷ suất lợi nhuân vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận thuần =
Vốn CSH bình quân
Trên đây là một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VKD. Thông qua
phân tích, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ bằng các chỉ

thiếu vốn cho SXKD làm ảnh hưởng không tốt đến quá trình hoạt động kinh
doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
+ Việc lựa chọn phương án đầu tư cũng là mọt nhân tố cơ bản ảnh hưởng
rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn SXKD của DN. Nếu như doanh nghiệp sản
xuất ra các sản phẩm lao vụ dịch vụ chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá thành hạ
được thị trrường chấp nhận thì hiệu quả thu được sẽ rất lớn. Còn nếu sản phẩm
hàng hoá doanh nghiệp sản xuất ra kém chất lượng, không phù hợp với nhu cầu
của thị hiếu của người tiêu dùng thì dẫn đến sản phẩm sẽ không tiêu thụ được
gây ứ đọng vốn, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
+ Cơ cấu vốn.
Cơ cấu vốn càng hợp lý bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng vốn càng tối đa
hoá bấy nhiêu. Nếu cơ cấu vốn bị chênh lệch sẽ làm mất cân đối giữa TSLĐ và
TSCĐ dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu một loại tài sản nào đó làm hiệu quả sử
dụng vốn giảm.
+ Chi phí sử dụng vốn là nhân tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn
của DN.
Vốn của DN được hình thành từ hai nguồn là nguồn vốn bên trong và
nguồn vốn bên ngoài, khi doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn bên trong (tiền khấu
hao, lợi nhuận để lại, các quỹ ) doanh nghiệp phải chịu một khoản chi phí đó là
chi phhí cơ hội. Nguồn vốn bên ngoài là vốn vay, vốn chiếm dụng lựa chọn và
tìm được nguồn tài trợ thích hợp là nhân tố trực tiếp quyết định đến hiệu quả sử
dụng vốn.
+ Do việc sử dụng lãng phí vốn nhất là VLĐ trong quá trình mua sắm, dự
trữ, mua các loại vật tư không phù hợp với quy trình sản xuất, không đúng tiêu
19
LuËn v¨n tèt nghiÖp
chuẩn kỹ thuật và chất lượng theo quy định, không tận dụng tốt các loại phế liệu
phế phẩm làm tác động không nhỏ đến hiệu quả sử dụng VKD của doanh
nghiệp.
+ Do trình độ quản lý của doanh nghiệp còn yếu kém, hoạt động sản xuất

trường, từ đó tăng giá trị của đồng vốn tương đương với giá trị của hàng hoá
đánh giá lại tại thời điểm hiện tại. Nếu doanh nghiệp không đánh giá lại tài sản,
vật tư hàng hoá mà bán giá cao hơn so với giá trị sổ sách thì lợi nhuận của doanh
nghiệp sẽ tăng nhưng vốn của doanh nghiệp không tăng tương ứng với giá trị của
tài sản tại thời điểm hiện tại. Do đó doanh nghiệp phải ưu tiên giành phần nhiều
lợi nhuận sau thuế để bổ sung vào VKD để bảo toàn năng lực vốn.
 Đối với VCĐ thì lựa chọn hình thức khâú hao cho phù hợp có nghĩa là
mức trích khấu hao trong giá thành sản phẩm phía tương đương với mức độ hao
mòn thực tế của tài sản thì mới thu hồi và bảo toàn được vốn đầu tư tài sản. Nếu
mức trích khấu hao thấp hơn hao mòn thực tế của tài sản thì doanh nghiệp sẽ “ăn
dần vào vốn”. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển doanh
nghiệp trích khấu hoa nhanh sẽ tránh được hao mòn vô hình của tài sản và thu
hồi vốn nhanh, tuy việc trích khấu hao nhanh cần phải tính đến giá thành sản
phẩm, nếu trích khấu hao quá cao sẽ làm cho giá thành sản phẩm lớn hơn giá bán
thì doanh nghiệp sẽ lỗ ảnh hưởng đến bảo toàn vốn của doanh nghiệp.
Đối với những tài sản không cần dùng hoặc hư hỏng doanh nghiệp cần
phải nhượng bán hoặc thanh lý để thu hồi vốn, chú trọng đổi mới trang thiết bị,
21
LuËn v¨n tèt nghiÖp
công nghệ sản xuất đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản hiện có cả về
thời gian và công suất.
Làm tốt công tác quản lý nâng cao trình độ, ý thức của người sử dụng tài
sản, thường xuyên đại tu bảo dưỡng sửa chữa để tài sản không bị hư hỏng làm
ngưng trệ sản xuất gây thiệt hại cho doanh nghiệp.
 Đối với TSLĐ cần phải tính toán nhu cầu vốn trong các khâu dự trữ
sản xuất, lưu thông cho phù hợp, tạo một cơ cấu vốn cân đối tránh tình trạng vốn
trong khâu này ứ đọng trong khi các khâu khác lại quá nhỏ, không đủ bảo đảm
được tính liên tục của sản xuất.
Đối với các khoản vốn trong thanh toán phải thường xuyên đối chiếu tổng
hợp, phân tích tình hình nợ phải thu, đặc biệt là các khoản nợ quá hạn và khó

Xí nghiệp Quốc Anh là một doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân bỏ vốn
ra thành lập và làm chủ, không có tư cách pháp nhân và chủ doanh nghiệp tư
nhân có toàn quyền định đoạt trong trong việc quản lý doanh nghiệp.
Xí nghiệp Quốc Anh tiền thân lấy tư cách pháp nhân của viện kỹ thuật
quân sự II. Sau đó để phù hợp với xu thế thời đại vào ngày 24/05/1995 được sự
đồng ý của quân uỷ Hai bà trưng, Xí nghiệp Quốc Anh thành lập để sản xuất bao
bì nhựa đóng gói đáp ứng phần nào nhu cầu cho thị trường phía bắc Việt nam
với số đăng ký kinh doanh là 011884.
Trong những năm đầu xí nghiệp sản xuất chủ yếu là bao bì nhựa với màng
một lớp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn hết sức nghèo nàn, từ những công cụ sản
xuất thủ công, máy móc lạc hậu ( máy do TPHCM lắp ráp ), xưởng sản xuất với
căn nhà thuê cấp 4, với 21 cán bộ công nhân viên từ những ngành nghề khác
nhau hợp lại, cả xí nghiệp mới có một người có trình độ đại học. Mặt khác,
nguồn vốn hạn hẹp, ngoài nguồn vốn tự có còn lại là nhờ sự giúp đỡ của bạn bè,
một số rất ít là vay được của thành phố Hà Nội.
24
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Cho đến nay, trải qua 8 năm với sự phấn đấu tự lực cánh sinh đồng thời
được sự ủng hộ giúp đỡ của Quận, Thành phố các khách hàng, bạn bè, xí nghiệp
đã từng bước phát triển và trưởng thành sau 4 lần chuyển nhà xưởng xí nghiệp
đã được sự giúp đỡ của UBND Quận Hai Bà Trưng, thành phố đã có chỉ thị cho
xí nghiệp thuê 3000m
2
đất để xây dựng nhà xưởng. Giờ đây xí nghiệp đã có cơ
sở sản xuất cố định và việc sản xuất kinh doanh đã bắt đầu ổn định, trang thiết bị
đã dần đổi mới bằng nhưng máy móc hiện đại, tự động hoá của Nhật, Hàn Quốc,
Trung Quốc Quy mô của doanh nghiệp cũng dần thay đổi, năm 1995 với số
cán bộ công nhân viên là 21 người, doanh thu khoảng 1620 triệu đồng. Đến năm
2002 với số cán bộ công nhân viên là 123 người vói doanh thu vào khoảng
13583 triệu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status