LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có sự thay đổi nhanh
chóng, các hoạt động kinh tế trên nhiều lĩnh vực phát triển mạnh nhờ vào sự
quản lý điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Đặc biệt, trong lĩnh vực quan hệ đối
ngoại, chúng ta đã có những bước tiến hết sức lạc quan, hàng hoá của ta xuất
khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Điều này góp phần tăng thu nhập ngoại tệ
cho đất nước và thúc đẩy hoạt động nhập khẩu vật tư máy móc thiết bị xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phục vụ
cho tái sản xuất.
Rau, hoa, quả là cây có giá trị cao của nền nông nghiệp Việt Nam, đồng
thời có giá trị với nền văn hoá, xã hội và môi trường sinh thái của đất nước.
Tiềm năng sản xuất rau, hoa, quả là một trong các mảng tài nguyên nông nghiệp
Việt Nam – phát triển rau, hoa, quả là khai thác một nguồn lợi có giá trị của đất
nước và đáp ứng được nhu cầu thiết yếu ngày càng tăng của đời sống nhân dân.
Rau, hoa, quả của nước ta được trồng rất sớm từ mấy ngàn năm nay trong quá
trình phát triển nông nghiêp. Điều kiện tự nhiên cho phép nước ta trồng được
nhiều loại rau quả nhiệt đới, á nhiệt đới và một số rau quả gốc ôn đới, vụ mùa
thu hoạch kế tiếp nhau nhiều tháng trong năm. Việt Nam còn là một trong các
vùng phát triển của các cây ăn quả như: cam, quýt, vải, chuối,… và có nguồn
gen di truyền thực vật phong phú, đa dạng về cây ăn quả, rau, gia vị và hoa…
Thấy được lợi thế của ngành rau quả, trong những năm qua Đảng và Nhà
nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của ngành. Được sự giúp đỡ
và chỉ đạo trực tiếp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng công ty
Rau quả Việt Nam đã phát huy toàn bộ khả năng sản xuất của mình cũng như
hoạt động kinh doanh để không ngừng mở rộng thị trường, thúc đẩy hoạt động
xuất khẩu các sản phẩm rau quả sang nhiều nước trên thế giới và hoàn thành tốt
nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho.
Để khắc phục nhược điểm của nhóm sản phẩm rau quả tươi sống là nhanh
chóng giảm sút chất lượng sau khi thu hoạch, ngành sản xuất rau quả chế biến
1
đã ra đời. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng công tác chế biến cũng đã góp
hạn về nội dung được xác định trong phần I của bài báo cáo thực tập chuyên đề.
Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành tốt các mục tiêu nghiên cứu trên, tôi đã áp dụng hai
phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp nghiên cứu tài liệu, nắm bắt rõ
những cơ sở lý luận, tiền đề của đề tài và phương pháp nghiên cứu trực tiếp tại
hiện trường, thấy được việc áp dụng cơ sở lý luận vào thực tiễn ở Tổng công ty
Rau quả Việt Nam.
3
I. NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC HOẠT
ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY KINH DOANH QUỐC TẾ
1. Tự do hoá thương mại toàn cầu, những thời cơ và thách thức đối
với doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Việt Nam
Trong hai thập kỷ vừa qua, nền kinh tế đã biến đổi rất cơ bản. sự xuất hiện
máy fax, các hệ thống nối mạng máy tính, điện thoại toàn cầu và chương trình
truyền hình qua vệ tinh đi khắp thế giới…, đang ngày càng khẳng định những
ảnh hưởng có tính quyết định, đa dạng của xu hướng toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá
“là hiện tượng đa phương diện áp dụng cho nhiều hình thức hoạt động xã hội đa
dạng như kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, quân sự và công nghệ cũng như
các vấn đề hoạt động xã hội, như môi trường”.
Một trong những nội dung của toàn cầu hoá là vấn đề tự do hoá thương
mại với nhịp độ lớn hơn nhiều so với sản xuất hàng hoá, tăng thêm mức độ phụ
thuộc của các nền kinh tế quốc gia đối với thương mại quốc tế trong hoạt động
kinh tế nói chung. Quan hệ thương mại diễn ra rộng khắp các quốc gia trên toàn
cầu: hàng loạt các liên minh, các tổ chức kinh tế lớn nhỏ được thành lập như:
AFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN), NAFTA (khu vực mậu dịch tự do Bắc
Mỹ), EU (liên minh châu Âu), APEC (hội nghị hợp tác kinh tế Thái Bình
Dương), WTO (tổ chức thương mại thế giới), đặc biệt là sự xuất hiện đồng
EURO đầu năm 1999, đồng tiền chung của các nước châu Âu.
Như vậy, trong những điều kiện khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ
vào sự phân công và hợp tác quốc tế, sẽ mở rộng thị trường nước ngoài, đẩy
mạnh sản xuất các mặt hàng của Việt Nam có lợi thế so sánh và nâng cao lợi thế
cạnh tranh các sản phẩm của thị trường trên thế giới.
Những thách thức
Bên cạnh những thời cơ, những thách thức đối với doanh nghiệp kinh
doanh quốc tế Việt Nam là một bài toán đang cần được giải đáp.
- Việt Nam chỉ mới bắt đầu tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, do vậy
nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và thế giới rất dễ xảy ra. Hiện
nay năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất thấp trên đấu
trường quốc tế, bởi các nhân tố ảnh hưởng: chất lượng sản phẩm còn hạn chế,
5
giá thành sản phẩm cao, trình độ cán bộ không đồng đều, việc áp dụng công
nghệ vào sản xuất còn mới mẻ…
- Quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế còn đang tiến hành trong yêu cầu
hội nhập gay gắt, làm cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, cũng như gây ảnh
hưởng lớn đối với các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Việt Nam.
- Lợi thế về con người (giá nhân công rẻ, tỷ lệ biết chữ cao) có khả năng
nhanh chóng mất đi do việc đầu tư chưa ngang tầm đòi hỏi.
Tóm lại, tự do hoá thương mại toàn cầu có những ưu điểm được công
nhận rõ ràng, nhưng cũng tồn tại những yếu điểm nhất định. Chính bởi vậy, đòi
hỏi những doanh nghiệp kinh doanh quốc tế của các nước đang phát triển như
Việt Nam cần đánh giá các mặt hàng của mình một cách phù hợp, tận dụng tốt
các thời cơ và nhanh chóng tìm ra hướng giải quyết những khó khăn khi tham
gia vào nền kinh tế toàn cầu.
Những nhiệm vụ đổi mới của công ty kinh doanh quốc tế nước ta trong
thời gian hiện nay
Trong cơ chế mới, các công ty phải hoàn toàn độc lập hoạt động theo định
hướng chung của Nhà nước, phải tự tìm thị trường, bạn hàng tự hạch toán, lỗ
phải chịu, nếu thua lỗ nhiều thì buộc phải giải thể. Các công ty kinh doanh quốc
tế đang đứng trước thách thức lớn, muốn tồn tại và phát triển cần đổi mới cách
khẩu của công ty kinh doanh quốc tế
2.1. Khái niệm, bản chất và những đặc trưng cơ bản của Marketing
xuất khẩu
Khái niệm Marketing xuất khẩu
Hiện nay, một trong những vấn đề về quan điểm được tranh luận dai dẳng
trong Marketing là định nghĩa của nó. Thật vậy, đã có rất nhiều định nghĩa
Marketing khác nhau.
- Theo Philip Kotler: Marketing là hoạt động của con người hướng tới sự
thoả mãn nhu cầu và ước muốn thông qua các tiến trình trao đổi.
- Theo hiệp hội Marketing Mỹ: Marketing là quá trình lập kế hoạch và
thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mại và phân phối hàng hoá, dịch vụ và
ý tưởng để tạo ra sự trao đổi với các nhóm mục tiêu, thoả mãn các mục tiêu của
7
khách hàng và tổ chức.
- Các nhà làm công tác Marketing ở Việt Nam đã đúc kết và đưa ra được
định nghĩa Marketing phù hợp, đầy đủ và sát thực cho mình như sau:
+ Marketing là chức năng quản lý công ty về tổ chức và quản lý toàn bộ
hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện ra nhu cầu và biến sức mua của người
tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về moat loại hàng cụ thể đến việc đưa hàng hoá
đó đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được
lợi nhuận cao nhất. Xuất phát từ khái niệm này các nhà làm Marketing ở Việt
Nam đưa ra định nghĩa về Marketing xuất khẩu như sau:
Marketing xuất khẩu là việc thực hiện các hoạt động kinh doanh định
hướng dòng vận động hàng hoá và dịch vụ của các công ty tới người tiêu dùng
hoặc sử dụng ở nhiều quốc gia nhằm thu lợi nhuận cho công ty.
- Bản chất của Marketing xuất khẩu: Marketing xuất khẩu thực chất chỉ là
sự vận dụng những nguyên lý, nguyên tắc, các phương pháp và kỹ thuật tiến
hành của Marketing nói chung trong điều kiện của thị trường nước ngoài. Sự
khác biệt của Marketing xuất khẩu và Marketing nói chung chỉ ở chỗ là hàng
hoá và dịch vụ được tiêu thụ không phải trên thị trường nội địa mà là ở thị
không thể sống sót được. Nếu muốn thành công trên thị trường toàn cầu cạnh
tranh ngày càng gay gắt thì họ phải thực hiện công việc của mình một cách tuyệt
hảo. Và Marketing là chức năng của công ty, có nhiệm vụ xác định khách hàng
mục tiêu cũng như cách tốt nhất để thỏa mãn những nhu cầu mong muốn của họ
9
Nghiên cứu Marketing xuất khẩu
Lựa chọn thị trường xuất khẩu
Xác định hình thức xuất khẩu
Vận hành và kiểm tra các nỗ lực Marketing xuất khẩu
Xác lập các yếu tố Marketing xuất khẩu
hơn đối thủ cạnh tranh, và có lời. Sự quan tâm đến Marketing đang ngày càng
tăng lên, khi mà ngày càng nhiều tổ chức trong khu vực kinh doanh. Khu vực
phi lợi nhuận và khu vực quốc tế nhận rõ đóng góp của Marketing vào việc nâng
cao kết quả hoạt động trên thị trường. Đặc biệt đối với các công ty kinh doanh
quốc tế, Marketing xuất khẩu đã trở thành hoạt động không thể thiếu được để
công ty ngày càng khẳng định được mình trên trường quốc tế.
2.2. Nghiên cứu Marketing xuất khẩu và phân tích khả năng xuất khẩu
của công ty kinh doanh quốc tế
Nghiên cứu Marketing xuất khẩu
Một khi công ty đã quyết định mục tiêu là một nước cụ thể nào đó thì nó
phải xác định cách xâm nhập tốt nhất. Xuất khẩu là phương thức đầu tiên và phổ
biến nhất để xâm nhập thị trường quốc tế. Đây là một hoạt động rất cơ bản của
hoạt động kinh tế đối ngoại, là việc bán hàng hóa và dịch vụ ra thị trường nước
ngoài, với mục tiêu:
- Hưởng lợi nhuận từ việc bán hàng hóa và dịch vụ nước ngoài với giá
cao hơn giá trong nước.
- Hưởng một khoản lợi nhận từ việc chênh lệch tỷ giá khi chuyển đổi qua
lại giữa các đồng tiền.
Như vậy, nghiên cứu Marketing xuất khẩu là nội dung cơ bản trước nhất
của tổ chức hoạt động Marketing xuất khẩu, góp phần quan trọng vào sự thành
- Nghiên cứu các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế
+ Mức độ phát triển thị trường: được đánh giá thông qua trình độ phát
triển công nghiệp: Xác định tổng thu nhập quốc nội, thu nhập bình quân, cơ cấu
kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu chỉ tiêu và đầu tư, cơ cấu xuất nhập
khẩu, dự trữ ngoại tệ, giá trị và sự ổn định của đồng tiên, khả năng thanh toán
quốc tế. Ngoài ra, mức độ phát triển thị trường còn việc đánh giá qua việc xác
định động thái của nền kinh tế như mức độ ổn định, chu kỳ kinh tế.
+ Mức độ tham gia các liên kết kinh tế.
- Nghiên cứu các yếu tố thuộc môi trường chính trị – pháp luật
+ Xem xét thái độ của chính phủ, của các nhà kinh doanh nước ngoài đối
với các nhà kinh doanh của nước nhà.
11
+ Sự ổn định về chính sách của chính phủ, sự điều tiết về tiền tệ và tính
hiệu lực của bộ máy chính quyền (hệ thống hải quan, tệ quan liêu, tham
nhũng…)
- Nghiên cứu các yếu tố thuộc môi trường văn hoá
Việc nghiên cứu nhằm thấy được sự tương đồng và khác biệt văn hoá giữa
các quốc gia, trên cơ sở đó để lựa chọn thị trường xuất khẩu, hoạch định thực thi
các chiến lược Marketing, là cơ sở thiết kế bao bì, nhãn mác. Đó là việc nghiên
cứu về ngôn ngữ; tôn giáo; giá trị đạo đức; những điều tôn thờ, cấm kỵ; sự quan
tâm của xã hội.
- Nghiên cứu các yếu tố thuộc môi trường cạnh tranh.
Để lựa chọn được môi trường xâm nhập, xác lập các biện pháp cạnh
tranh, việc nghiên cứu để được đề cập bao gồm:
+ Xác định các loại cạnh tranh theo ngành hàng và sản phẩm
+ Xác định các đối thủ cạnh tranh.
+ Xác định các chiến lược và phản ứng cạnh tranh của họ.
- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và điều kiện vận tải
Việc nghiên cứu này không những để chọn thị trường xâm nhập mà còn
là cơ sở xác lập Marketing hỗn hợp ở thị trường nước ngoài. Hoạt động nghiên
lý quảng cáo của các quốc gia.
+ Các quy định luật pháp.
- Dự báo doanh số bán của công ty nước ngoài.
* Phương pháp nghiên cứu Marketing xuất khẩu.
- Việc nghiên cứu Marketing xuất khẩu là hết sức quan trọng đối với
doanh nghiệp kinh doanh quốc tế,do vậy việc lựa chọn các phương pháp nghiên
cứu thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh của công ty là cần thiết:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thường được áp dụng đối với các công
ty bị hạn chế về nguồn tài chính. Các hoạt động nghiên cứu được thông qua việc
thu thập tài liệu , dữ liệu(có thể là sơ cấp hoạc là thứ cấp) từ nhiều nguồn khác
nhau như:cục xúc tiến thương mại, các tổ chức, đại sứ quán ở nước ngoài hay
chính từ các đối thủ cạnh tranh của công ty ở trong nước.
Hạn chế của phương pháp này là các công ty có thể không nắm bắt được
13
những thay đổi của thị trường ở nước ngoài một cách kịp thời. Đó là do họ
không có mối quan hệ trực tiếp, bên cạnh đó là nhiều tài liệu nhiều khi không có
độ chính xác cần thiết.
+ Phương pháp nghiên cứu trực tiếp ở thị trường nước ngoài: là việc kinh
doanh quốc tế cử nhân viên ra trực tiếp ra nước ngoài nghiên cứu, tìm hiểu đặc
điểm ở thị trường nước ngoài. Như vậy, phương pháp này đã khắc phục được
những hạn chế của phương pháp nghiên cứu tài liệu, có nghĩa là công ty có khả
năng bắt kịp những biến động thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên phương pháp này
đòi hỏi chi phí lớn, nên chỉ được áp dụng đối với các công ty có nguồn tài chính
dồi dào.
Tóm lại, nghiên cứu Marketing xuất khẩu là hoạt động đầu tiên trong tổ
chức hoạt động Marketing xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế. Nó vô
cùng quan trọng khi các công ty mở rộng thị trường ra nước ngoài, họ cần
những số liệu tin cậy để làm cơ sở cho những quyết định và kế hoạch Marketing.
Họ cần biết quy mô tiềm ẩn của một thị trường nước ngoài, thái độ và sở thích
của người mua, những đặc điểm của các kênh phân phối và những thông tin
chức này, nó sẽ có tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của công ty.
2.3. Lựa chọn thị trường xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế
Lựa chọn thị trường xuất khẩu là quá trình phân tích đánh giá và xác định
các thị trường hấp dẫn nhất mà công ty sẽ xâm nhập, phù hợp với mục tiêu chiến
lược và các nguồn lực của công ty. Như vậy, căn cứ để lựa chọn thị trường xuất
khẩu của công ty kinh doanh quốc tế sẽ là:
- Căn cứ kết quả nghiên cứu Marketing và đánh giá thời cơ xâm nhập thị
trường, chính là mức độ hấp dẫn của các thị trường nước ngoài.
- Căn cứ vào kết quả nghiên cứu Marketing mục tiêu, chiến lược, nguồn
lực của công ty.
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Nhóm tiêu chuẩn chung: Đó là những tiêu chuẩn về :
+ Chính trị:
Thể chế chính trị của quốc gia đó có lợi nhuận hay bất lợi cho hoạt động
xuất khẩu của công ty.
15
Sự ổn định hay bất ổn định của quốc gia đó.
Quan hệ giữa chính phủ nước nhà và chính phủ của các quốc gia nhập
khẩu.
Hiệu lực của bộ máy hành pháp.
+ Điều kiện tự nhiên:
Khoảng cách từ quốc gia mình đến các quốc gia nhập khẩu.
Điều kiện giao thông vận tải, khí hậu địa hình.
+ Dân số:
Phân bố dân số theo độ tuổi.
Phân bố dân số theo lãnh thổ.
+ Kinh tế: Xem xét GNP, tốc độ tăng trưởng.
+ Sự phát triển: Khoa học kỹ thuật, công nghệ và khả năng ứng dụng.
- Nhóm tiêu chuẩn về quy chế tiền tệ:
+ Các hàng rào bảo hộ mậu dịch:Thuế nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu,
+ Phương pháp thu hẹp: là phương pháp lựa chọn thị trường xuất khẩu
trên cơ sở phân tích, đánh giá, so sánh các thị trường nước ngoài để thấy được
mức độ hấp dẫn của chúng, từ đó thấy được thị trường xâm nhập. Phương pháp
này được tiến hành một cách có hệ thống hơn và đảm bảo không bỏ xót mọi thời
cơ hội thị trường của công ty.
2.4. Lựa chọn các hình thức xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế
Như đã đề cập trên đây, xuất khẩu là phương thức đầu tiên và phổ biến
nhất để xâm nhập thị trường quốc tế. Thông thường, phương thức xâm nhập này
có 3 dạng chủ yếu:xuất khẩu gián tiếp, hợp tác xuất khẩu, và xuất khẩu trực tiếp.
* Xuất khẩu gián tiếp.
xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu, trong đó công ty kinh doanh
quốc tế thông qua một công ty ở trong nước hoặc chi nhánh của công ty thương
mại quốc tế để bán sản phẩm cho khách ở thị trường nước ngoài.
Khi xuất khẩu theo hình thức này,công ty không gặp phải rủi ro đối với
hoạt động xuất khẩu và không phải mất nhiều thời gian cho nó. Như vậy,xuất
khẩu này thường phù hợp với các công ty mà mục tiêu mở rộng thị trường nước
ngoài hạn chế. Bên cạnh đó nó còn những lợi thế như:đòi hỏi ít vốn đầu tư, công
17
ty không phải tổ chức một phòng xuất khẩu, một lực lượng bán hàng ở hải
ngoại, hoặc một loạt các các cuộc tiếp xúc với nước ngoài, tốc độ chu chuyển
vốn nhanh.
Tuy nhiên xuất khẩu gián tiếp có nhược điểm là không nắm bắt được nhu
cầu thị hiếu và sự thay đổi của chúng ở thị trường nước ngoài do đó công ty
không làm sản phẩm thích ứng với sự thay đổi đó;không thiết lập và củng cố
được uy tín với khách hàng; phụ thuộc vào trung gian; chỉ hiệu quả trong các
trường hợp :
Thứ nhất: khi công ty xuất khẩu với mục tiêu tiêu thụ các sản phẩm dư
thừa hoặc phát huy hết công xuất của công ty.
Thứ hai: quy mô lô hàng nhỏ.
Thứ ba: nghuồn lực hạn chế (đặc biệt là nhân sự và tài chính).
Nắm bắt được những thay đổi thị trường, thị hiếu, nhu cầu để thích ứng
các hoạt động Marketing.
Tăng cường quan hệ với khách hàng nước ngoài, nâng cao uy tín với thị
trường nước ngoài.
Không phụ thuộc vào trung gian.
Hiệu quả xuất khẩu cao, thu được ngoại tệ mạnh.
Mặc dù vậy, xuất khẩu trực tiếp đòi hỏi đầu tư nguồn lực lớn mà không
phải công ty kinh doanh quốc tế nào cũng đáp ứng được. Bên cạnh đó là sự phụ
thuộc vào thị trường nước ngoài, rủi ro lớn và tốc độ chu chuyển vốn chậm.
Tóm lại, tuỳ từng đặc điểm và khả năng của từng công ty mà họ lựa chọn
hình thức xuất khẩu phù hợp, đem lại hiệu quả kinh doanh tối ưu nhất cho công
ty.
3. Xác lập triển khai Marketing sản phẩm xuất khẩu
3.1. Khái niệm và cấu trúc sản phẩm trên thị trường quốc tế
Sản phẩm là bất cứ cái gì có thể được cung ứng, chào hàng cho một thị
trường nhất định để tạo ra sự chú ý, mua và sử dụng chúng nhằm thoả mãn một
nhu cầu hoặc mong muốn nào đó.
Trên thị trường quốc tế, sản phẩm được hiểu là bất cứ thứ gì mà công ty
kinh doanh chào bán để thoả mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng nước
19
ngoài. Việc nghiên cứu sản phẩm trên thị trường quốc tế chủ yếu là:
- Thành phần cơ bản của hàng hoá: phản ánh giá trị sử dụng của hàng hoá
gồm có sản phẩm cụ thể, các đặc tính sản phẩm và thiết kế, các đặc tính chức
năng và sự cho phép của luật pháp.
- Bao bì đóng gói: ngoài chức năng bảo vệ, bảo quản hàng hoá còn có
chức năng khuyếch trương thành phần cơ bản của sản phẩm và chức năng cung
cấp thông tin (thành phần cấu tạo, nơi sản xuất…). Do đó, công ty phải xem xét
đến sở thích của khách hàng để thiết kế bao bì, hình dáng, kích thước phù hợp.
Bên cạnh đó là trang trí bao bì, nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, các
thông tin bao bì dảm bảo đúng quy định của pháp luật.
có giới hạn dựa trên sản phẩm nòng cốt (hạt nhân) tiêu chuẩn hoá.
+ Dịch vụ được đề cập ở đây là Marketing dịch vụ quốc tế chứ không phải
là các dịch vụ bổ trợ. Hầu hết các dịch vụ có đặc tính là vô hình và dễ hang, việc
bán dịch vụ thường bao hàm sản xuất, trao đổi và tiêu dùng cùng một lúc. Điều
này dẫn đến nhu cầu về việc tiếp xúc mặt đối mặt trực tiếp hơn, người bán và
người mua ở cùng một địa điểm khi thực hiện giao dịch dịch vụ.
+ Sản phẩm theo sau gồm việc sử dụng nhưng không được uỷ quyền các
hình dạng khác nhau của tài sản công nghiệp và trí tuệ như bằng sáng chế, thiết
kế sản phẩm và nhãn hiệu thương mại. Để chống lại làm giả sản phẩm, công ty
có thể quyết định phát triển sản phẩm, tức là thực hiện một bước trước những
người giả mạo hoặc chiến lược cộng tác như liên doanh, cấp giấy phép.
Như vậy, sự bùng nổ kinh tế toàn cầu đã đòi hỏi các công ty kinh doanh
của các quốc gia phải có sự phát triển để hướng tới xu hướng toàn cầu hoá.
Chính vì vậy mà bất kỳ một công ty nào cũng muốn sản phẩm của công ty mình
được bán trên khắp thế giới. Để làm được điều đó thì Marketing xuất khẩu đang
trở thành một yếu tố cực kỳ quan trọng của các quốc gia, sản phẩm quốc tế đang
có xu hướng là chu kỳ sống của nó ngày càng ngắn đi và toàn cầu hoá các sản
phẩm này đang trở nên phổ biến. Bên cạnh đó thì chất lượng sản phẩm hàng hoá
quốc tế đang được kiểm tratheo ISO do đó một công ty kinh doanh quốc tế
muốn thành công trên thị trường thế giới thì bên cạnh chất lượng sản phẩm phải
tốt, việc đánh giá phân phối và xúc tiến bán cũng vô cùng quan trọng.
21
Trong kinh doanh nội địa, do thị trường hạn chế và môi trường hoạt động
quen thuộc cho nên công ty sẽ ít gặp khó khăn trong việc sử dụng phối thức
Marketing, nhưng khi đã sử dụng Marketing xuất khẩu để bán sản phẩm sang thị
trường nước ngoài rộng lớn, môi trường hoạt động chưa quen nên công ty sẽ vấp
phải không ít khó khăn. Vì vậy, các công ty kinh doanh quốc tế phải làm sao cho
sản phẩm của mình đứng vững được trên thị trường quốc tế và chiến thắng đối
thủ cạnh tranh.
II. TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY
đồng Bộ Trưởng, Tổng công ty một mặt đã chuyển hoạt động của các đơn vị
trực thuộc sang hạch toán kinh doanh Xã Hội Chủ Nghĩa, mặt khác chủ động
xắp xếp lại tổ chức hoạt động của toàn bộ Tổng công ty.
Đây là thời kỳ mà các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế bao cấp. Về
sản xuất kinh doanh của Tổng công ty nằm trong quỹ đạo của chương trình hợp
tác rau quả Việt Xô (1986 - 1990). Do vậy kinh ngạch xuất nhập khẩu của Tổng
công ty chiếm tỷ trọng lớn. Chẳng hạn như xuất nhập khẩu rau quả tươi và chế
biến sang thị trường Liên Xô chiếm 97,7% kim ngạch xuất nhập khẩu và ngược
lại 26,52% số vật tư thời kỳ này được nhập từ Liên Xô để phục vụ chương trình
hợp tác Việt Xô.
* Giai đoạn 1991 – 1995.
Thực hiện Quyết định 315 –HĐBT ngày 01 tháng 09 năm 1990 và Nghị
định 388 –HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991 của Hội đòng Bộ Trưởng,Tổng
công ty đã tiến hành rà soát lại các đơn vị, làm thủ tục thành lập cho các đơn vị
đủ điều kiện, bước đầu thực hiện liên doanh với nước ngoài. Thực hiện Quyết
định 329 – TTg ngày 27 tháng 5 năm 1995 của Thủ Tướng Chính Phủ, Tổng
công ty đã nghiêm túc bàn giao các nông trường về cho địa phương quản lý,
đồng thời xây dựng phương án thành lập lại Tổng công ty theo mô hình
‘‘TCT90’’.
Trong giai đoạn này cả nước bước vào hoạt động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước. Mặc dù chương trình hợp tác Việt Xô không còn
nữa nhưng Tổng công ty vẫn cố gắng duy trì sản xuất để tiếp tục phát triển.
Nhưng do ảnh hưởng của tình hình chung nên tổng sản lượng của Tổng công ty
23
giảm. Tuy vậy cũng phải thừa nhận rằng nhờ có sự thay đổi trong phương hướng
hoạt động làm cho Tổng công ty đã đưa những vật tư thiết bị cần thiết chứ
không nhập khẩu như trước kia. Đến cuối năm 199. khib bắt đầu đi vào hoạt
động theo mô hình mới, Tổng công ty còn 26 đơn vị thành viên (gồm 24 doanh
nghiệp và 2 đơn vị sự nghiệp), có 2 đơn vị liên doanh với nước ngoài.
* Giai đoạn 1996 –2000.
chính.
- Các cây ăn quả hỗn hợp.
+ Tổ chức cung cấp giống tốt.
+ Khuyến cáo sản xuất thành các vùng chuyên canh.
+ Tổng công ty chịu trách nhiệm ký hợp đồng tiêu thụ .
- Cây ăn quả để chế biến :
+ Tổ chức cung cấp giống tốt.
+ Xây dựng thành các vùng nguyên liệu .
+ Tổng công ty đưa nhà máy đến chế biến tại chỗ.
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu:
+ Sản xuất giống rau quả, các nông sản khác, chăn nuôi gia súc.
+ Dịch vụ trồng trọt, chăn nuôi và trồng rừng.
+ Chế biến rau quả, thịt, thuỷ sản, đồ uống (nước quả có hoặc không ga )
+ Sản xuất bao bì
+ Bán buôn, bán lẻ, bán đại lý giống rau quả, rau quả thực phẩm, đồ uống,
máy móc thiết bị, phụ tùng chuyên dùng, nguyên nhiên vật liệu, hoá chất, hàng
tiêu dùng
+ Dịch vụ tư vấn đầu tư phát triển ngành rau hoa quả
+ Sản xuất chế tạo các sản phẩm cơ khí, thiết bị phụ tùng, máy móc phục
vụ chuyên ngành rau quả và gia dụng
- Xuất khẩu trực tiếp: rau quả tươi, rau quả chế biến, hoa và cây cảnh, gia
vị, giống rau quả, nông lâm hải sản, thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ và hàng
hoá tiêu dùng.
- Nhập khẩu trực tiếp: rau hoá quả, giống rau hoa quả, thực phẩm, máy
móc, vật tư, thiết bị phương tiện vận tải, nguyên nhiên vật liệu.
25